QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

SƯU TẦM

BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ngô Văn Ban

CÁC TRẠM DỊCH TRONG TỈNH KHÁNH HÒA

TỪ BẮC ĐẾN NAM

(kỳ 2)

TRẠM HÒA MỸ : Theo ĐNNTC-KH, “ Ở thôn Mỹ Hiệp, huyện Tân Định (trước thuộc xã Ninh Hiệp, nay thuộc thị trấn huyện Ninh Hòa), nay dời đến thôn Vĩnh Phú (cũng thuộc xã Ninh Hiệp), phía nam đến trạm HÒA CÁT 34 dặm, (khoảng hơn 14km) “ . Theo HVNTDĐC, trạm có 17 suất. Đi khoảng 362m đến cầu Ngòi Lấm, cầu dài hơn 5m, thuộc xã Mỹ Hoa (nay thuộc xã Ninh Hưng, huyện Ninh Hòa), nước trong nhưng nhiều bùn và mặn, chảy ra cửa biển Nha Tù (Nha Phu). Đường ven ruộng, đi 767m đến đường rừng Bến Buôn, thuộc xã Mỹ Hoa, phía Tây đường có sông, tục gọi truông Bến Buôn, phía đông là núi, tục gọi là Núi Lăng, đường nhiều đá sỏi. Đi 358m đến cầu Bến Buôn, cầu dài 42m, phía Bắc cầu là xã Mỹ Hoa, phía Nam cầu thuộc xã Mỹ An Tây (nay thôn Mỹ Lợi, xã Ninh Lộc, huyện Ninh Hòa). Xưa đầu cầu có chợ, thuyền bè buôn bán tấp nập, sông Bến Buôn chảy ra cửa biển Nha Tù. Đi 230m đến cầu Ngòi Dịch, cầu dài 26m, thuộc xã Mỹ An Tây, sông xuôi xuống thông ra sông Bến Buôn. Đi 767m, đường đi, phía đông đất khô và rạch ngòi chằng chịt, phía Tây là đất cát, đất ruộng, rồi đến điếm cũ Gò Bông, thuộc xã An Thạnh Tây (nay là thôn Ninh Đức, nhập với thôn Phong Thạnh thành thôn Thạnh Đức, xã Ninh Lộc, huyện Ninh Hòa), tục gọi là Quán Suối Trâm. Trước có lập điếm xá, nay không còn. Đường có nhiều cọp beo, đi thẳng ra bến đò, đến xứ Quán Cát. Phía tây có 2 nhánh đường : Nhánh đi đến tổng Đồng Nô phủ Diên Khánh, tục gọi là đường đèo Nhà Thờ, đường có nhiều cọp beo, voi rừng nên chẳng ai dám đi và nhánh đi đến đèo Lũy Đá, đường có nhiều người đi lại. Đi hơn 2km, đường đi ven ruộng, cát, ngòi rạch, cây cối xen nhau, đến xứ Bành Thạch, thuộc xã An Thạnh Tây, tục gọi là đồng Đá Trắng. Đi 639m, đến đèo Lũy Đá. Đèo dài 365m, phía bắc thuộc xã An Thạnh Tây, phía nam thuộc xã Phú Lộc (nay là thôn Phú Hữu, thuộc xã Ninh Ích, huyện Ninh Hòa). Xưa, người dân tộc lợi dụng thế núi gần biển mà đắp lũy bằng đá vững chắc nên gọi tên đèo Lũy Đá. Đường đi gập ghềnh, cây cối rậm rạp, nhiều cọp beo. Đi 375m, đến cầu xã Phú Lộc, cầu dài hơn 65m, nước chảy ra cửa biển Nha Tù. Đi gần 1km, đường đi là đồi cát, có nhiều cọp, đến cầu Lỗ Voi, cầu dài 28m, tên sông là sông Lỗ Voi, đầu nguồn sông này vào thời Chúa Nguyễn có rào bẫy để bắt voi rừng, đi lên phía trên hơn 2km thì đến núi Lỗ Voi, xuôi xuống hơn 1km là cửa biển Nha Tù. Đường đi tiếp dài gần 4km, ven rừng, ruộng, có nhiều cọp, đến điếm Quán Dổi, ở vùng bờ bãi thôn Hoa Diêm (nay là thôn Ngọc Diêm, xã Ninh Ích, huyện Ninh Hòa) có nhiều cây dổi, khách nghỉ chân. Đi 365m, đến be Quán Dổi, be rộng 283m, tục gọi là đìa Quán Dổi, rộng hơn 280m, giữa đìa có con đường ngang rộng hơn 2m. Đường đi dài 2,6km, gần chân núi nên có nhiều cọp, đến điếm Quán Cát. Ở đây có quán hàng, khách nghỉ chân. Đi 112m, đến Quán cư  Quán Cát là nhà nghỉ dọc đường, lập từ năm 1800 cho quan quân qua lại nghỉ ngơi trên đường đi công cán. Đi khoảng hơn 170m là đến TRẠM HÒA CÁT.

