QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

SƯU TẦM

BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

DINH TRẤN BIÊN NHA TRANG

DƯỚI THỜI CÁC CHÚA NGUYỄN Ở ĐÀNG TRONG

CÓ HAY KHÔNG ?

 

 

Tạp chí Nha Trang, số 163 - tháng 4/2009 có đăng bài “CÓ HAY KHÔNG ĐỊA DANH DINH TRẤN BIÊN NHA TRANG DƯỚI THỜI CÁC CHÚA NGUYỄN ?” của tác giả Nguyễn Sỹ Chức. Tác giả bài báo đã tìm thấy trong cuốn Nam Triều Công Nghiệp Diễn Chí (truyện kể về công lao sự nghiệp của Nam triều) (1) tác phẩm của NGUYỄN KHOA CHIÊM, tự là Bảng Trung (1659-1736) làm quan từ đời chúa Nguyễn Phúc Chu (1691-1725) cho đến đời Nguyễn Phúc Chú (1725-1738) ở Đàng Trong có đoạn văn ghi Cai cơ trấn thủ dinh Nha Trang là Dương Lâm Hầu (tức Nguyễn Dương Lâm) (trang 567) và Cai cơ Thắng Long hầu (dịch giả chú: Thắng Long Hầu: tên tước của Cai cơ Nguyễn Thắng Long, con của Nguyễn Dương Lâm)  dinh Trấn Biên tại Nha Trang là tướng hùng dũng trí lược … (trang 625). Từ đó, tác giả bài báo đặt vấn đề : Có hay không địa danh dinh Trấn Biên Nha Trang (đúng ra là dinh Trấn Biên tại Nha Trang) như Bảng Trung hầu Nguyễn Khoa Chiêm đã từng ghi chép cách đây gần 300 năm trước ?

Trong Tập san Sử Địa số 26 xuất bản tại Sài Gòn năm 1974, số đặc biệt kỷ niệm Kỷ niệm 300 năm ngưng chiến Nam Bắc phân tranh thời Trịnh Nguyễn, tác giả bài Đúng ba trăm năm trước, học giả Hoàng Xuân Hãn đã giới thiệu quyển dã sử xưa, Nam triều Công nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiếm {Học giả cho rằng Nguyễn Khoa Chiếm tự là Bảng trung   , đọc “Chiếm” có lẽ đúng hơn “Chiêm”, vì tên tự khi nào cũng liên quan về ý đến tên húy. Chiếm Bảng trung đều liên quan đến ý đi thi đậu (HXH chú). Chữ Chiêm hay Chiếm là từ Hán Việt, cùng xuất phát từ chữ Hán . Nếu đọc là Chiêm thì có nghĩa là bói, xem bói (chiêm bốc). Nếu đọc là Chiếm thì có nghĩa là giữ lấy làm của mình, ví dụ như Chiếm công vi tư, lấy của công làm của tư. Còn Bảng trung, là có tên trong bảng yết thị. “Phàm thi cử học trò, kén chọn quan lại hay công cử các nghị viên, ai được thì yết tên họ lên bảng cho mọi người đều biết…” (Hán Việt tự điển – Thiều Chửu). Như thế, chiếm bảng trung có ý đi thi đậu như học giả HXH đã ghi chú }.

Nam triều công nghiệp diễn chí là một truyện dài lịch sử chương hồi, viết bằng chữ Hán, được tác giả viết vào khoảng thế kỷ thứ 18. Tác phẩm này lúc đầu có tên là Trịnh Nguyễn diễn chí, rồi sau đó có một số tên được đặt cho sách này :  Mộng bá vương, Việt Nam khai quốc chí truyện, Nam triều Nguyễn Chúa khai quốc công nghiệp diễn chí, Hoàng triều khai quốc chí, Nam Việt chí và cuối cùng là tên Nam triều công nghiệp diễn chí. Ngoài sự đánh giá của Hoàng Xuân Hãn (tác giả bài báo có trích), nhà sử học Phan Khoang, khi viết Xứ Đàng Trong cũng đã có những nhận xét về tác phẩm này. Phan Khoang nhận xét, tác phẩm đáng ra là rất quý, vì là tác phẩm đồng thời với giai đoạn lịch sử Phan Khoang đang nghiên cứu. Ông Nguyễn Khoa Chiêm làm quan nhiều năm đời chúa Hiển Tông, từ chức Thủ Hợp đến chức Tham chính Chánh đoán sự, nhưng nhận thấy tác giả quá trọng thị phương diện văn chương, dùng văn chương để tô điểm nhiều quá thì e có khi che lấp sự thật đi chăng. Vì vậy người nghiên cứu, tham khảo chỉ dùng tài liệu sách này một cách dè dặt, có nhiều chi tiết mang vẻ tiểu thuyết hóa thì người tham khảo chép lại ở phần “chú”.

