QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

SƯU TẦM

BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HÁT ĐƯA CON - ĐIỆU HÁT RU NINH HÒA

Đỗ  Độ

 

(kỳ 1)

Một xã hội hơn 350 năm kéo dài, một cuộc sống gần như không thay đổi ở Ninh Hòa. Triều đại tuy có bao lần đổi khác, song mọi biến cố chính trị ít khi xao động đến nếp sống mọi người, đến nền dân ca nói chung, điệu hát ru Ninh Hòa nói riêng. Từ đời nay qua đời khác cũng bao nhiêu bài hát đó, điệu ru đó, cũng bao nỗi thương ghét vui buồn gởi gắm tình cảm người dân trong đó.

Nhưng có một ngày, cơn gió mạnh âm nhạc phương tây ào thổi đến, cả một nền tảng âm nhạc xa xưa bị điên đảo lung lay. Sự gặp gỡ giữa nhạc phương tây và nhạc dân tộc, đưa ra một nền âm nhạc mới, ban đầu ai cũng lạ lẫm, sau đó quen dần, rồi thấy hay hơn. Kèm theo đó, sự phát triển những dụng cụ âm nhạc hiện đại như đờn, trống, loa, đĩa, đầu máy video  v…v, đã đưa  âm nhạc phát triển một cách choáng ngợp, sôi động hào hứng hơn.  Bây  giờ ai cũng chào đón âm nhạc này. Những điệu hát ru có cách đây hàng ngàn năm nói chung, 350 năm ở Ninh Hòa nói riêng đã trở nên cũ kỹ, đi vào lụi tàn quên lãng. Tôi có cảm tưởng người hát dân ca như “Ông Đồ” của Vũ Đình Liên, ngồi “bên đường mưa bụi bay” mà không ai hay biết.  Tuổi trẻ bây giờ lớn lên, không được nghe những bài hát ru đậm đà thân thương của người mẹ. Người ta ru ngủ bằng cách bật máy hát lên những bài ca bây giờ, và cho ít thuốc ngủ nhẹ, các em cũng ngủ ngoan và mau lớn, có sao đâu?

Một ngày nọ, tôi đến thăm nhà người bạn, tôi thán phục thật sự khi thấy một bà cụ đang say sưa ru cháu bằng những bài hát xưa kia, tiếng hát buồn buồn  lạc lõng giữa phố thị, trong khi nhà bên cạnh là quán cà phê đang bập bùng tiếng nhạc mới đầy sôi động hào hứng. Khi hỏi kỹ ra, tôi mới biết bà cụ nặng tai (điếc), nên bà có nghe gì đâu nhạc cũ nhạc mới? bà chỉ biết hát những bài của chính lòng mình.

Phải chăng  chỉ có những người điếc mới có can đảm hát những bài ru xưa kia? Điều nay đã thôi thúc tôi sưu tầm những điệu hát ru đã một thời thấm sâu vào cuộc sống nhân dân, nay dần đi vào quên lãng.

A - HÁT ĐƯA CON:

Ở Ninh Hòa, hát ru thường được gọi là hát đưa “con”, tùy theo người hát, nếu là bà, là mẹ hát thì gọi là hát đưa con. (ở Ninh Hòa, bà gọi cháu bằng con, và cháu nói với bà cũng xưng hô là con nói với bà). Nếu là chị, anh hát ru em thì gọi hát đưa em. Hát đưa con là để ru cho con ngủ, nhưng cuộc hát này dính liền với việc nằm trên võng đòng đưa qua lại mới hát nên có tên  là hát đưa con. Chiếc võng là vật cần thiết, không thể tách rời trong việc hát đưa con ở Ninh Hòa.

1/ Địa điểm đặt võng hát:

Ngày xưa, hầu hết các gia đình nông thôn, khi xây dựng nhà đều có chỗ đặt võng, thường là ở nhà dưới, để trống một gian mắc chiếc võng ngang qua. Nếu là nhà 3 gian 2 chái, thì một chái để cối xay lúa, một chái dành cột võng đong đưa. Nhà nào có con nhỏ đều có nhu cầu đưa con nên phải có chỗ mắc võng. Ngoài ra , nằm võng cho mát cũng là nhu cầu không thể thiếu ở nông thôn xưa kia, khi mà không có máy quạt hay máy lạnh như bây giờ.

