QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

SƯU TẦM

BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  

VÕ TRIỀU DƯƠNG - NGUYỄN MAN NHIÊN

TRÒ CHƠI DÂN GIAN XÃ NINH PHỤNG

 (Kỳ cuối)

 

- Chơi Hóp:

Để bắt đầu trò chơi, tùy theo cách chia bắt cặp hoặc chơi lẻ từng người, bao nhiêu người chơi cũng được.

Cách thức chơi:

Vẽ một hình chữ nhật, dài rộng tùy thích không cần kích thước. Cần một cục gạch thẻ nguyên và nửa cục gạch thẻ khác được kê sát và nằm giữa lằn mức của cạnh (hay một đầu) của hình chữ nhật. Hai cục gạch này được cấu trúc sao cho nửa cục gạch dựng đứng (điểm tựa) và cục gạch nguyên vẹn được gác lên đầu tựa của nửa cục gạch kia. Như vậy, có đuôi của cục gạch nguyên chạm mặt đất, đầu đưa lên trời, chính giữa tựa trên đầu của “nửa cục gạch” kia tạo thành một mặt dốc để khởi động vận chuyển tròn của đồng tiền cắc (hòn chì). Đến đây có mái xuôi (mặt dốc) giống hình một đòn bẫy.

Tiếp tục người chơi gạch một đường thẳng kể từ đường giao tuyến của mặt dốc (của cục gạch nguyên) và mặt đất (mái xuôi) dài khoảng 5 tấc và cứ cách 1 tấc gạch 1 lằn mức ngang dành cho những người bị hóp mang đồng tiền cắc (hòn chì) lên đặt ở mức ngang đó (có thể bị hóp 1,2,3…).

Trước khi chơi, người chơi thi tranh đua để đi sau cùng bằng cách dùng đồng bạc cắc hoặc viên ngói bể được đập và mài tròn đến khi có diện tích (kích thước) bằng (hay vừa) đồng tiền mà người chơi gọi là hòn chì dùng để thi đua tranh giành phần thắng. Người chơi cầm hòn chì thẳng đứng khảy (khởi động chạy tròn) mạnh nhẹ tùy ý xuống dốc xuôi của cục gạch, sao cho hòn chì chạy và ngã dừng gần mức càng tốt, cán mức thì càng tốt hơn. Như vậy, người chơi có thể tranh giành đi sau cùng nhưng đừng để hòn chì lăn ra khỏi mức thì thua.

Thi xong người chơi đi theo thứ tự, nghĩa là người nào khảy hòn chì chạy ra ngoài mức đi trước, xa mức đi kế và gần mức đi sau cùng... Người thua cuộc thì được đi đầu tiên, khảy hòn chì xuống viên gạch (mặt xuôi) để cho nó lăn xuống mức dưới; phiên người kế tiếp cố gắng khảy hòn chì, chạy xa hơn người đi trước thì tốt, cứ như thế chúng ta thay phiên lần lượt đi, cố gắng đi xa hơn mấy người trước, đừng để hòn chì chạy ra khỏi mức phía trước gọi là hóp, có khi bị hóp 2,3,4…

Khi chơi người chơi bắt bồ và tìm cách cứu bồ. Khi hòn chì của một người khảy thua phe khác, người đó có quyền xê dịch viên gạch xéo qua góc này hoặc góc khác với mục đích là để khảy hòn chì không theo đường thẳng chính diện (trực chỉ song song với hai cạnh bên của hình chữ nhật) mà chạy xéo góc hơn bạn mình, thua người bắt bạn mình, như vậy gọi là "xỉa tiền".

Người thắng cuộc thi đi sau cùng, xem xét kỹ cách bắt những hòn chì của người đi trước, nếu khảy xa hơn để bắt được thì tốt và được đi sau cùng bàn kế tiếp, bằng không thì khảy nhẹ hòn chì để bắt những người bị hóp, xong cứ thứ tự người nào gần mức đầu dưới thì chố người thua mình ở phía trên.