Bản dịch, trong Lời giới thiệu, dịch giả đã dùng nhiều bản nguyên văn bằng chữ Hán, rồi so sánh, chọn lọc để dịch. Tiếc rằng không có bản chữ Hán kèm theo quyển sách nên việc tìm hiểu những địa danh đề cập trong bài báo thật là quá khó khăn. Những địa danh trong bài báo có đề cập đến dinh Trấn Biên, dinh Nha Trang, dinh Trấn Biên tại Nha Trang, vậy có những dinh đó không ?

Trong các sách sử viết về Khánh Hòa, như Đại Nam nhất thống chítỉnh Khánh Hòa của Quốc sử quán triều Nguyễn, Phương đình dư địa chí của Nguyễn Siêu (ấn hành năm 1900) và cả các sách sử của triều Nguyễn, như Đại Nam thực lục, Khâm Định Việt sử thông giám cương mục … đều không thấy ghi vùng đất Khánh Hòa từ năm 1653 đến nay là dinh Trấn Biên. Chỉ thấy sách sử ghi “Vua Thái tổ Gia Dụ Hoàng Đế ( Nguyễn Hoàng) nhà Nguyễn, năm Tân Hợi thứ 54 (1611) người nước Chiêm xâm lấn bờ cõi, sai chủ sự là Văn Phong đi đánh lấy đất chia làm 2 huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa đặt phủ Phú An, cử Văn Phong trấn giữ. Sau Văn Phong cùng người Chiêm phản lại, vua Hy Tông Hiếu Văn Hoàng Đế (Chúa Nguyễn Phúc Nguyên) năm Kỷ Tỵ thứ 16 (1629) sai phó tướng là Nguyễn Phúc Vinh đánh dẹp. Lúc mới, gọi là Trấn Biên  doanh (lúc quốc sơ phàm những chỗ giáp giới với nước khác đều gọi là Trấn Biên, sau mở đất một ngày một rộng mới dời trấn đến Phúc Long tức là Biên Hòa ngày nay) “ (2).  Đại Nam nhất thống chí – Tỉnh Biên Hòa cũng có ghi điều này : ” Năm Mậu Dần thứ 8 (1698) đời Hiển Tông (Chúa Nguyễn Phúc Chu) sai chưởng cơ Nguyễn Hữu Kính (Cảnh) lấy xứ Lộc Dã (tức Đồng Nai, người Hoa gọi là Nông Nại) đặt là huyện Phúc Long, đặt dinh Trấn Biên (hồi đầu bản triều những đất ở biên giới gọi là “trấn”, Trấn Biên thuộc tỉnh Gia Định)… “ (3) . Như thế, trong lịch sử mở đất về phương Nam, chỉ có 2 Trấn Biên : Trấn Biên Phú YênTrấn Biên Biên Hòa là có ghi rõ ràng trong sách sử dưới triều Nguyễn, ngoài ra không thấy sử liệu nào ghi Nha TrangTrấn Biên cả.

Còn về địa danh Nha Trang, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Viết Trung đã viết một bài khá đầy đủ, đầy sử liệu, chứng cớ để giải thích nguồn gốc địa danh Nha Trang này (4)  . Địa danh Nha Trang đã xuất hiện rất xưa trong các bản đồ từ thế kỷ XVII. Thế kỷ thứ XVIII, trong Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn cũng có ghi địa danh Nha Trang, trong đó có Nha Trang dinh, Nha Trang dinh thị thuộc phủ Diên Khánh. Nhưng tên Nha Trang mà Lê Quý Đôn đề cập là để chỉ chung vùng đất của phủ Diên Khánh, nơi đặt lỵ sở của dinh Bình Khang, tức là vùng đất huyện Diên Khánh hiện nay. Trong Phương Đình dư địa chí, Nguyễn Siêu có ghi  “Năm Quý Sửu (1793) đại quân lấy lại Bình Khang doanh, tiến đánh thành Quy Nhơn, lúc ban sư đắp thành đất ở thủ sở Nha Trang gọi là thành Diên Khánh, núi sông thực là thiên hiểm, tục gọi là Nha Trang thành. Năm thứ 2 niên hiệu Gia Long, doanh và phủ đều đổi tên là Bình Hòa, còn phủ Bình Hòa lại đổi làm đồn, đặt quan Quản Đạo cai trị, năm thứ 7 (1809) đổi doanh thành trấn trấn Bình Hòa, năm thứ 12 niên hiệu Minh Mạng đổi phủ Bình Hòa làm Ninh Hòa. Năm thứ 13 (1832) chia hạt gọi là tỉnh Nha Trang “ (5) . Tỉnh Nha Trang tức là tỉnh Khánh Hòa hiện nay. Còn tên gọi TP Nha Trang hiện nay là tên gọi thị trấn Nha Trang được thành lập từ năm 1924, là vùng đất của huyện Vĩnh Xương, thuộc tổng Trung Cát, phủ Diên Khánh. Địa danh Nha Trang cũng được thấy ghi sau đó vào đời Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765), vào năm 1751 :“ Lấy Nguyễn Hữu Kính làm Cai Bạ Quảng Nam (…). Sau đi Nha Trang, trở về thì chết “ (6) . Khi Nguyễn Ánh đánh nhau với nhà Tây Sơn, trong sử cũng thấy ghi địa danh Nha Trang : “ (Nguyễn Ánh) sai tiết chế Tôn Thất Dụ đem bộ binh ở Bình Thuận, Chưởng Cơ Tống Phước Thiêm, Nguyễn Hữu Thụy và Dương Công Trừng đem thủy quân ở Gia Định cùng tiến đi. Bọn Dụ đến Nha Trang và Hòn Khói (thuộc tỉnh Khánh Hòa, ND chú) cùng Chu Văn Tiếp hợp quân, đắp lũy đối diện với giặc “ (7). Như thế, địa danh Nha Trang ghi trong sách sử đều chỉ thủ sở của huyện Diên Khánh cũng như địa danh dinh Nha Trang đã được Nam triều công nghiệp diễn chí ghi Rồi đó lệnh cho Cai cơ trấn thủ dinh Nha Trang là Dương Lâm hầu …” cũng là chỉ nơi thủ  sở của phủ Diên Khánh, lúc đó thuộc dinh Thái Khang mà thôi.

