QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

SƯU TẦM

BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

VIỆC GIÁO DỤC CHỮ LỄ

TRONG GIA ĐÌNH VÀ NHÀ TRƯỜNG

 Ngô Văn Ban

 

Ngày nay có một số trường học trong tỉnh ta thấy có câu “TIÊN HỌC LỄ, HẬU HỌC VĂN” được kẽ chữ to, trang trọng trên mặt tiền. Và cũng đã có một thời nhiều phương tiện truyền thông cũng đã có nhiều bài viết về câu khẩu hiệu đó theo nhiều quan điểm, nhiều lý giải khác nhau. Tìm trên GOOGLE, đánh câu “tiên học lễ hậu học văn”, hiện ra đến 157.000 bài viết về câu khẩu hiệu đó. Điều đó chứng tỏ rất nhiều người quan tâm đến sự giáo dục học sinh, sinh viên, trong việc dạy LỄ, dạy VĂN.

Đôi khi vẫn có người hiểu đơn giản LỄ đây là lễ phép, lễ độ, trên nói dưới nghe, gọi dạ bảo vâng, đi thưa về trình, chào hỏi kính trọng người trên ..v…v…

Thực ra, chữ LỄ nguyên gốc nó không mang ý nghĩa như thế trong học thuyết Nho giáo xưa của Trung Quốc. LỄ là một trong năm phẩm chất lớn của con người do Nho giáo đề ra, đó là NHÂN, LỄ, NGHĨA, TRÍ, TÍN mà từ Hán Việt gọi là NGŨ THƯỜNG. Như thế, nội dung chữ LỄ đã bao hàm những quy phạm về đạo đức của con người, nhưng theo thuyết Nho giáo, LỄ còn là những quy định về các loại nghi thức trong LỄ TIẾT. LỄ có gốc gác nẩy sinh từ việc tế tự, cầu khẩn quỷ thần của con người Trung Quốc cổ đại. Khi hình thành xã hội, giai cấp, lúc đó tế lễ được phân cấp, quy định những hình thức tổ chức, như vua thì tế trời đất, các chư hầu thì tế xã tắc …Thời nhà Chu (Thế kỷ XI – 256 tr.CN) rất coi trọng việc tế lễ, “việc lớn của nước là ở tế và quân sự”. Chính quan niệm của triều đình nhà Chu cho LỄ là đặc quyền của giai cấp quý tộc, nên giai cấp này biến LỄ thành chế độ chính trị mang tính cưỡng chế nhằm bảo vệ trật tự đẳng cấp. Nhà Chu dùng LỄ để buộc người dân sống theo trật tự hạng thứ xã hội và ngăn cản mầm loạn nẩy sinh.

Đến thời Xuân Thu (770 – 476 Tr CN), Khổng Tử (551 – 479 Tr CN) đã đem LỄ CHẾ CHÍNH TRỊ của nhà Chu cải biến thành một phạm trù đạo đức để phổ biến rộng rãi trong các tầng lớp. Nội dung chủ yếu của LỄ là đưa con người vào khuôn thước từ những biểu lộ, ứng xử, hành động … tất cả đều phải theo LỄ. Có điều là LỄ này đã định hướng, đòi hỏi người dưới phải luôn cung kính, tuân thủ, phục tùng người trên, trước hết là đẳng cấp trên. Đến thời Chiến Quốc (475 – 221 Tr CN), các học trò của Khổng Tử như Tăng Tử, Tuân Tử … vẫn chủ trương LỄ tuy là một quy phạm đạo đức, nhưng căn bản vẫn mang tính trói buộc khắt khe, không xa rời pháp luật.

Khổng Tử dùng LỄ để bó buộc con người, không phải LỄ thì không nhìn, không nói, không hành động. Tuân Tử cũng cho rằng trong xã hội phải có sự phân biệt trên dưới, sang hèn nên phải đặt ra LỄ, như thế xã hội mới ổn định. Điều đó chứng tỏ LỄ và HÌNH PHẠT của pháp luật là một, là công cụ để củng cố chế độ phong kiến. Đó là ý nghĩa tích cực, có những giá trị phù hợp  trong yêu cầu xây dựng, củng cố trật tự chế độ phong kiến Trung Quốc, nhưng cũng mang trong đó những tư tưởng lạc hậu, trói buộc, bắt con người cấp dưới chỉ biết cúi đầu trước thần quyền, trước giai cấp thống trị.

