QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

SƯU TẦM

BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KÍNH MỪNG ĐẠI LỄ PHẬT ĐẢN PL.2555-2011

Trí Bửu

                            

Giờ phút linh thiêng, gió lặng, chim ngừng

Trái đất rung động bảy lần

Khi bất diệt, đi ngang dòng sanh diệt.

Bàn tay chuyển pháp, trong hương đêm thanh khiết

Ấn cát tường nở trắng một bông hoa                     

Thế giới Ta bà, đồng thanh ca ngợi.      

Năm nay, lại một lần nữa hoa sen nở rộ, tưng bừng, đón mừng ngày Đấng Giác ngộ toàn năng, toàn trí, toàn đức ra đời, phá tan màn vô minh từ vô lượng kiếp của chúng sanh và những gì bất công trong xã hội, đem lại  ấm no, hạnh phúc, an vui cho nhân loại.

Hướng về Phật đản, ngày lịch sử trọng đại và thiêng liêng Phật lịch 2555-2011, nhằm báo Phật ân đức, đồng thời thực hiện lời di huấn tối hậu của bậc Giác ngộ: “Vì đại sự nhân duyên mà thị hiện để khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến”.

Đức Phật thị hiện giữa cõi đời không ngoài mục đích nhằm đáp ứng nguyện vọng là giải thoát khổ đau của nhân loại. Ngài đích thực là một con người, "Trong vũ trụ bao la này Ngài là một con người bình thường như bao nhiêu người bình thường khác, cũng được cấu tạo bằng xương, bằng thịt, nhưng Ngài không còn chi phối bởi các pháp hữu vi, một con người nhận chân được bản giác, thường chân của chính mình", Ngài là một vị hoàng tử của Ấn Độ thời bấy giờ, nào cung vàng, điện ngọc, vợ đẹp, con ngoan, cung phi, mỹ nữ, lạc thú, vinh hoa…Nhưng Ngài đã ý thức rằng, đó không phải là hạnh phúc đích thực của cuộc đời, mà hạnh phúc đích thực của con người là thoát ly sanh tử, khổ đau, tìm đến đời sống an lạc, thanh thản, không tranh chấp, không hận thù, sống chan hoà, trong niềm cảm thông chân chính, sống trong tình yêu thương, nhân ái, hoà hợp.

Kính mừng Phật đản, chúng ta ôn lại những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về Đại lễ Phật đản: Sách Đại Việt Sử ký toàn thư đã viết, vào đời vua Lý Thánh Tông, năm Nhâm Tý, Thần Vũ 1072: “Mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 8, vua xem lễ tắm Phật”. Còn vua Lý Nhân Tông: “Mùa hạ, ngày mồng 8 tháng 4, xa giá ngự đến, đặt lễ cầu phúc, bày nghi thức tắm Phật, hàng năm lấy làm lệ thường”… 

Trong Văn bia tháp Sùng Thiện Diên Linh, Nguyễn Công Bật viết về không khí sinh động của ngày Đại lễ Phật Đản như sau:

Nhà vua tôn sùng đạo Phật, hâm mộ thắng nhân. Mở chùa Diên Hựu ở tại vườn Tây. Dấu vết theo quy mô thuở trước, lo toan cho thánh ý ngày nay.

Đào ao thơm Linh Chiểu, giữa ao chồi lên một cột đá, trên cột đá có một đóa hoa sen nghìn cánh xòe ra. Trên hoa dựng ngôi đền đỏ sẫm, trong đền đặt pho tượng sắc vàng. Ngoài ao có hành lang bao bọc. Ngoài hành lang lại có ao Bích Trì, bắc cầu cong để đi lại. Ở sân trước cầu, hai bên tả hữu xây tháp báu lưu ly. Để mồng một hàng tháng, để mùa xuân hàng năm, nhà vua thân ngồi xe ngọc, đến mở tiệc chay. Hương hoa bày ra hình thức kỳ an, bồn chậu đặt lễ nghi tắm Phật.