Sách sử Đại Nam thực lục của Quốc sử quán triều Nguyễn, cũng có ghi sự kiện này, nhưng không chép là dinh Nha Trang mà chép là đạo Nha Trang thuộc dinh Thái Khang : “ Giáp Dần (1674) (Chúa Nguyễn Phúc Tần) sai cai cơ đạo Nha Trang dinh Thái Khang là Nguyễn Dương Lâm (con Quận công Nguyễn Văn Nghĩa là Thống suất dinh Quảng Bình) đem quân cứu nước Chân Lạp…(….). Tháng 6, Thống binh Nguyễn Dương Lâm thắng trận khải hoàn, thăng làm Trấn thủ dinh Thái Khang, kinh lý việc biên phòng” (8) . Như thế dù là dinh hay đạo Nha Trang vẫn nằm trong dinh Thái Khang và Nguyễn Dương Lâm được thăng làm trấn thủ dinh Thái Khang, tiểu sử của Nguyễn Dương Lâm trong Đại Nam liệt truyện cũng ghi như thế (9).

Sách Đại Nam thực lục cũng có ghi chép : “ Mậu Thìn (1688), tháng 6 . Vua chính nước Chân Lạp là Nặc Thu oán giận, bèn mưu với bề tôi là Ốc Nha Cống Sa bỏ việc triều cống và đắp ba lũy Bích Đôi, Cầu Nam và Nam Vang, rồi chằng xích sắt ngăn cửa sông, làm kế cố thủ. Vua thứ nhì là Nặc Nộn biết mưu ấy, cho chạy báo với dinh Trấn Biên. Phó tướng Mai Vạn Long liền gửi trạm dâng thư [ của Nặc Nộn ]. Chúa giận lắm, bèn triệu các quan bàn chuyện xuất binh. Chưởng dinh Tống Đức Minh nói :”Nặc Thu là một tên quan nhỏ ghẻ lở, không cần phiền đến đại tướng của triều đình. Cai cơ Trấn Biên là Nguyễn Thắng Long (con Nguyễn Dương Lâm) là người có mưu lược, quen biết thủy thổ Chân Lạp, nên sai làm thống binh đi đánh …” (10) .

Qua những ghi chép trên, ta thấy :

- Chắc chắn Dinh Trấn Biên ở đây là dinh Trấn Biên Phú Yên, vì dinh Trấn Biên Biên Hòa năm 1698 mới thành lập mà sự kiện xảy ra trên đây xảy ra năm 1688.

- Ghi rõ Nguyễn Thắng Long là Cai cơ Trấn Biên, con của Nguyễn Dương Lâm. Nguyễn Dương Lâm trấn thủ dinh Thái Khang cho đến năm 1692 bàn giao cho Trần Hữu Oai (lúc đó là dinh Bình Khang) (11) , còn con là Nguyễn Thắng Long làm Cai Cơ ở Trấn Biên Phú Yên, trong Đại Nam liệt truyện cũng ghi rõ như thế, đó là điều đã rõ (12).