Ở Việt Nam Nho giáo được đưa vào rất sớm, đến đầu thế kỷ thứ 15, chứng tỏ được sự hưng thịnh của tôn giáo này. Vì LỄ là một bộ phận của học thuyết Nho giáo nên ở Việt Nam, trong từng giai đoạn của lịch sử, nó có những vị trí khác nhau. Các vua chúa Việt Nam cũng đề cao chữ LỄ bên cạnh việc đề cao pháp luật, nề nếp kỷ cương xã hội. Triều đình đặt ra BỘ LỄ để phụ trách những CHẾ ĐỘ LỄ của Nhà nước. Đối với giai cấp cầm quyền có những lễ chế được đặt ra như quy chế về mũ áo, xe cộ vua quan, lễ tế trời đất, lễ lên ngôi, khánh thọ, quốc tang, nghi thức đón tiếp sứ thần nước ngoài …v..v.. Còn đối với gia đình thứ dân thì có GIA LỄ, coi tang ma là quan trọng, thể hiện trong các sách như Thọ mai gia lễ của Hồ Gia Tân, Hồ Thượng Thư gia lễ của quan Thượng Thư Hồ Sỹ Dương … Chương trình giáo dục xưa LỄ cũng được giảng dạy qua các sách Luận ngữ, Lễ ký, Tả truyện …Những câu về LỄ có trong Tứ Thư, Ngũ Kinh cũng được trích ra để giảng dạy cho trẻ nhỏ.

Ngày nay, chế độ phong kiến cũng như nền học cũ không còn, nên chữ LỄ theo cách xưa cũng cần có những nội dung thích hợp với mục tiêu giáo dục hiện nay.

Chữ LỄ hiểu theo ngày nay với nghĩa là sống có đạo đức, không vi phạm chuẩn đạo đức của xã hội và sống theo pháp luật của Nhà nước. Tuy thời đại và quan niệm sống có thay đổi, nhưng những phần tích cực của chữ LỄ vẫn còn chấp nhận và giáo dục cho con trẻ được. Không ai phản đối việc giáo dục cho con trẻ trong nhà trường phải yêu mến, kính trọng, biết ơn, vâng lời, chăm sóc, giúp đỡ  cha mẹ, phải sống thật thà, hòa thuận với anh chị em, kính trọng ông bà, biết thờ phụng tổ tiên, thân ái với người trong dòng họ, với những người làng xóm láng diềng, biết cảm ơn, biết xin lỗi … Nơi nhà trường, phải kính trọng, biết ơn, vâng lời, thật thà với thầy cô giáo, người đã có công mở mang trí tuệ cho ta. Bản thân phải chuyên cần học tập, phải biết học tập những gì tốt đẹp ở bạn, giúp đỡ, bênh vực bạn… Đó là chưa kể giáo dục học sinh về kỹ năng sống, hướng các em nhận thức đúng về cái thiện, cái ác, cái tốt, cái xấu, hướng các em đến lẽ sống tốt đẹp ở đời, tránh xa những tệ nạn xã hội, có bổn phận đối với xã hội, có lòng yêu quê hương đất nước … Nhưng nếu trói buộc học sinh, khắt khe với học về việc thực hiện những điều đạo đức quy định thì chẳng khác nào lôi các em về một thời xa xưa đầy lạc hậu. Người thầy phải biết tổ chức cho học sinh thảo luận, tranh luận về những vấn đề đạo đức của một người học sinh cần phải có, cần phải rèn luyện, học tập …và làm sao cho học sinh hiểu được, nhận thức được và tự nguyện rèn luyện, tự nguyện thực hiện. Lẽ dĩ nhiên bên cạnh phải có những hình thức động viên, khen thưởng, xử phạt theo quy định của Bộ Giáo Dục. Kỷ luật học sinh không phải trù dập học sinh, không để cho học sinh đi vào “bước đường cùng”, mà qua hình thức kỷ luật mở ra cho học sinh một hướng đi, tạo điều kiện cho học sinh chuộc lỗi, thực hiện những điều tốt.