TRẠM HÒA CÁT : Theo ĐNNTC-KH, : “ Ở thôn Cát Lợi, huyện Tân Định (nay thuộc xã Vĩnh Lương, Thành phố Nha Trang), phía nam đến trạm HÒA THẠNH 31 đặm (khoảng 13km), lại từ đó vào phía nam đến trạm NHA TRANG 35 dặm (khoảng gần 15km) “. Theo HVNTDĐC, trạm có 17 suất. Đi 174m đến Cây Mía, đi 128m đến bãi biển, rồi đi 548m đến dốc Cây Gạo, hai bên đường đều là tre rậm rạp, tắc nghẽn lối đi, có nhiều thú dữ, trên đường mọc nhiều cây bông trắng lăn tăn phủ kín cả đồi nên mới có tên là dốc Cây Gạo. Đi 822m đến quán cũ Cây Sung, vùng bờ bãi thuộc thôn Bãi Lương (nay là thôn Lương Sơn, xã Vĩnh Lương, Thành phố Nha Trang), thường có thú dữ, rồi đi 334m đến Quán Dù, xưa có dựng cây dù ở đây để kiểm tra thuế khóa, sau bãi bỏ. Đường đi tiếp 530m đều là rừng cỏ tranh, cây cối xen nhau, nhiều cọp. Đi hơn 1,2km, đường sỏi đá gập ghềnh, hai bên rừng nhiều cọp dữ, tục gọi là đèo Tổng Nô. Rồi đi 55m đến dốc Cây Me, đường trên sườn núi cao, hai bên rừng cây, nhiều cọp dữ. Sau đó là đường đi bằng phẳng, hai bên là rừng có nhiều cọp kéo dài 365m. Đi 384m đến dốc Quán Đính, có đoạn là sườn núi cao, có đoạn là gò đất cao, hai bên cây cối, nhiều cọp dữ. Rồi đi 157m đến xứ Quán Trà, cuối địa giới phủ Bình Hòa, đầu địa giới phủ Diên Khánh, đường đi bằng phẳng, ngày xưa có đặt điếm nghỉ chân, nhưng bị cọp beo quấy nhiễu nên bỏ. Đường đi tiếp 723m, hai bên rừng núi, lắm cọp, rồi đến Lũng Tre, thuộc xã An Lộc, huyện Hoa Châu, phủ Diên Khánh (nay thôn Đắc Lộc, xã Vĩnh Phương, Thành phố Nha Trang), lũng dài gần 1 cây số rưỡi, hai bên rừng núi, lắm cọp beo. Đường đi tiếp hơn 1km, đường mới mở, (phía Tây Bắc là núi rừng, dân cư thưa thớt, phía Tây Nam là ruộng, lại có đường cũ đèo Nhà Thờ đi thẳng đến điếm Gò Bông thuộc huyện Ninh Hòa), đến điếm Cây Chần Chần, phía Tây Bắc toàn rừng núi, lắm cọp beo, phía Đông Nam có ruộng, xưa có cây chần chần rất to, lập quán hàng, khách nghỉ chân. Đường đi tiếp 562m đến miếu Quá Quan. Trước mặt miếu là đường cái quan, phía sau là rừng núi. Ngày xưa có sắc tứ cho Bà Thiên Y A Na, lệ cứ ba năm, phiên sứ trấn Thuận Thành và nước Cao Miên đi triều cống đến đây, quan đầu công đường làm trâu heo cáo ở miếu này, sau đó mới xuất phát, nên gọi là miếu Quá Quan. Ở miếu có 1 người từ và 5 người quét dọn. Đi 646m, đường mới mở, phía Tây Bắc gần rừng núi, phía Đông Nam gần ngòi rạch, đến Cầu Ngói, thuộc xã Phú Lộc Trung, huyện Hoa Châu, (nay là thôn Phú Cấp, xã Diên Phú, huyện Diên Khánh) gần rừng núi, nhiều cọp beo. Cầu dài hơn 23m, ngày xưa trên có mái ngói, giờ đã hư hỏng, nước xuôi xuống dưới hơn 2km thì thông ra sông Cái. Đi tiếp 2,4km, đường mới đắp, hai bên là ruộng, dân cư thưa thớt, đến sông lớn (tức sông Cái Nha Trang), phía Bắc sông là xã Phú Lộc, huyện Hoa Châu (thôn Phú Lộc, xã Diên Thủy, nay thuộc thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh). Phía Bắc đi lên 1,8km có ba tòa Văn Thánh mới lập, tường vôi mái tranh, lệ cắt cử lễ sinh 33 người và dân 30 người, từ giữ miếu 1 người (tức là Văn Miếu Khánh Hòa, sau bị cháy, trên nền cũ hiện nay là Văn Miếu Diên Khánh). Phía Nam sông thuộc xã Phước Thạnh huyện Phước Điền (thôn thuộc xã Diên Toàn, nay thuộc thị trấn Diên Khánh, huyện Diên Khánh). Sông rộng gần 198 m, ngày trước có cầu bắc ngang, tục gọi là cầu Hoa Bông. Năm 1797, xã Phú Lộc Tây (nay là thôn Phú Ân, xã Diên An, huyện Diên Khánh) có bẩm xin cho 100 người thuộc nội xã làm phụ lũy (là dân đinh được cắt phục vụ việc công ở ngay địa phương mình), đến năm 1796 chỉ còn lại 30 người. Năm 1797 vì mưa lụt, cầu hư hỏng, dân phụ lũy phải lo chuẩn bị ghe thuyền để đưa quân dân qua lại (trước đây là cầu gỗ, nay xây lại bằng bê tông, gọi là cầu Phú Lộc). Từ sông này lên phía trên khoảng gần 7 cây số rưỡi thì đến ngã ba và chia làm 2 nhánh : một nhánh tục gọi là sông Đò thông đến thượng nguồn của phủ Bình Hòa, một nhánh thông đến Thượng Xay nguồn Nha Trang. Sông xuôi xuống phía dưới hơn 11 cây số thì đến cửa biển Cù Huân. Cách cầu khoảng 60m là chợ Dinh (nay là Chợ Thành), thuộc xã Phước Thạnh, huyện Phước Điền (nay thuộc thị trấn Diên Khánh). Tại chợ, có hai đường rẽ : nhánh phía Tây đi khoảng 90m thì đến cửa Đông thành Diên Khánh, nhánh phía Đông đi hơn 9km thì đến cửa biển Cù Huân, Thành phố Nha Trang hiện nay. Đi hơn 600m đến cửa Nam thành Diên Khánh. Rời Thành, đường đi dài 723m, đường mới lập, hai bên ruộng lúa, dân cư thưa thớt, đến cầu sông nhỏ Tân Khai, dài gần10 m. Sông này do quan Lưu trấn thành Diên Khánh là Khâm sai chưởng Hữu quân bình tây Đại tướng quân Quận công đào ra vào năm 1796 để dễ lưu thông. Đi 334m, đường đi hai bên ruộng lúa, dân cư trù mật, đến cầu Bàu Trong (Lồng), cầu dài gần 20m, thuộc xã Phú Mỹ, huyện Phước Điền (nay là thôn Phú Khánh, huyện Diên Khánh), nước trong, chứa bốn mùa, cỏ tim đèn mọc rất nhiều nên cũng có tên là Cầu Lồng (nay gọi là Cầu Lùng). Từ đó, đi 252m đến TRẠM HÒA THẠNH.

