QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

SƯU TẦM

BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MIẾU VÀ MIỄU Ở KHÁNH HÒA

NGÔ VĂN BAN

(kỳ 1)

 

MIẾUMIỄU, chữ quốc ngữ chỉ khác nhau cái dấu. Có người cho rằng «MIỄU, do MIẾU nói trại ra» như Sơn Nam trong Đình miếu & Lễ hội dân gian miền Nam (NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2004, trang 24). Còn các tự điển như Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ (1992), Việt Nam tân tự điển của Thanh Nghị (1952), Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức – Lê Ngọc Trụ (1970), Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức Hà Nội (1968) ... đều giải thích MIỄU là ngôi MIẾU nhỏ, đủ để đồ thờ, không chỗ cho người ở. Đào Duy Anh trong Hán Việt từ điển chỉ giải thích chữ MIẾU   : Nhà thờ tổ tiên – Nhà thờ thần – Cung điện của vua (Miếu vũ   ). 

Các tác giả nghiên cứu về phong tục Việt Nam như Phan Kế Bính, Toan Ánh cũng có những giải thích về Miếu và Miễu. Như trong Việt Nam phong tục, của Phan Kế Bính (Phong trào Văn hóa xb, Sài gòn, 1970) đã ghi : Mỗi làng thờ thần phải có một tòa miếu. Có nơi vừa có miếu vừa có đình. (...). Miếu là chỗ quỉ thần bằng y, đình là nơi thờ vọng, và để làm nơi công sở cho dân hội họp. Miếu thường hay kén những nơi đất bằng thắng cảnh, nhất là ở trên gò cao, hoặc ở nơi gần hồ to sông lớn thì mới hay. Phan Kế Bính không nói đến MIỄU. Trong tác phẩm Tín ngưỡng Việt Nam, Quyển thượng (nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2005) của Toan Ánh thì chép đầy đủ hơn : Miếu cũng như đền là nơi quỷ thần an ngự. Miếu nhỏ hơn đền, thường xây theo kiểu chữ nhật, với hai phần cách nhau bởi một bức rèm, nội điện bên trong và nhà tiền tế bên ngoài. Miếu thường được xây trên gò cao, nơi sườn núi, bờ sông hoặc đầu làng, cuối làng, những nơi yên tĩnh để quỷ thần an vị không bị mọi sự ồn ào của đời sống dân chúng làm nhộn. Trong miếu cũng có tượng thần, hoặc bài vị thần linh, đặt trên ngai, ngai đặt trên bệ, với thần sắc hoặc bản sao. Cũng có nơi gọi miếu là nghè. Còn MIỄU : là một ngôi miếu thờ những người bất đắc kỳ tử gặp giờ linh.

Trong dân gian, thường gọi đình miếuchùa miễu coi như như ngầm phân biệt vài nét khác nhau giữa Miếu và Miễu.

Qua những cách giải thích trên, ta thấy, trước nhất, miếu là những đền thờ các bậc linh thần, hiển thánh thật trang nghiêm và được trùng tu, chăm sóc rất chu đáo. Mỗi năm, đến ngày cúng vía được tổ chức đúng hạn kỳ và thập phương bá tánh đến hành hương, chiêm ngưỡng rất đông đảo, tấp nập. Điều đặc biệt là việc cúng tế miếu thường tổ chức vào những ngày tháng nắng như tháng ba, tháng tư ở miền Trung, Nam cùng lúc với các lễ kỳ yên tại các đình làng. Theo lệ và theo thời tiết vùng nhiệt đới, vào những tháng nắng thường xảy ra bịnh dịch, nên cúng đình và cúng miếu cũng nhằm cầu an cho bá tánh cùng muôn loài được thái bình, an lạc.

Qua một vài tài liệu tham khảo, cũng như qua vài đền miếu trong thực tế cho thấy rằng, miếu miễu là một công trình kiến trúc được xây dựng làm nơi thờ tự thần linh ở làng quê, đô thị.