2/ Làm chiếc võng:

Có chỗ cột võng rồi, thì gia đình phải tự bện (làm) võng để đưa con. Thường thường là dùng võng “máu”. “Máu” là tên một loại dây leo ở trên rừng miền Trung, rất phổ biến dễ tìm thấy. Những ngày nông nhàn, cánh đàn ông lên rừng “bứt máu, bứt mây” về dùng cho việc đồng áng và gia đình trong cả năm. Dây máu leo từ cây này sang cây khác, có khi dài đến 20, 30 mét. Người ta lấy rựa chặt ra từng khúc dài từ 4 đến 5 mét, róc tách ra phần lõi, sau đó lột vỏ, còn lại là những dây máu màu đỏ hồng, nếu ngâm vào nước nhả ra màu đỏ thắm  nên có tên gọi là dây máu. Khi tách được những sợi dây máu rồi, người ta đánh thành những lọn dài khoảng 5 tấc, xỏ xâu gánh về nhà, phơi khô để dùng cho cả năm. Đặc biệt dây máu rất bền chắc, nhất là dùng ở dưới nước, người ta dùng làm dây thừng, dây đỏi để cày bừa, và người phụ nữ lúc rảnh rỗi, lấy dây máu ấy tước ra từng cọng nhỏ, đánh xe lại từng sợ dây to bằng mút đũa con, bện dần thành chiếc võng. Thời gian làm chiếc võng có khi hơn cả tháng trời. Đây là công việc tranh thủ lúc nhàn rỗi, người phụ nữ để một thau nước ở dưới đất, dùng những sợi máu nhỏ nhúng vào nước cho mềm vừa bện võng vừa hát ru con, tiếng hát khoan thai buồn buồn như thố lộ tâm can của người phụ nữ quen chắt chiu chịu đựng, thấm vào sợi máu đỏ, kết dần thành chiếc võng to lớn. Người có hoa tay  thì làm võng đẹp, võng đôi (2 lớp), người kém thì cũng làm được võng chiếc (1 lớp) để gia đình dùng khỏi mua, khi mà thị trường ở nông thôn còn ở mức tự cung tự cấp. Xong chiếc võng rồi, người ta dùng chiếc bao đựng 3, 4 giạ lúa, treo chiếc võng lên, để bao lúa ngay ngắn chính giữa, cho chiếc võng dãn đều không bị lệch.

Võng máu nằm rất êm, mát, sợi dây võng to không hằn vết máu trên thân thể người. Những buổi trưa hè, được nằm trên chiếc võng bằng dây máu, dưới mái nhà tranh, đòng đưa qua lại, nghe hát đưa con thì không gì thích thú bằng.

3/ Cách thức lắp đặt và nằm võng:

Võng có 2 đầu giống nhau, ở giữa là thân võng để người nằm. Người ta dùng dây thừng dài để cột vào một vật cố định như cây trính, cây cột nhà, rồi nối vào chiếc võng bằng một chốt ngang gọi là con găng. Con găng có thể tháo ra, lắp vô dễ dàng, thân võng cách đều mặt đất chừng 20 cm. Muốn cho võng đưa êm ái, thì dây thừng cột phải dài, dây càng dài thì khoảng cách đưa qua đưa lại càng lớn, và lực đưa càng nhẹ.

Người mẹ ẵm con lên nằm võng nằm xuống, nếu con còn quá nhỏ thì để con nằm trên mình mẹ, nếu con lớn thì để nằm đối diện với mẹ, một chân mẹ thòng xuống đất làm điểm tựa để đẩy võng đưa qua đưa lại. Cũng có khi cột một sợi dây vào một vật cố định nào đó, dùng tay nắm sợi dây, níu đưa võng.

4/ Thời gian hát đưa con:

Thường là ban đêm, ở nông thôn xưa kia không loại hình giải trí nào khác, cho nên khi lên đèn là mẹ đưa con ngủ, mẹ hát đưa con, thời gian kéo dài 1,2 giờ đến khi con ngủ thì thôi. Những lúc trở trời, con khó chịu khóc quấy không chịu ngủ, thì mẹ đưa hát cả đêm. Để hạn chế muỗi đốt, người ta tắt đèn tối om, mở hết cửa ra khoảng 15 phút, cho muỗi ra khỏi nhà, rồi đóng cửa lại mới  thắp đèn lên.