Cách thức chố: Người thắng cuộc cầm hòn chì lên trên tay rồi gạch lằn mức ngay tâm hòn chì nằm (tức là vị trí của hòn chì năm trước khi được lượm lên tay). Người thắng cuộc có hai chân đứng ngay lằn mức gạch làm điểm với tay cầm hòn chì cố gắng chố sao cho hòn chì của mình trúng hòn chì của người thua. Nếu trúng chố tiếp người kế, nếu chố trật không được quyền chố nữa mà nhường người chơi kế tiếp để chố những người thua. Nếu trúng khá nhiều, những người thua chung tiền, hoặc chung hình, hoặc chung bịch thuốc lá... tùy theo giao kèo trước khi chơi.

Xong bàn này tiếp tục chơi bàn khác và đi theo thứ tự khỏi cần thi lại, người thắng cuộc đi sau cùng.

- CHƠI Ô Quan

Cách vẽ Ô Quan:

Vẽ một hình chữ nhật được chia đôi theo chiều dài và ngăn thành 5 hàng dọc cách khoảng đều nhau, ta có được 10 ô vuông nhỏ với diện tích là 15 cm vuông cho mỗi ô. Hai đầu hình chữ nhật được vẽ thành 2 hình vòng cung, đó là 2 Ô Quan lớn đặc trưng cho mỗi bên, đặt vào đó một viên sỏi lớn có hình thể và màu sắc khác nhau để dễ phân biệt hai bên, những ô vuông nhỏ được chia thành một nhúm 5 viên sỏi nhỏ, mỗi bên có 5 ô .

Cách chơi Ô Quan:

Hai người hai bên, người thứ nhất đi quan với nắm sỏi trong ô vuông nhỏ tùy vào người chơi chọn ô, sỏi được rãi đều chung quanh từng viên một trong những ô vuông cả phần của ô quan lớn, khi đến hòn sỏi cuối cùng ta vẫn bắt lấy ô bên cạnh và cứ thế tiếp tục đi quan ( bỏ những viên sỏi nhỏ vào từng ô liên tục). Cho đến lúc nào viên sỏi cuối cùng được dừng cách khoảng là một ô trống, như thế là ta chặp ô trống bắt lấy phần sỏi trong ô bên cạnh để nhặt ra ngoài. Vậy là những viên sỏi đó đã thuộc về người chơi, và người đối diện mới được bắt đầu.

Đến lượt đối phương đi quan cũng như người đầu tiên, cả hai thay phiên nhau đi quan cho đến khi nào nhặt được phần ô quan lớn và lấy được hết phần của đối phương. Như thế người đối diện đã thua hết quan.

Cách chơi Ô quan rất đơn giản nhưng người chơi ô quan phải giỏi tính toán để đối phương phải thua cuộc vì không còn sỏi bên phần mình để tiếp tục cuộc chơi.

- Đua CỜ Quan:

Đua cờ quan là một thú chơi tao nhã của những người biết chữ Nho ngày xưa, rất được hâm mộ ở xã Ninh Phụng. Vùng đất này hằng thế kỷ trước có phong trào học chữ nho bằng thơ vè rất thịnh hành, hoặc tự sáng tác ra bài mới, hoặc học lại những bài bản cũ, do đó số dân đinh trong địa phương biết đọc chữ Nho khá nhiều. Nhờ đó cuộc chơi đua cờ quan đã trở thành phổ cập gần như trò chơi dân gian, mà cả các tổng xã khác nơi nào có nhiều người biết chữ Nho là có trò chơi đua cờ quan.

Trò chơi đua cờ quan ngày nay không còn nữa. Tư liệu trò chơi này do cụ đồ - đông y sĩ Trần Chiếu tục gọi là thầy Ba Đăng ở làng Xuân Hoà khi còn sanh tiền cung cấp và chỉ bày cho chúng tôi cách chơi.

- Đồ hình bản cờ quan: Trên tờ giấy hồng đơn vẽ một vòng tròn lớn đường kính khoảng 4 tấc, viết 40 chữ Nho giáp vòng với các khoảng cách đều nhau theo hướng kim đồng hồ chạy. Bốn chục chữ nho này là một bài ngũ âm như sau:

 

Bách đại gia hào phú

Bất như khắc vi vương

Hạnh ngộ quan kỳ hội

Thỉnh quân thí nhất trườn.