Khác với đền, miếu thường nhỏ hơn. Có ngôi miếu bé nhỏ như cái am. Nhưng cũng có những ngôi miếu đồ sộ, có cổng tam quan, bái đường, chính điện, tả hữu gian, sân rộng. Đối tượng thờ phụng rất đa dạng, thể hiện tên gọi của miếu. Như ở trong tỉnh Khánh Hòa, có miếu thờ phụng các bậc thánh hiền (Văn Miếu, thờ Khổng Tử), khai quốc công thần hoặc có công giúp đời, linh hiển và cũng là những di tích lịch sử (Miếu Sinh Trung, Miếu thờ Trần Hưng Đạo, Trịnh Phong, Trần Quý Cáp, Trần Đường…). Có miếu chỉ thờ Bà Thiên Y A Na. Có miếu chỉ thờ thần hổ hay Thủy Thần, Thổ thần. Các nơi người Hoa sinh sống, lập nơi thờ Quan Công hay Bà Thiên Hậu, Thần Tài, Thần Phúc Đức ... mà ta thường gọi là chùa Tàu cũng có tên gọi là miếu. Tóm lại :

- Những xóm ấp có dân làm nghề đánh cá sông, đưa đò hoặc nơi khó khăn về nước sinh hoạt thì lập miếu thờ Thủy Long thần nữ hay miếu thờ Hà Bá.

- Những vùng làm nghề đánh cá biển, dân thường lập miếu thờ Nam Hải tướng quân (thờ cá voi) mà ta thường gọi là lăng.

- Những địa phương chuyên làm vườn thì lập miếu thờ Thổ thần, Sơn quân.

- Những nơi cọp hoành hành, những vùng gần rừng núi có miếu thờ Sơn Lâm Chúa Tướng (thờ cọp).

- Những xóm ven thị trấn thường có miếu thờ Cô hồn hoặc Quan Thánh đế quân (nếu có người Hoa sinh sống), Ngũ Hành nương nương.

- Những xóm làng chuyên làm ruộng thì thường thờ Chúa Xứ Thánh mẫu, tức Bà Thiên Y A Na.

Xung quanh các ngôi miếu luôn tồn tại những giai thoại và thường rất linh thiêng.

Trái lại, khác với miếu, miễu có nơi cũng được cúng kiến đàng hoàng. Nơi giàu có thì miễu lợp bằng ngói hay tôn, thiếc, nhưng phần lớn là miễu nhỏ được lợp bằng lá dừa, cột tre hay tràm, thường thì xiêu vẹo, hoang phế, ít được chăm sóc chu đáo. Thông thường, mỗi cuộc đất quanh nhà, ông bà xưa thường lập cái miễu để thờ Thổ Thần, Thổ Địa. Theo tương truyền từ các bậc trưởng lão, Thổ Thần hoặc Thổ Địa không phải là để chỉ chung ông thần đất đai theo nghĩa rộng, mà chỉ là ông thần nhỏ phù trợ trong miếng vườn, mảnh ruộng riêng tư của mỗi gia đình. Vì vậy, phải lập miễu thờ Thổ Thần để cho cuộc đất được bình yên, từ đó, người và vật sống trên đó được bình yên, phát triển. Ngoài ra, trong các ngày giỗ chạp tổ tiên, ngoài mâm cơm cúng ông bà, cô bác khuất mặt, theo lệ thường phải có thêm một mâm cúng "đất đai viên trạch" mới gọi là đủ lễ. Điều đó cho thấy người dân ngày trước luôn tin tưởng đến những vị thần dù nhỏ nhưng ở gần với loài người và đã ban cho con người cuộc sống yên ổn. Những miễu thờ Thổ Thần thường được cất ở ranh đất, kề bên gốc xoài, gốc sung, gốc da, gốc xộp...

Ngoài ra, trong những cánh đồng vắng xa nhà, nhiều nông dân cũng đấp gò cao cất miễu để thờ Thổ Thần, Thổ Địa hay Ông Tà hầu cho đất đai bình yên, trúng mùa. Bên cạnh đó cũng thường trồng một bụi tre gai để cho bóng mát, tiện thể để các người qua lại thăm ruộng có nơi ngồi nghỉ ngơi dưới bóng mát của bụi tre. Do đó, người nào cao lêu nghêu thường được ám chỉ "cao như cây tre miễu" là vậy.

Ngoài ra, tại các khu đất nghĩa trang, bãi tha ma, người ta cũng lập miễu thờ cô hồn và cũng là nơi cúng kiến trước khi an táng người chết trong khu nghĩa trang đó và cũng được cúng trong các lễ kỳ yên ở làng.