TRẠM HÒA THẠNH : Theo ĐNNTC-KH, “ Ở thôn Phú Khánh, huyện Phước Điền (nay thuộc xã Diên Thạnh, huyện Diên Khánh), phía nam đến trạm HÒA TÂN 30 dặm lẻ (khoảng hơn 12km), phía đông đến trạm NHA TRANG 20 dặm (khoảng hơn 8km)”. Theo HVNTDĐC trạm gồm 17 suất. Đường đi dài 175m đến Cầu Cá, cầu dài gần 33m thuộc xã An Thạnh, huyện Phước Điền (nay là thôn Cư Thạnh, xã Suối Hiệp, huyện Diên Khánh), phía Nam cầu là nơi tụ tập buôn bán cá. Nếu đi xuống phía dưới khoảng hơn 16km thì đến Cửa Bé. Đi tiếp 267m đến lũng Phú Đa, lũng dài hơn 1km, hai bên đường đều là rừng ven chân núi, đến núi Hòn Diễn có miếu Bà Chúa Ngọc mới lập, thuộc huyện Vĩnh Xương, trước miếu có quán, khách nghỉ chân. Đi khoảng gần 2 cây số rưỡi, hai bên đường là rừng núi, đến Quán Dầu, có hàng quán, khách nghỉ chân. Ở đây có thổ sản là cây dầu rái. Đi khoảng gần 3km đến bàu Cầu Dài, bàu dài hơn 31m, bốn phía là rừng núi. Đến đường rừng Bồng Bông, đường dài hơn 5km, bằng phẳng, có nhiều cây leo bồng bông. Đi tiếp 97m đến Cầu Bàu Đình, cầu dài gần 15m, phía trên cầu mới dựng đình của xã Đại An (nay là thôn Cửu Lợi, xã Cam Hòa, huyện Cam Lâm), nên tục gọi Cầu Đình. Đi 391m, đường mới đắp, hai bên là ruộng, dân cư thưa thớt, đến Cầu Mống, thuộc xã Đại An, cầu dài hơn 15m, hai đầu cầu có hình cong như móng trời. Xuôi xuống phía dưới cầu hơn 11 cây số rưỡi là đến cửa biển Cam Ranh. Cách cầu khoảng 10m, hai bên có nhà cửa, khách nghỉ chân. Đi hơn 1km đến TRẠM HÒA TÂN đồn Đại An.