“Tiên học lễ”, chữ LỄ đây là ĐẠO ĐỨC của một con người, một con người cần phải được giáo dục theo những chuẩn mực đạo đức xã hội hiện tại như đã trình bày sơ lược ở trên. “Hậu học văn”, VĂN đây là chữ nghĩa, là kiến thức các môn khoa học xã hội, tự nhiên. Nhưng “hậu” đây không phải “quên” đi, bỏ mặc đi “tiên” trước. Học LỄ học VĂN, hai cái học phải song hành với nhau, qua LỄ dạy VĂN, qua VĂN dạy LỄ thì giáo dục mới đạt hiệu quả.

Đối với học sinh, thầy giáo dục, thầy đòi hỏi học sinh phải như thế, nhưng người thầy ngoài việc yêu thương, chăm lo, giúp đỡ học sinh, tìm hiểu gia cảnh từng học sinh, hiểu biết tâm lý từng lứa tuổi … còn phải là tấm gương tốt cho học sinh noi theo. Không chỉ là người thầy mà ngay trong đời sống gia đình, cha mẹ, anh chị em cũng vậy,  phải có cuộc sống lành mạnh, nói chung là sống theo chuẩn mực đạo đức, theo pháp luật Nhà nước trong mọi hoạt động, từ đó mới giáo dục con cái có hiệu quả được. Đây là một quá trình giáo dục hai chiều, tương tác nhau. Cho nên những học sinh ta gọi là “học sinh cá biệt”, học sinh hư, học sinh đánh nhau, giết nhau, sa vào tệ nạn xã hội … có nhiều trường hợp, nếu xét kỹ có phần trách nhiệm của người thầy, hay có một môi trường sống trong gia đình không được hạnh phúc, bất ổn, thiếu chăm sóc, thiếu tình yêu thương, lơ là trong việc giáo dục con cái hay chiều chuộng con cái quá mức, hay cha mẹ ly hôn, mồ côi cha mẹ  ....v…v…

Giáo dục chữ LỄ cho học sinh trong nhà trường không phải là điều dễ dàng gì, nhất là trong xã hội hôm nay với nhiều hiểm họa cho con trẻ. Ngoài ra đối tượng học sinh rất phức tạp, thời gian học tập, rèn luyện trong học đường lại quá ít trong khi học sinh có cuộc sống ở gia đình, xã hội rất nhiều thời gian. Như thế, sự kết hợp giáo dục học sinh giữa nhà trường, gia đình và xã hội là điều cần thiết

“Tiên học lễ, hậu học văn”, mong rằng không phải là một câu khẩu hiệu suông, một cách “trang trí” cho “hợp thời”.

 

 Ngô Văn Ban

 

Bài cùng tác giả

 

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ Bắc tới Nam (kỳ 2)

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ bắc tới nam (kỳ 1)

>> Thịt mèo

>> Chuyện mèo năm Mão qua câu ca tiếng nói người Việt

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 2)

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 1)

>> Những trường học tại Nha Trang xưa và nay

>> Chất biển trong con cá vịnh Nha Trang

>> Con cọp qua cái nhìn dân gian Việt Nam

>> Món cọp năm Dần

>> Về Diên Khánh ăn bánh ướt

>> Cọp Khánh Hòa

>> Thầy Đồ Cóc

>> Đất Khánh người Hòa

>> Món ngon Năm Sửu

>> Con trâu trong văn học các dân tộc VN

>> Món ngon năm chuột

>> Chuyện chuột năm Tý

>> Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

>> Vịt lội Ninh Hòa

*** Nghề làm bánh tráng ở Xóm Rượu Ninh Hòa:

>> Kỳ 1, kỳ 2, Kỳ 3

*** Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang,

     việc giỗ của người Việt:

>> Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, kỳ 11, kỳ 12

 

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến: webmaster@ninhhoatoday.net

ninhhoatoday@yahoo.com