Vượng thời mạc khả mạn

Thất thời mạc khả thương

Thăng trầm giai hoạn lộ

Thế sự thị  Hoàng Lương.

Dịch là:

 

Dẫu trăm đời giàu có

Thua ít phút đế vương

Cờ quan may gặp dịp

Mời anh  thi vài trường

Được thời chớ kêu ngạo

Thất thế  đừng đau thương

Nổi chìm đường quan lại

Thế sự giấc Hoàng Lương.

Lại vẽ một hình vuông ở bên trong hình tròn có 4 góc chạm trên đường vòng tròn. Hình tròn biểu trượng trời, hình vuông biểu tượng đất, bài ngũ ngôn biểu tượng lý thuyết thế sự có không, thăng trầm. Bên trong hình vuông kẻ năm hàng ngang và năm hàng dọc với khoảng cách bằng nhau tạo thành 36 ô vuông nhỏ. Kết 4 ô vuông nhỏ ở giữa hình vuông sẽ có được một ô vuông lớn hơn tạo thành một chữ thập ở giữa. Đoạn vẽ ở giữa ô vuông lớn ấy thêm một vòng tròn và xoá hình chữ thập để thay bằng một hình xoáy  âm dương đặt làm ngôi chủ vị là thiên tử (mang số 37). Chung quanh vòng tròn nhỏ này còn lại 4 ô vuông nhỏ bị khuyết mỗi ô một góc tiếp giáp với vòng tròn. Bốn ô khuyết góc này đặt làm 4 ngôi tứ trụ có chủ vị là cần chánh (số 33), đông cát (số 34), văn minh (số 35) võ hiển (số 36).

Bên ngoài 4 ô tứ trụ bao bọc bởi hai vòng thành trong và ngoài, liên kết bằng những ô vuông nhỏ nối liền nhau. Vòng ngoài gồm tất cả 20 ô khởi đầu ô số 1 chủ vị là hoàn tráng đến ô số 6 chủ vị là tiến sĩ. Từ ô số 7 đến ô số 20 bên trong ở đầu mỗi ô ghi tên chủ vị từ huấn đạo đến thị lang luỹ tiến từ bậc thấp lên chức quan bậc cao.

Vòng trong có tất cả 12 ô vuông nhỏ, từ ô số 21 có chủ vị là trạng nguyên lên đến ô số 33 chủ vị là tể tướng.

Chơi đua cờ quan trông chờ đến sự may rủi, bởi vậy dù cho đua lên đến chức tể tướng (số 32) những cũng có khi lui dần lại ô số 1 hoàn tráng tuỳ theo mặt con vụ lục giác ngã đổ. Ngoại trừ vòng  tròn trung điểm có chủ vị thiên tử, còn lại 36 ô vuông nhỏ kia (tính luôn 4 ô tứ trụ) thì mỗi ô vuông bên trong dưới hàng chủ vị đều có ghi 6 đẳng cấp, gồm có hai cấp tiến, hai cấp nằm lại và 2 cấp lùi (xuống chức). Tuy nhiên giữa hai vòng trong và vòng ngoài các ô vuông ấy có sự lùi chức ( giáng cấp khác nhau).

- Vòng ngoài từ ô vuông số 1 hoàn tráng đến ô vuông số 20, chủ vị bên trong mỗi ô đều có hai chức bị  giáng cấp chung vào một ô liền sau của ô mình hiện đứng tức là bị giáng một cấp mà thôi (trong mỗi ô ghi từ số 1 đến số 6 trước mỗi chức quan, tương ứng số chấm của 6 mặt trên con vụ lục giác).

- Vòng trong từ ô số 2 chủ vị trạng nguyên đến ô số 32 chủ vị tể tướng cũng có hai số bị giáng cấp ghi trong mỗi ô, thế nhưng hai số ấy (tức là hai chức quan) không phải chỉ bị giáng cấp ở cùng một ô liền sau như cách giáng cấp ở vòng ngoài, mà lại bị giáng cấp ở hai ô ở liền sau khác nhau, tức là một số chức quan bị giáng một cấp và một số bị giáng hai cấp tức hai ô liền sau. Tình tiết này, các cụ nho sĩ ngày xưa giải thích rằng, sở dĩ có sự phân bố cấp cao dễ bị tuột chức nhiều bậc hơn cấp thấp để rõ ý nghĩa câu: “Càng cao danh vọng càng dày gian nan”.