TRẠM HÒA TÂN : Theo ĐNNTC-KH, “ Ở thôn Lập Định, huyện Vĩnh Xương (nay thuộc xã Cam Hòa, huyện Cam Lâm), phía nam đến trạm HÒA DU 27 dặm (khoảng hơn 7km) “. Theo HVNTDĐC trạm gồm 17 suất, đây là trạm mua bán của dinh cũ ở vùng bờ sông thuộc xã Đại An, huyện Vĩnh Xương (nay thuộc thôn Cửu Lợi, xã Cam Hòa, huyện Cam Lâm). Triều đình có cử một viên thủ ngự đặt đồn ở đây để xét hỏi đề phòng kẻ gian. Đi khoảng đường gần 2km, đường đi đầy cát sâu lún bàn chân, nhà cửa dân cư thưa thớt, ven chân núi, đến đường rừng Phường Dầu, đường dài hơn 3km, rồi đến thôn Phường Dầu, thuộc huyện Vĩnh Xương (nay ?), có ruộng núi và ruộng sạ, dân cư thưa thớt. Đi khoảng 9 cây số rưỡi đến TRẠM HÒA DO hay HÒA DU. Hai bên đường đều là rừng ven chân núi, có nhiều tê giác, voi, cọp beo, dân cư thưa thớt.