Trong các miễu thờ Thổ Thần, Thổ Địa, người dân nhờ các người biết chữ Hán viết bằng mực tàu lên tờ giấy hồng điều hai chữ Thổ Thần, rồi để một lư hương, một chai nước mưa, vài cái chén nhỏ để cúng nước và một cục đá xanh được rữa sạch tượng trưng cho Thổ Thần, Thổ Địa. Đôi lúc, có những miễu nhỏ như vậy mà rồi vì linh ứng và được dân gian trong vùng truyền tụng nên trở thành một địa danh mà ai ai trong vùng cũng biết đến, như Miếu Cây Da, Miếu Thanh Minh, Miếu Cây Ké ...

Ngoài các cuộc đất, người dân còn lập miễu ở những nơi nào có người chết trôi trên sông như chìm ghe, chìm xuồng, chết đuối khi tắm ... để thờ những oan hồn chết chìm chết nổi để cầu cho khúc sông này trời yên gió lặng. Ở bên ngoài đình, hay ở những nơi gần núi, người dân còn lập miễu thờ cọp, là Chúa Sơn Lâm, để được yên ổn. Ở các nghĩa trang, nghĩa địa, người dân cũng lập miễu để thờ các vong hồn. Khi làng cúng đình, đồng thời cũng tổ chức cúng tại miễu.

Dọc theo con quốc lộ 1 và các tỉnh miền cao nguyên chúng ta cũng đã gặp nhiều miễu thờ cô hồn bên đường, nơi đã xảy ra những tai nạn giao thông chết người, như ở tỉnh ta có các miễu dọc đèo Rù Rì, đèo Rọ Tượng, dọc đường từ Ba Ngòi (Cam Ranh) đến Thành phố Nha Trang qua các huyện Cam Lâm, Diên Khánh. Có người cho rằng đây là những biển báo giao thông hữu hiệu nhất để tránh tai nạn ở những nơi hiểm nghèo.    

Tại các lò gạch, cũng có miễu thờ ông Thần Lò để cầu cho việc vô gạch, đốt lò, hầm gạch không bị trở ngại như sập lò, nhất là các tai nạn trong khi chất gạch vô lò hoặc lấy gạch hầm chín từ trong lò ra. Nếu lò gạch nào không có miễu thờ ông Thần Lò, người thợ chánh coi việc chất gạch vô lò để hầm họ sẽ từ chối, không chịu nhận làm công cho chủ lò gạch này vì sợ ông Thần Lò quở phạt.     

Bên cạnh ngôi chùa làng cũng có vài ngôi miễu nhỏ. Đặc biệt, trong các dịp cúng miếu, miễu đều cúng thức ăn mặn như thịt heo, gà, vịt, nhưng cúng miễu trong khuôn viên chùa chỉ cúng bằng các thức ăn chay hoặc trái cây, bông hoa.

Ở những ngôi miễu, lễ cúng miễu mang tính dân dã, cả nam nữ, già trẻ đều có thể đến cúng lạy. Ban tổ chức cúng kiến có thể là những người già trong làng, hương chức, hay người dân thường. Lễ vật cúng kiến thường đơn giản, không mâm cao cỗ đầy, chỉ biểu hiện cho tấm lòng của bà con trong xóm làng mà thôi, khác với cúng đình.

Miếu có miếu Ông, miếu Bà và miếu cô hồn. Miếu Ông là miếu thờ các vị nam thần xuất phát từ văn hoá Hán - Việt, như Quan Công, Thổ Địa, thần Nông. Miếu Bà thờ nữ thần Thiên Y A Na, Thất Thánh Nương Nương, Ngũ Hành Nương Nương, Thiên Hậu Thánh Mẫu … Miếu cô hồn thường xây cất ở các nghĩa trang thờ các vong hồn.

Trong thực tế đã cho dân gian nhận ra rằng miếu cũng trù phú hơn miễu nhiều vì miếu ngoài vẻ tôn nghiêm, được chăm sóc thờ phượng chu đáo, hàng năm thường tổ chức cúng tế, khách thập phương về hành hương nên việc trùng tu thêm thịnh đạt. Trái lại miễu, thường thường xiêu vẹo, bệ rạc, trống trước dột sau, nhang khói thường cũng lạnh tanh vắng ngắt. Từ đó, nên có câu ví von:

 

Có vải anh đà phụ sung
Có chùa bên bắc, bỏ miếu đông tồi tàn.