Riêng bốn ô quây quanh ngôi thiên tứ tức là tứ trụ là cần chánh số 33, đông cát số 34, văn minh số 35, võ biển số 36, thì sáu chức ghi bên trong có một số trúng ngôi thiên tử, còn lại năm chức kia chỉ chạy lòng vòng quanh ngôi thiên tử hay nằm một chỗ chứ không bị giáng cấp ra ngoài. Bốn ô này được gọi là nguyên lão đại thần đặc miễn. Khi đua cờ quan, người nào lọt vào được ngôi tứ trụ coi như là chuẩn bị được làm vua vài phút.

Các chức vị đẳng cấp trong mỗi ô vuông nhỏ được sắp đặt lộn xộn, chứ không phải quan lớn ghi trên quan nhỏ ghi dưới. Mặc dù cách bố trí hình đồ trong bản cờ quan thuyết minh ra bằng từ cú quá phức tạp, nhưng khi nhìn tận mắt và tham gia cuộc chơi thì cũng khá rõ ràng và dễ dàng.

Ngoài bản đồ hình cờ quan ra còn có một vật dùng khác không thể thiếu, đó là con vụ. Ngày xưa con vụ được tiện bằng ngà hay loại gỗ quí hình lục giác, trên mỗi mặt có đánh dấu từ một chấm đến sáu chấm để cho tương ứng với sáu chức quan trong mỗi ô vuông nhỏ. Con vụ được xoay trên một cái dĩa nhỏ bằng sứ đặt giữa ô số 37 thiên tử.

Trò chơi đua cờ quan được các vị nho sĩ hay người biết chữ thử thời vận trong các ngày đầu năm. Ngày thường trong lúc trà dư tửu hậu cuộc chơi bày ra không phải để ăn thua bằng tiền bạc mà là cáp độ bằng bánh kẹo.

Mỗi người góp vào nửa xu hay một xu để mua bánh, nếu người nào không tiền có thể góp chung vào khoai lang luộc, chuối chín luộc hoặc chuối bó mo cau. Tất cả dồn chung lại một thúng đầy, mỗi lần ăn chỉ lấy ra số ít bánh kẹo có chừng. Mỗi ván chơi phải hội đủ 6 người ứng với 6 mặt vụ.

 Cuộc đua cờ quan thường qui tụ nhiều người, ngoài “sáu ông quan” ra có năm bảy người ngồi chung quanh coi, nhất là đám trẻ nhỏ lối xóm. Mỗi khi nghe lớp cha ông đua cờ quan thì chúng cõng em dắt chị đến xớ rớ ngồi chơi bên ngoài. Chúng đến không phải coi đua cờ quan mà mục đích để “chực ăn” bánh kẹo… Đang ngồi đánh tắt múa   hay bỏ ô quan hễ chúng nghe những tiếng nói to: “Thiên tử!” thế là đứa nào cũng ngồi bật dậy đứng ló thụt bên ngoài nhìn vô, các cụ làm sao ăn cho được hết, chỉ nhai cắn lấy lệ rồi phân phát cho đám “cò ke lục chốt” đều là con cháu lối xóm.

 - Cuộc chơi cờ quan như sau: Sáu người có 6 vật biểu tượng riêng cho mình như: hạt bắp, đồng xu, hòn sỏi… để chung vào ô số 1 có chủ vị hoàn tráng, có ý nghĩa khởi đầu mọi người đều là dân bạch đinh. Trong ô số 1 hoàn tráng gồm có 6 bực như: 1. Phó bản, 2. Cử nhân, 3. Đình lưu (tức nằm lại), 4. Tú tài, 5. Khoá sanh, 6. Đình lưu. Trong các ô số 2 số 3… kế tiếp cũng ghi các học vị và chức quan luỹ tiến, hai lùi cấp và hai nằm lại.