Tóm lại trong Nam Triều công  nghiệp diễn chí, tác giả Nguyễn Khoa Chiêm ghi : ” Thần nghe tiếng Cai cơ Thắng Long hầu dinh Trấn Biên tại Nha Trang là tướng hùng dũng …” qua bản dịch của Ngô Đức Thọ  không  rõ Trấn Biên tại Nha Trang là ở đâu.  Và qua các chính sử triều Nguyễn, chỉ có đạo Nha Trang, dinh Nha Trang là chỉ nơi lỵ sở của phủ Diên Khánh lúc đó, chứ không có dinh Trấn Biên tại Nha Trang như Nguyễn Khoa Chiêm ghi.  Tôi nghĩ rằng, lúc đó, chưa lấy được đất Chiêm Thành từ sông Phan Rang trở vô nên dinh Bình Khang là đất biên giới và từ đó, Nguyễn Khoa Chiêm dùng từ trấn biên (lúc quốc sơ phàm những chỗ giáp giới với nước khác đều gọi là Trấn Biên) để gọi là dinh Trấn Biên tại Nha Trang. Dinh Trấn Biên tại Nha Trang có thể hiểu là dinh Bình Khang, thủ sở tại Nha Trang ở phủ Diên Khánh giáp giới với Chiêm Thành là trấn biên. Cho đến năm 1693, Nguyễn Hữu Cảnh mới lấy được vùng đất từ Sông Phan Rang trở vô đến Phan Rí, làm trấn Thuận Thành, sau vài tháng đổi thành phủ Bình Thuận, nên vùng đất phủ Diên Khánh không còn là biên giới nữa và sau đó, đến năm 1698, sau khi chiếm được vùng Biên Hòa, dinh Trấn Biên Phú Yên mới dời vào đó, thành dinh Trấn Biên Biên Hòa. Còn dinh Trấn Biên tại Nha Trang chắc chắn là không có, thuyết phục nhất là các sử sách triều Nguyễn đều không có ghi và cả những sách sử đời sau cũng thấy ghi địa danh đó.

N.V.B

CHÚ THÍCH :

 

1.  NGUYỄN KHOA CHIÊM, Nam triều công nghiệp diễn chí, Ngô Đức Thọ – Nguyễn Thúy Nga (dịch, chú và giới thiệu), nxb Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2003.

2.  NGUYỄN SIÊU, Phương Đình dư địa chí, nxb Tự Do, Sài Gòn, 1960, Nguyễn Sĩ Giác dịch, trang 134-135.

3.  QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN, Đại Nam nhất thống chí, tập 5, nxb Thuận Hóa, Huế, 1992, trang 36.

4.  NGUYỄN VIẾT TRUNG, Về Địa danh Nha Trang in trong Từ dinh Thái Khang đến tỉnh Khánh Hòa, Hội VHNT Khánh Hòa xb, 2004, trang 56-64.

5.  NGUYỄN SIÊU, sđd, trang 161.

6.  QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN,  Đại Nam thực lục, Tập 1, bản dịch nxb Giáo dục, Hà Nội, tập Một, 2007, 157.

7.  Đại Nam thực lục, sđd, trang 210

8.  Đại Nam thực lục, sđd, trang 89

9.  QUỐC SỬ QUÁN TRIỀU NGUYỄN, Đại Nam liệt truyện, Tập 1, Tiền Biên, bản dịch của Viện Sử Học Việt Nam, nxb Thuận Hĩa, Huế, 2005, trg. 152.

10.  Đại Nam thực lục, sđd, trang 98.

11.  Đại Nam thực lục, sđd, trang 106.

12.  Đại Nam liệt truyện, sđd, trang 152.

 

 

Bài cùng tác giả

 

>> Việc giáo dục chữ Lễ trong gia đình và nhà trường

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ Bắc tới Nam (kỳ 2)

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ bắc tới nam (kỳ 1)

>> Thịt mèo

>> Chuyện mèo năm Mão qua câu ca tiếng nói người Việt

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 2)

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 1)

>> Những trường học tại Nha Trang xưa và nay

>> Chất biển trong con cá vịnh Nha Trang

>> Con cọp qua cái nhìn dân gian Việt Nam

>> Món cọp năm Dần

>> Về Diên Khánh ăn bánh ướt

>> Cọp Khánh Hòa

>> Thầy Đồ Cóc

>> Đất Khánh người Hòa

>> Món ngon Năm Sửu

>> Con trâu trong văn học các dân tộc VN

>> Món ngon năm chuột

>> Chuyện chuột năm Tý

>> Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

>> Vịt lội Ninh Hòa

*** Nghề làm bánh tráng ở Xóm Rượu Ninh Hòa:

>> Kỳ 1, kỳ 2, Kỳ 3

*** Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang,

     việc giỗ của người Việt:

>> Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, kỳ 11, kỳ 12

 

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến: webmaster@ninhhoatoday.net

ninhhoatoday@yahoo.com