Con ban ngày, khi mẹ cho con bú xong, vội ra đồng sớm, thì giao con cho anh chị ẵm. Ẵm chán thì bỏ lên võng đòng đưa hát, thời gian không ổn định được.

5/ Người hát đưa con:

Hát đưa con là để dỗ cho con ngủ, người hát là người mẹ trong nhà, có khi mẹ bận việc thì chị hát hoặc anh hát đưa em ngủ, hoặc bà hát đưa cháu ngủ. Rất ít khi có trường hợp, người chồng hay ông nội hát cho con ngủ. Độ tuổi trung bình của mẹ hát đưa con khoảng từ 18 đến 45, nếu anh chị hát thì khoảng 9 đến 15 tuổi. Hát đưa con thường có ở nông thôn, ở thành phố thị trấn, nhà cửa chật hẹp không có chỗ đặt võng đưa con, nên ít có hát.

6/ Địa điểm và nhạc cụ hát đưa con:

Hát đưa con là loại hình nghệ thuật dân gian, không mang tính biểu diễn phục vụ, dùng trong gia đình, ai cũng có thể hát được, người hát hay thì tiếng rảnh rang, người hát dở chất giọng khàn khàn, miễn sao con ngủ là được.

So với các loại hát dân gian khác thường có nhạc cụ trống đờn  v..v. kèm theo, nhưng hát đưa con không có nhạc cụ nào cả, chỉ có chiếc võng đưa con, tiếng kẽo kẹt của võng đưa là âm thanh duy nhất hỗ trợ cho tiếng hát đưa con. Khi đưa võng nhanh, thì tiếng kẽo kẹt nhanh, khi đưa võng chậm, tiếng kẽo kẹt cũng chậm dần, giữ nhịp cho câu hát. Ở xa, người nghe tiếng võng đưa, kèm theo lời hát có thể hiểu thấu được tâm tư tình cảm của người hát đưa con vậy.

7/ Đối tượng phục vụ của hát đưa con:

Hát đưa con phục vụ ru ngủ cho con nhỏ, có khi đưa con còn rất nhỏ 2, 3 tháng tuổi, chưa có nhận thức, nhưng cũng là đối tượng phục vụ của hát đưa con. Còn phục vụ gián tiếp là những người trong gia đình, và những người hàng xóm chung quanh. Trong gia đình mẹ hát con nghe mãi rồi cũng thuộc cách điệu hát , không cần bày chỉ dẫn gì cả. Baì hát được truyền từ nhà này sang nhà khác do những người hàng xóm nghe được rồi hát theo, cho nên đối tượng phục vụ, tuy rằng chỉ hát cho con trẻ nghe, nhưng lâu dần gần như cả cộng đồng dân cư đều nghe. Sự phổ biến hát đưa con không dừng lại trong phạm vị hạn hẹp gia đình mà cho tất cả mọi người. Ngày xưa, gia đình nào mà không có con trẻ, mà số con nhiều nữa là đằng khác, cho nên gia đình nào cũng hát, ngày nào cũng có hát ru con.

Tuy hát đưa con không có biểu diễn trước công chúng nhưng nó được phổ biến rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân. Tính truyền khẩu, lâu dài có được trong những bài hát đưa con, so với các loại hát khác như đối đáp, giã gạo…. chỉ phục vụ cho một nhóm người .

Ngoài ra hát đưa con còn phục vụ  cho đời sống, tạo điều kiện để người mẹ lao động sản xuất, cho nên hát đưa con gắn bó mật thiết với sản xuất nông nghiệp, trong khi các loại hát dân gian khác , chỉ để vui chơi giải trí.

Từ khi con người có nhu cầu bảo tồn nòi giống, sinh con đẻ cái, thì có hát đưa con. Ninh Hòa có 350 năm mở cõi thì cũng đã có 350 năm hát đưa con.

B - NỘI DUNG VÀ CÁCH HÁT ĐƯA CON:

1/ Cách hát:

Mở đầu câu hát đưa con là tiếng ơ hời kéo dài tha thiết và kết thúc cũng bằng tiếng ơ hời, ơ hỡi, ơ hời da diết mến thương.Ví dụ:

Ơ……    hời..  ………

Chiều chiều bắt két (mà) nhổ lông

Két kêu (mà) bớ chị, xin đừng nhơn…..bất nhơn

Ờ hời,  ơ hỡi,  ơ hời.