TRẠM HÒA DO (HÒA DU) : Theo ĐNNTH-KH,” Ở thôn Thủy Triều, huyện Vĩnh Xương (nay thuộc xã Cam Hải Đông, huyện CAM LÂM), phía nam đến trạm HÒA QUÂN (HÒA CÂU) 24 dặm (khoảng hơn 10km) “. Theo HVNTDĐC, trạm gồm 17 suất. Đi 1,7km, đường hai bên là chân núi, đến đường rừng Suối Dứa, đường dài hơn 3km ven chân núi, có nhiều tê giác, voi, cọp beo, đến đường rừng Cây Cốc, đường dài hơn 4km, đường cát lún, hai bên là rừng núi, có nhiều cây cốc. Đến trạm cũ Mạn Đò mới lập lại, thuộc địa phận huyện Vĩnh Xương (nay thuộc thôn Mỹ Ca, phường Cam Phúc Bắc, thị xã Cam Ranh). Ngày xưa, ở trạm này, phía trên có rừng núi, phía dưới có bãi biển, dân cư trù mật, có nhiều thuyền bè làm nghề đánh cá, nên có tên thôn Mạn Đò. Trong thời chiến tranh giữa Nguyễn Ánh với nhà Tây Sơn, ở đây điêu tàn. Đến năm 1805, triều đình đặt lại trạm này, cắt cử người thôn Thủy Triều lo đón tiếp quan quân đi công cán, quy tập dân lưu tán trở về. Đi gần 1km, phía Nam gần bãi biển, phía Tây Bắc gần rừng núi, đến cầu Ba Ngòi, thuộc thôn Tân Lập, huyện Vĩnh Xương (nay thuộc thị xã Cam Ranh). Cầu Ngòi Nhất dài 163m, đi 646m đến cầu Ngòi Nhì dài 92m, đi 219m đến cầu Ngòi Ba dài 123m. Đi đến láng Mà Cà, láng dài gần 1 cây số rưỡi, đường cát bùn. Đến sông Sông Cạn, sông rộng hơn 40m, khi triều dâng thì nước mặn, khi nước xuống thì nước ngọt, có thể lội qua. Đường đi tiếp dài 1,8km toàn bằng cát mịn, hai bên là rừng núi có nhiều tê giác, voi, cọp beo, đến sông Du Quân, sông rộng hơn 27m, nước ngọt, rồi đến TRẠM HÒA QUÂN (hay TRẠM HÒA CÂU).

TRẠM HÒA QUÂN (TRẠM HÒA CÂU) : Theo ĐNNTC-KH, “Ở thôn Khánh Cam, huyện Vĩnh Xương (nay thuộc khu phố Cam Lộc, thị xã Cam Ranh), phía nam đến TRẠM THUẬN LAI 43 dặm (khoảng hơn 18km). Trạm Thuận Lai  nguyên tiếp giáp phủ Ninh Thuận địa giới tỉnh Bình Thuận, nay phủ đổi thành đạo, tên trạm đổi thành trạm Ninh Lai “. Theo HVNTDĐC, trạm có 17 suất. Tại trạm có Quán nghỉ Du Quân, thuộc xã Mỹ An, huyện Vĩnh Xương (nay ?), ngày trước có quân đặt đồn ở đây để kiểm soát thuế khách buôn qua lại, nên có tên Du Quân. Năm 1800, triều đình đặt quán nghỉ ở đây, cắt 10 người phụ việc khi quan quân đến nghỉ. Đi đến đường rừng Du Quân, đường dài hơn 1km, hai bên đường rừng ven chân núi, đến Suối Dầu, suối rộng hơn 45m, nước ngọt. Đi gần 2km đến xứ Đá Bàn, ở đây có một tọa bàn đá, hai bên là ruộng hai vụ của người dân tộc, ruộng này có lệ không thu tô thuế. Đi hơn 2km nữa, đến đường rừng Cà Tràm, dài gần 3km, hai bên đường là rừng ven chân núi. Đến Suối Đá, rộng hơn 10m. Đến giồng rễ TRẠM HÒA THUẬN, phía Bắc thuộc phủ Diên Khánh, phía Nam thuộc phủ Bình Thuận, tức là nơi giáp giới của hai dinh Bình Hòa và Bình Thuận. Đường này nằm ven chân núi, có nhiều tê giác, voi, cọp beo. Trạm này triều đình đặt lính thường trực ở trạm gồm lính dinh Bình Hòa 30 suất, dinh Bình Thuận 30 suất, hợp lại chia làm 3 phiên, mỗi phiên 20 người thường trực ở trạm. Đi gần 9km đến TRẠM THUẬN LAI, thuộc phủ Ninh Thuận. ĐNNTC-KH chép : “Khi trước trạm Hòa Thuận đến trạm Thuận Lai 19 dặm (khoảng hơn 8km). Niên hiệu Minh Mạng, dân ở Hòa Thuận xiêu tán cả, 2 trạm Hòa Quân và Trạm Thuận Lai  được gồm làm một, nên số dặm dài hơn các trạm khác “.