Để chọn ai được đi đầu ván đua cờ, mỗi người lần lượt cầm con vụ xoay tròn trên cái dĩa, nếu người nào xoay vụ đổ số 1 thì người đó được tiên phong. Trường hợp hai hoặc ba người cùng trùng số 1 lại phải xoay thêm lần chung kết và số 6 là người đi cuối cùng. Kể từ ván thứ hai trở lui về sau, người nào có chủ vị chức quan thấp nhất lại được đi đầu và người thắng cuộc ván vừa rồi phải đi cuối ván.

Cuộc chơi lên quan hay xuống cấp là kết quả sau mỗi lần con vụ ngã đổ, trên mặt vụ hiện ra số điểm, trong ô chủ vị của mình đang đứng, mà di chuyển vật biểu tượng sang ô khác. Ví dụ: Đang đứng trong ô số 1 chủ vị hoàn tráng, nếu xoay con cụ ngã đổ ra số 2 thì đến ô có chủ vị cử nhân, nếu mặt vụ đổ ra số 1 thì đến ô chủ vị phó bản, vụ đổ ra số 6 thì bị đình lưu tức dâm chân tại chỗ v.v… Tất cả các ô khác trong bản cờ quan đều có cách thức xoay vụ đưa cờ như vậy.

- Định lệ trong cuộc chơi: Khi xoay con vụ bị tung ra ngoài hay chỉ loay quay rồi ngã chứ không chạy, hoặc con vụ nằm gác nghiêng trên thành cái dĩa, cũng bị cho qua tua. Trò chơi đua cờ quan không dùng trí trá mưu lự để đánh lạc hướng nước đi của đối phương như cờ tướng, hay dùng mánh khoé xảo trá để lừa đảo gạt gẫm nhau như bài bạc các loại. Môn chơi này chỉ cầu ở sự may rủi, rất công bình và không động não. Không ít trường hợp một thành viên trong cuộc chơi “làm vua” liên tiếp ba ván liền được cho là thời lai. Cũng lắm người đì đẹt thăng cao rồi cuối cùng lui dần về ô chủ vị khoá sanh, hoàn tráng liên tiếp ba bốn ván, bị cho là vận khứ.

Vậy nên thường trong cuộc đua hay sau cuộc đua, các cụ nâng chén trà nhắp giọng gục gặc đầu liên tưởng đến cuộc đời nào khác cuộc cờ và ngâm nga:

Thời lai phong tống Đằng Vương các

Vạn khư lôi oanh Tấn Phúc bi. 

Hai câu sách này có nghĩa:

Gác Đằng Vương thời lai nhờ gió đẩy.

Bia Tấn Phúc vận khứ bị sét cũng phải tan.

“Quan” nào đua vụ vào được ngôi thiên tử, liền được năm quan kia và những người ngồi chung quanh hô lớn: - “Vạn tuế, vạn tuế!”. “Ông vua” thích thú cười ha hả lấy số bánh kẹo trong thúng ra có chừng và “ngự dụ”: - “Trẫm mời các khanh dùng yến!”.

Cuộc chơi đua cờ quan thật tao nhã vui tươi, xua tan được bao nỗi ưu phiền đố kỵ.

- Đá bò:

Trò chơi đá bò này khác với trò chơi cõng đá bò đã viết ở trên.

Vẽ một vòng tròn đường kính khoảng 3m, ở giữa cắm một cây tiêu cao chừng 1m. Số người tham dự chia làm hai phe bằng nhau, thường thường mỗi phe từ 3 đến 4 đứa, một phe làm con bò giữ cây tiêu bằng 4 chân tức là hai tay phải chạm đất, một phe làm đứa giựt cây tiêu.

Theo định lệ trong cuộc chơi, tất cả hai phe chỉ được sinh hoạt trong phạm vi vòng tròn, nếu ai vi phạm dậm đường tròn thì coi như bị chết. Phe làm bò có trách nhiệm giữ cây tiêu, nếu thấy phe kia vào giựt cây tiêu thì phải bò nhanh lại chống hai tay đá vào người đó. Giao hẹn chỉ đá từ đầu gối trở xuống, cấm đá lên cao, con bò nào vi phạm sẽ bị phạt. Con bò không những giữ cây tiêu mà còn phải truy tìm  kẻ kia để đá, nếu ai đá trúng cũng sẽ bị phạt cõng. Khi chạy đến đá hai tay phải bò chạm xuống đất, nếu không chạm đất mà đi lom khom sẽ bị đứa kia chạy đến xách tai, tức thì con bò đó bị phạt cõng.