Tại sao câu đầu và cuối câu hát đều có tiếng ơ hời, qua tìm hiểu, phần đông những người già đều nói đất Ninh Hòa là đất của Hời (Người Chiêm Thành), cho nên mỗi câu hát đều có tiếng ơ hời là để tưởng nhớ  đến người Hời phù hộ cho con cháu  mau lớn khỏe mạnh?

Thế thì từ Cam Ranh đến Phan Rang, hay như tỉnh Bình Định, Phú Yên đều là đất Chiêm Thành xưa kia, sao hát ru con không có tiếng ơ hời?

Vấn đề xuất phát tiếng ơ hời còn cần phải góp ý thêm, tuy nhiên mỗi khi tiếng ơ hời cất lên, một âm điệu buồn tha thiết dễ ru ngủ thấm sâu vào lòng con trẻ.

Câu hát đưa con là câu ca dao, hát đối đáp bằng thể thơ lục bát nhưng từ thứ 2 của câu lục và câu bát phải là thanh bằng mới hát mượt mà được.

Ví dụ:

Ơi ….. hời….

Gió đưa cây cải về trời

Rau răm (mà) ở lại chịu đời đắng cay.

ờ hời, ơ hỡi, ơ hời.

Nếu như câu hát có từ thứ 2 câu lục thanh trắc thì rất khó hát.

Ví dụ:

Chồng giận thì vợ bớt lời

Cơm sôi bớt lửa một đời không khê.

Thường câu hát có từ thứ 1 và 2 có âm dấu huyền, thì câu hát đó mới mượt mà êm ái hơn, ví dụ các câu hát bắt đầu có từ “chiều chiều”

Ơi … hời

Chiều chiều quạ nói với diều

Kiếm nơi đống trấu cho nhiều gà con.

Hoặc:

Chiều chiều mây phủ   Đá Bia

Đá  Bia mây phủ chị kia mất chồng.

Âm điệu câu hát, lúc đầu thanh bằng hát thấp, từ thứ 4 của câu lục và câu bát thanh trắc, hát cao lên rồi tiếp theo xuống thấp lại ở từ thứ 6. Câu nào cũng theo nhịp điệu đó, lời hát kéo dài thư thái nhàn hạ, dù có bận nhiều công việc, đầu tắt mặt tối, khi hát đưa con cũng phải chậm rãi, khoan thai theo tiếng kẽo kẹt võng đưa.

2/ Nội dung câu hát:

Mục đích chính của hát đua con là ru con ngủ, phần lớn câu hát  là của người phụ nữ chọn lựa đặt ra từ các câu ca dao, câu hát đối đáp cho phù hợp với hát đưa con, và còn dùng để thố lộ tâm tình nói lên những suy nghĩ về cuộc sống, mà hàng ngày giao tiếp nói chuyện chưa phản ảnh hết tâm tư của người phụ nữ, chỉ có hát đưa con mới có dịp bộc lộ đầy đủ đời sống nội tâm của mình.

Lời hát rất bình dị, ngôn ngữ thơ song không cách xa với lời nói hàng ngày ở địa phương Ninh Hòa. Trong câu hát ta gặp nhiều phương ngữ phổ biến như tui (tôi), dìa (về), đặng (được)… Nội dung các câu hát xoay quanh các chủ đề: Quan hệ giữa người và người, tình mẹ con, tình chồng vợ, tình cảm thiên nhiên  và loài vật….  Đặc biệt có câu hát than thân trách phận nói đến nỗi vất vả trong lao động, những nỗi đắng cay buồn tủi vì cuộc sống nghèo khổ, với người chồng vũ phu, rượu chè, bạc tình bạc nghĩa. Hát đưa con là hát của người nghèo khổ lao động, người giàu sang có mướn người ở hoặc vú nuôi để hát đưa con, nên người giàu thường không biết hát đưa con. Nói chung  những câu hát than thân trách phận của người phụ nữ thể hiện tính phụ thuộc vào chồng con, không tự mình quyết định được số phận của mình, tính nhẫn nhục chịu đựng không có ý phản kháng theo Nho giáo.