TRẠM NHA TRANG : Theo ĐNNTC-KH, “Ở thôn Xương Huân, huyện Vĩnh Xương (nay thuộc phường Xương Huân, Thành Phố Nha Trang), phía tây đến trạm Hoà Thạnh 20 dặm (hơn 8km), phía bắc đấn trạm Hòa Cát 35 dặm (khoảng hơn 13km), Trạm này mới đặt gần Tòa Sứ (nay là Ủy Ban Nhân Tỉnh Khánh Hòa) “. Triều vua Gia Long (1802-1820), khi đặt trạm dịch, chưa có trạm Nha Trang này. Do đó, trong HVNTDĐC của Lê Quang Định soạn không có ghi trạm này. Nha Trang trở thành thị trấn ngày 30-8-1924 theo Nghị Định của Toàn quyền Đông Dương khi người Pháp đặt nền cai trị ở nước ta. Thời điểm đó là thời vua Khải Định (1916-1925). Người Pháp coi Nha Trang là tỉnh lỵ của tỉnh Khánh Hòa. Các cơ quan chuyên môn như Tòa Công Sứ, Giám Binh, Bưu Điện, Thương Chánh … của người Pháp đều đóng ở Nha Trang. Còn các cơ quan của Nam Triều vẫn đóng ở Thành Diên Khánh. Trạm dịch Nha Trang đón nhận người ở TRẠM HÒA CÁT, rồi từ đó đi lên TRẠM HÒA THẠNH đặt ở huyện Diên Khánh. Nếu trạm Hòa Cát đến trạm Hòa Thạnh chỉ đi khoảng 13km, nhưng nếu từ trạm Hòa Cát đi đến trạm Nha Trang phải mất 15km, sau đó phải đi 8m nữa mới đến trạm Hòa Thạnh.

 NVB

Bài cùng tác giả

 

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ bắc tới nam (kỳ 1)

>> Thịt mèo

>> Chuyện mèo năm Mão qua câu ca tiếng nói người Việt

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 2)

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 1)

>> Những trường học tại Nha Trang xưa và nay

>> Chất biển trong con cá vịnh Nha Trang

>> Con cọp qua cái nhìn dân gian Việt Nam

>> Món cọp năm Dần

>> Về Diên Khánh ăn bánh ướt

>> Cọp Khánh Hòa

>> Thầy Đồ Cóc

>> Đất Khánh người Hòa

>> Món ngon Năm Sửu

>> Con trâu trong văn học các dân tộc VN

>> Món ngon năm chuột

>> Chuyện chuột năm Tý

>> Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

>> Vịt lội Ninh Hòa

*** Nghề làm bánh tráng ở Xóm Rượu Ninh Hòa:

>> Kỳ 1, kỳ 2, Kỳ 3

*** Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang,

     việc giỗ của người Việt:

>> Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, kỳ 11, kỳ 12

 

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến: webmaster@ninhhoatoday.net

ninhhoatoday@yahoo.com