Trang sức tướng tinh thành cho năm chúng, hoặc hở vai tiến thối nhịp nhàng, tạo đội ngũ thiên vương ở bốn phương, nâng khí cụ bồi hồi nhảy múa. Tinh cần chẳng trễ, kính phụng nào ngơi. Vì vậy mà huyền tạo linh thông, đều cùng phù hộ”…

Như thế, từ xưa đến nay, việc vua chúa, triều thần và nhân dân quy ngưỡng  ngày Đại lễ Phật Đản và đích thân nhà vua làm chủ lễ tắm Phật, cho thấy Phật đản thực sự là một ngày Quốc lễ,  ngày hội truyền thống văn hoá. Và trong không khí của ngày Quốc lễ đó, các vị vua không chỉ thể hiện lòng thành kính nhất tâm quy Phật, thể hiện tinh thần từ bi, khoan thứ mà còn gửi gắm tâm nguyện trị quốc, an dân, giữ vững nền độc lập, tự do của dân tộc. Điều này nói lên sự thâm nhập của Đạo Phật vào tận nguồn cội của văn hóa Việt Nam, như nước với sữa, như máu với thịt, như tim với óc, như hai bộ phận, trong một cơ thể của con người, đến mức không thể phân chia được.

Còn nữa, nhân ngày Lễ Khánh thành Tháp Sùng Thiện Diên Linh, Hoàng đế đã đích thân tham dự:

Khói trầm đàn như mây tỏa khắp sơn khê, bóng cờ phướn như ráng phô đầy muôn ngả. Chuông trống vang lừng, khánh tiu rộn rã. Phía trước xe mây Tam bảo, đằng sau kiệu báu thánh hoàng.

Dốc nghiêng, xanh tía sáu cung, về hết trẻ già muôn nước. Điện hoa vắt ngang phía trước, chùa Phật mở rộng bên trong.

Hội tăng ni trai khiết, diễn Giác đế chân kinh. Hoàng đế nghiêm trang, đọc kệ đoạn cúi đầu tạ lễ; cung nga khép nép, nghe kinh xong dâng sữa múa ca. Thổi cơm chay trắng muốt, thết khách đói qua đường; phát tiền quý ùn ùn, cấp dân nghèo khắp chốn.

U hiển đều về, thiên long cùng đến. Đem lực công tối thượng, phúc đức vô lường, ca ngợi hoàng cương, vững bền như trời đất; cầu mong bảo vận vằng vặc như trăng sao.

Sớm sinh thái tử, nối mãi mệnh trời. Mong gốc ngành ngàn thuở, cầu xã tắc muôn năm. Cỏ lướt nhiều phương, qùy nghiêng muôn nước. Thần dân yêu mến, tổ khảo khuông phò. Thần đạo giúp ngầm, trời người nâng đỡ”.

Trên đây, cho ta thấy, chính tinh thần và tâm nguyện dựa trên nền tảng Phật pháp đã có sức vận động lớn lao tinh thần đoàn kết, tập hợp sức dân vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Vì thể hiện mạnh mẽ lòng tự hào dân tộc, nên đã quy tập được các tư tưởng khác nhau, phục vụ cho công cuộc chung “đất nước, dân tộc” .

Đặc biệt, các vua nhà Lý, những vua hết lòng với đạo Phật, đều nhân dịp mở hội Phật mà đại xá thiên hạ, tha tội cho các tù nhân, chu cấp tiền, lương cho dân nghèo… Điều đó càng tăng thêm ý nghĩa và sức sống của Phật pháp. Sử Nho Ngô Sĩ Liên  đã ghi chép: “Nhân Tông thường nhân việc mở hội Phật mà tha cho người hết tội… Còn như vua Thần Tông không có việc gì mà cũng tha bổng, phóng thích tù nhân…” Lòng nhân ấy đã hướng dẫn hành vi của nhiều nhà lãnh đạo, nên đã tránh cho dân tộc không đi vào con đường chiến tranh, hận thù, huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt mà có một đời sống tâm linh vô cùng phong phú. Vì thế lịch sử đã minh chứng rất rõ, thời đại Lý - Trần là thời đại mà con người sống khoan dung, nhân hiếu, thuần hậu và giàu bản sắc văn hoá dân tộc.