Như câu hát:  

Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?

Hoặc:                         

Gió đưa bụi chuối sau hè

Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ

 

C/ NHỮNG CÂU HÁT ĐƯA CON Ở NINH HÒA

1/ Những câu hát nói về tình nghĩa vợ chồng:

Buồn tủi đắng cay là những tâm trạng phản ánh cuộc sống của người bình dân xưa kia, đồng thời cũng gián tiếp nói lên niềm khát khao sống đậm tình nghĩa vợ chồng được thể hiện qua những câu hát tình nghĩa sau đây:

 

Một mai ai chớ bỏ ai

Chỉ thêu nên gấm sắc mài nên kim

 

Quạ kêu nam đáo nữ phòng

Người dưng khác họ đem lòng nhớ thương.

 

Trồng trầu thì phải khai mương

Làm trai  hai vợ phải thương cho đồng.

 

Gió đưa bụi chuối sau hè

Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ.

 

Ví dầu bậu tốt bậu xinh

Muốn vô làm bé phải rinh đòn ngồi.

 

Ví dầu tình bậu muốn thôi

Bậu gieo tiếng giữ cho rồi bậu ra

Bậu ra cho khỏi tay ta

Cái xương bậu nát cái da bậu mềm.

 

Tay bưng dĩa muối sàng rau

Chấm lia chấm lịa cho mau cất sàng

Cực lòng tui mới lấy chàng

Rau luộc chấm muối dịu dàng gì đâu!

 

Ớt nào là ớt chẳng cay

Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.

 

Chiều chiều mây phủ Đá Bia

Đá Bia mây phủ chị kia mất chồng

Mất chồng tui chẳng có lo

Sợ anh mất vợ nằm co một mình.

 

Gió đưa bông cúc bông cà

Gió đưa chị bảy về nhà anh ba

Anh ba đi cưới chị ba

Mâm trầu hũ rượu hết ba mươi đồng.

 

Gió đưa bụi chuối sau hè

Anh mê con chị dò dè con em

Con em bồ luốc bồ lem

Suốt ngày cứ bắt giữ em quét nhà

Chờ cho thắm thịt đỏ da

Chân mày ngay ngắn thì anh lén rờ.

 

Tay bưng dĩa muối chấm gừng

Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau.

 

Ví dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi

Khó đi mẹ dắt con đi

Con thi trường học mẹ thi trường đời.

 

Anh về Bình Định thăm cha

Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm con.

 

Mẹ ơi đừng đánh con đau

Để con bắt ốc hái rau mẹ nhờ.

           

Cha già con muộn chơi vơi

Cha làm trối chết con chơi tối ngày.

 

Ra đi mẹ có dặn rằng

Sông sâu đừng lội, đường bằng đừng đi

Ai đừng chơi đó quên đăng

Chơi lê quên lựu  chơi trăng quên đèn.

 

Tay cầm bó lạt bẻ cò

Dẫu thương cho mấy giả đò ngó lơ.

 

Anh dìa để lại túi trầu

Để em bớt nhớ bớt sầu nhớ ai

 

Hai tay cầm bốn trái dưa

Trái ăn trái để trái đưa cho chàng

Hai tay đeo bốn chiếc vàng

Của cha mẹ sắm của chàng một đôi.

 

Ngó ra ngoài biển ba lần

Thấy anh ở trần trong bụng xót xa

Trở dìa (về) mua vải đậu ba

Cắt quần đáy giữa em tra cổ kiềng

Mai sau anh có lấy vợ Mỹ Điền

Đón truông đạp ngõ áo cổ kiềng xé hai.

 

Đỗ  Độ

(xem tiếp kỳ 2)

 

Bài cùng tác giả

 

>> Hương vị quê hương Ninh Hòa

>> Những chuyện vui "Ông cọp" ở Ninh Hòa

>> Địa danh cũ ở Thị trấn Ninh Hòa

>> Nhớ nem Ninh Hòa

>> Mùa xuân bắt chuột

>> Lần săn chuột thành công nhất

>> Câu đố dân gian Ninh Hòa (kỳ 1)

>> Câu đố dân gian Ninh Hòa (kỳ 2)

>> Câu đố dân gian Ninh Hòa (kỳ 3)

 

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến: webmaster@ninhhoatoday.net

ninhhoatoday@yahoo.com