Phe giựt tiêu phải vừa tránh né những cú đá của các con bò, nếu bị  bò đá trúng cũng sẽ bị phạt cõng. Chạy vào giựt được cây tiêu mà không bị bò đá, thì sẽ phạt cõng con bò kia. Nói tóm lại cả hai tranh giành quần thảo nhau nếu đứa nào phạm lỗi thì bị đứa kia phạt.

Cách thức phạt như sau:

Đứa thắng cuộc giựt được cây tiêu liền u lớn một hơi chạy xa ngoài vòng tròn, đứt hơi chỗ nào đứng lịa chỗ ấy. Đứa làm bò phải chạy ra chỗ đứa đang đứng ấy cõng nó vào vòng tròn rồi lại tiếp tục làm bò. Hoặc giả đến đá đứa kia mà không chống tay, nó chạy lại xách tai con bò thì cũng bị phạt và tiếp tục làm thân bò.

Trường hợp con bò đá trúng đứa kia liền phải ngồi bật dậy chụp lấy cây tiêu, u chạy ra ngoài xa vòng tròn đứng đợi đứa bị bò đá ra cõng vào và sẽ thoát kiếp làm bò còn đứa kia sẽ thay thế. Nếu chậm chạp không đứng dậy giựt kịp, để cây tiêu lọt vào tay đứa khác thì đứa bị đá không bị phạt u và đứa bò tiếp tục làm bò.

Các sự vi phạm khác như đá lên quá gối (để khỏi trúng hòn dái), chạy dậm đường tròn cũng bị phạt cõng như thế. Trò chơi này đòi hỏi cả hai đứa phải nhanh nhẹn để tránh né và đá. Các đứa chậm chạp vụng về ít dám chơi trò chơi đá bò vì sợ bị cõng.

Cũng có trường hợp giao kết trong 4 đứa cùng phe mà chỉ cần một đứa bị thua, thì cả phe thua đều bị phạt cõng.

Hầu hết các trò chơi dân gian tại xã Ninh Phụng diễn ra theo từng mùa hoặc theo thời vụ. Ví dụ đến mùa chọi vụ thì tất cả trẻ con đều chơi chọi vụ, hoặc đến mùa chơi u mọi thì tất cả đều u mọi. Trải qua thời gian, đến nay chỉ còn lác đác một vài trò như chọi vụ thỉnh thoảng thấy đám trẻ con trong làng chơi, kỳ dư tất cả các trò khác đều đã lui vào quá khứ!

 

VÕ TRIỀU DƯƠNG - NGUYỄN MAN NHIÊN

 

 

Bài cùng tác giả

 

>> Trò chơi dân gian xã Ninh Phụng (kỳ 3) - Võ Triều Dương & N M Nhiên

>> Trò chơi dân gian xã Ninh Phụng (kỳ 2) - Võ Triều Dương & N M Nhiên

>> Trò chơi dân gian xã Ninh Phụng (kỳ 1) - Võ Triều Dương & N M Nhiên

>> Chất khôi hài trong vè học chữ Pháp

>> Văn hóa ẩm thực của người dân Ninh Phụng (kỳ 2) - Võ Triều Dương & N M Nhiên

>> Văn hóa ẩm thực của người dân Ninh Phụng (kỳ 1) - Võ Triều Dương & N M Nhiên

>> Rượu nếp Bách Nhật - Đặc sản Ninh Hòa - Võ Triều Dương

>> Hương sắc xuân xưa Ninh Hòa

>> Non nước xứ Đồng Hương (kỳ 1)

>> Non nước xứ Đồng Hương (kỳ 2)

>> Non nước xứ Đồng Hương (kỳ 3)

>> Chuyện Thầy Đồ Ninh Hòa

>> Múa Lục Cúng Hoa Đăng Ninh Hòa - N M Nhiên & Võ Triều Dương

 

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến: webmaster@ninhhoatoday.net

ninhhoatoday@yahoo.com