Chúng ta đã từng có những ngày Quốc lễ Phật đản trang nghiêm, hoành tráng, nô nức, hân hoan…. Nhưng vì chiến tranh và vì nhiều lý do khác nhau, Đại lễ Phật đản có lúc đã bị thu hẹp không gian văn hóa, tâm linh. Mãi đến năm 2008 vừa qua, Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc PL.2552, VESAK 2008, lễ hội tôn giáovăn hóa của dân tộc, tổ chức tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình, Thủ đô Hà Nội, mới phục hồi thực sự.

Tại Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc Phật lịch 2552, VESAK 2008, trong diễn văn khai mạc của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, đọc tại Trung tâm Hội nghị quốc gia Mỹ Đình, sáng ngày 14.5.2008 đã khẳng định:

Việt Nam là đất nước đa tôn giáo mà đạo Phật là tôn giáo có mặt rất sớm từ gần 2000 năm trước. Ngay từ buổi đầu tiên, với tư tưởng Từ bi, hỹ xã, Phật giáo đã được nhân dân Việt Nam đón nhận, luôn đồng hành cùng dân tộc với phương châm nhập thế, gắn bó giữa Đạo và Đời phấn đấu vì hạnh phúc an vui cho con người. Trong các thời đại, thời nào lịch sử Việt Nam cũng ghi nhận những nhà Sư đại đức, đại trí đứng ra giúp đời, hộ quốc, an dân. Đặc biệt lịch sử Việt Nam mãi mãi ghi nhớ công lao của vị vua anh minh Trần Nhân Tông có công lớn lãnh đạo nhân dân bảo vệ Tổ quốc. Khi đất nước thái bình, Người nhường ngôi từ bỏ giàu sang, quyền quý, tìm đến nơi non cao Yên Tử để học Phật tu hành, sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm, một dòng Thiền riêng của Việt Nam tồn tại mãi tới ngày nay.”

Như thế, chỉ có tinh thần khoan dung, tư tưởng và đời sống giàu bản sắc của bốn nghìn năm văn hiến, mới đủ cơ sở để chúng ta vượt qua mọi giới hạn của nhận thức, mọi thái độ hẹp hòi trong văn hóa, và chỉ có tinh thần tự tôn, thủy chung với dân tộc, người Phật tử mới có thể “gặp Đức Phật trong lòng dân tộc”, bởi không ít lần chúng ta đã bỏ quên Đức Phật của dân tộc mình, của tâm hồn mình. Như vậy, ngày Đại lễ Phật Đản Phật lịch 2552, không chỉ là ngày chúng ta tỏ lòng tôn kính Đức Phật, tri ân tổ tiên đã làm rạng danh non sông, mà còn là ngày tìm lại cho chính mình một ngôn ngữ của yêu thương và hòa bình.

Mỗi năm, cứ đến ngày Đại lễ Phật đản, nhìn hình tượng đức Phật Đản sanh chúng ta cảm nhận rằng sự kiện lịch sử ấy xảy ra dường như không xa lắm. Mới ngày nào trong vườn Lâm Tỳ Ni, nơi thành Ca Tỳ La Vệ, nước Nepal (vương quốc của Ấn Độ), đức Từ phụ của chúng ta đã vì lợi ích của chúng sanh mà một lần nữa trở lại cõi đời này, với hình ảnh một con người bình thường. Một thoáng thời gian mà đã hơn hai ngàn sáu trăm năm trôi qua, nhưng hình ảnh bậc vĩ đại đó vẫn còn sống mãi với dòng thời gian bất tận, và tồn tại mãi trong con tim của mỗi người con Phật.  

Nam mô Lâm Tỳ Ni Viên, Vô ưu thọ hạ, thị hiện Đản sanh, Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Trí Bửu. 

Mùa Phật Đản, PL.2555-2011

 

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến: webmaster@ninhhoatoday.net

ninhhoatoday@yahoo.com