Tuy nhiên :

Đừng thấy miễu rách mà khinh
Miễu rách mặc miễu, thần linh hãy còn.

Hay :

Bị rách nhưng lại có vàng
Tuy rằng miếu đổ thành hoàng còn thiêng.

Nhưng cũng có :

Miếu thiêng chẳng có ai thờ
Tay ai thanh tịnh, để nhờ thắp nhang.

 

miếu hay miễu, nhưng ở miền quê, trước đây, người dân quê luôn tin rằng miếu và miễu là nơi linh ứng, có quỷ thần cư ngụ quanh năm, nên mỗi lần có điều gì oan ức, người ta hay mang nhau ra ngôi miếu hoặc miễu để "vặn cổ gà " thề thốt, vì nơi đó có quỉ thần chứng giám lời thề:

 

Lòng em như thạch, sạch như gương
Anh chẳng thương thì chớ còn mang lòng ngờ
Nếu em ngang tắt đi về
Anh đem xuống miếu Cậu, em thề cho coi
Ngay gian xin Cậu xét soi
Em gian thì Cậu gọt gáy bôi vôi em này!

 

Hay :

 

Chiếc ghe kia nói có
Chiếc ghe nọ nói không
Phải chi miếu ở gần sông
Em thề một tiếng kẻo lòng anh nghi.

 

Em thề với anh hết miễu, hết chùa
Ai cho em uống thuốc bùa em mê.

 

Có những lời thề rất độc :

 

Tôi với mình thề trước miếu ông
Sống nằm một chiếu, chết chôn một mồ.

 

Và cũng có những dí dỏm :

 

Đốt nhang lên miếu cầu chồng,
Nghe ông thần nói: đàn ông hết rồi !

 

Có khi :

 

Miễu linh chẳng dám đứng gần,
Đứng xa mà vái, thánh thần
(cũng) chứng tri.

 

Ngoài ra, để diễn tả cái lòng trung hiếu tiết nghĩa, người dân cũng mượn những hình tượng như miếu, miễu, chùa :

 

Ngó lên rừng thấy cặp cu đang đá
Ngó dưới biển thấy cặp cá đang đua,
Biểu anh về, lập miễu thờ vua,
Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha ."

 

Hay để biểu hiện lòng hiếu thảo của mình :

 

Quyết lòng lập miễu chạm rồng
Đền ơn phụ mẫu ẵm bồng ngày xưa.

 

Miễu còn là nơi hẹn hò :

 

Cây đa trốc gốc cái miễu còn ngồi
Người thương đâu mất chỗ ngồi còn đây

 

và :

 

Cây da trước miễu ai bảo cây da tàn
Bao nhiêu lá rụng thương nàng bấy nhiêu

 

NGÔ VĂN BAN

(xem tiếp kỳ 2)

 

Bài cùng tác giả

>> Dinh Trấn Biên Nha Trang dưới thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong có hay không ?

>> Việc giáo dục chữ Lễ trong gia đình và nhà trường

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ Bắc tới Nam (kỳ 2)

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ bắc tới nam (kỳ 1)

>> Thịt mèo

>> Chuyện mèo năm Mão qua câu ca tiếng nói người Việt

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 2)

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 1)

>> Những trường học tại Nha Trang xưa và nay

>> Chất biển trong con cá vịnh Nha Trang

>> Con cọp qua cái nhìn dân gian Việt Nam

>> Món cọp năm Dần

>> Về Diên Khánh ăn bánh ướt

>> Cọp Khánh Hòa

>> Thầy Đồ Cóc

>> Đất Khánh người Hòa

>> Món ngon Năm Sửu

>> Con trâu trong văn học các dân tộc VN

>> Món ngon năm chuột

>> Chuyện chuột năm Tý

>> Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

>> Vịt lội Ninh Hòa

*** Nghề làm bánh tráng ở Xóm Rượu Ninh Hòa:

>> Kỳ 1, kỳ 2, Kỳ 3

*** Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang,

     việc giỗ của người Việt:

>> Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, kỳ 11, kỳ 12

 

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến: webmaster@ninhhoatoday.net

ninhhoatoday@yahoo.com