QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

SƯU TẦM

BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHỮNG ĐIỆU HÒ BIỂN Ở NINH HÒA

VÀ VẠN NINH

HUỲNH LIÊN

 (K ỳ 1)

 

 SƠ LƯỢC NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VỀ LỊCH SỬ - VĂN HÓA CỦA 2 HUYỆN NINH HÒA & VẠN NINH

1. Về lịch sử và tính cách:

Ninh Hòa và Vạn Ninh trước kia là Huyện Tân Định và Quảng Phước thuộc phủ Thái Khang rồi Bình Khang (1653 - 1690). Năm Gia Long thứ hai (1803) phủ Bình Khang đổi thành Bình Hòa. Năm Minh Mạng thứ mười hai (1831) phủ Bình Hòa lại đổi thành phủ Ninh Hòa… Sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, chúng mở ra con đường 21 (Quốc lộ 26 ngày nay) nối liền giữa Buôn Ma Thuột với Huyện Tân Định và cảng Hòn Khói. Chúng đổi Huyện Tân Định thành phủ Ninh Hòa và phủ Ninh Hòa cũ đổi thành Huyện Vạn Ninh ngày nay. Như vậy giữa hai huyện ngay từ khi Chúa Nguyễn Phúc Tần sai cai cơ Hùng Lộc Hầu mở mang bờ cỏi về phương Nam (1653) đã là “anh em” một nhà với nhau gần 200 năm. Tiêu biểu nhất trong thời kỳ đấu tranh chống thực dân và phong kiến là phong trào Cần Vương. Trong dân gian và lịch sử không ai mà không nhớ câu: “Khánh Hòa tam kiệt, Quảng Phước tam hùng”. Nhớ lại lịch sử nước nhà giai đoạn này, chắc hẳn chúng ta khó quên: Tháng 9/1858 thực dân Pháp chính thức xâm lược nước ta. Năm Ất Dậu (1885) Pháp đánh chiếm kinh thành Huế (kinh đô triều Nguyễn), Vua Hàm Nghi phải bôn tẩu ra Quảng Trị và xuống hịch Cần Vương đánh Pháp…

Ở  Khánh Hòa lúc này có 3 ông: Trịnh Phong, Trần Đường và Nguyễn Khanh đứng lên tập hợp nhân quần hào kiệt, dựng nghĩa kỳ Bình Tây…Trịnh Phong được ba quân tướng sĩ tôn làm Bình Tây Đại Tướng, trấn ở Hòn Khói và khu Nam (Tân Định – tức Ninh Hòa). Ông Trần Đường được phong làm Tổng trấn cùng 3 ông: Nguyễn Sum, Phạm Chánh và Phạm Long trấn thủ khu Bắc ( Quảng Phước – tức Vạn Ninh). Ông Nguyễn Khanh, được phong làm Tán Tương quân vụ cùng 2 người em là Nguyễn Dị và Nguyễn Lương lo việc tuyển mộ binh sĩ, tiếp tế cho quân đội..

Phong trào đã đáp ứng được tinh thần yêu nước của nhân dân, nên được đa số nhân dân vùng Ninh Hòa – Vạn Ninh hưởng ứng tham gia đánh Pháp. Nhiều trận đánh làm thất điên bát đảo giặc Pháp và bọn tay sai Việt gian. Tuy nhiên, trước sức mạnh về quân số và nhất là vũ khí hiện đại cùng với phương tiện kỹ thuật của Pháp, quân ta dần dần bị suy yếu…Tháng 6 năm Bính Tuất (1886) phong trào đã bị giặc diềm vào biển máu. Ông Trần Đường bị giặc bắt giết và bêu đầu 3 ngày… Các ông Trịnh Phong, Nguyễn Khanh và 3 ông: Phạm Chánh, Phạm Long và Nguyễn Sum bị tử hình.

Tam kiệt là chỉ 3 ông: Trịnh Phong, Trần Đường, và nguyễn Khanh ( ông Trần Đường người Vạn Ninh – đất Hiền Lương).

Tam hùng là chỉ 3 ông: Phạm Chánh, Phạm Long và nguyễn Sum (cả 3 đều là người Quảng Phước tức Vạn Ninh).

Những tên núi, tên đèo của hai vùng một thời “sống chết” như núi Phổ Đà, Dốc Thị, Đá Đen…(Vạn Ninh), Hòn Khói, Đồng Chày, Tiên Du, Rọ Tượng…(Ninh Hòa) đã và sẽ còn vang mãi trong lòng nhân dân hai Huyện.

Ngày nay, tuy 2 huyện “ra riêng” nhưng cũng vẫn là con của mẹ Khánh Hòa…Chẳng phải cũng là theo một quy luật: “Chim đủ lông đủ cánh chim bay, người nên gia thất thì rày ra riêng” đấy thôi.! Và một  điều thú vị đối với người Ninh Hoà và Vạn Ninh là từ cách ăn, ở,  mặc đến các phong tục tập quán như cưới hỏi, tang chế, lễ hội cho tới cách phát âm tiếng nói…đều gần như giống hệt nhau. Có lẽ đây là một trong các yếu tố cơ bản để hình thành và tồn tại một nét sinh hoạt văn hóa riêng mà độc đáo ở vùng trung trung bộ này. Điều này được phản ảnh rõ nét qua các câu hò biển, điệu lý và đặc biệt là điệu Hò Bá trạo, mang đậm bản sắc người dân miền biển: nhân  ái, thủy chung, đoàn kết, vững tin.

2. Về địa lý và văn hóa:

Ngoài những đặc điểm tương đồng là vùng có nhiều núi rừng, sông ngòi, Ninh Hòa – Vạn Ninh còn có chung bờ biển dài trên 100km để anh em cùng chung nữa Vịnh Vân Phong, sẽ là cảng biển kinh tế, du lịch trọng điểm của Tỉnh, khu vực và cả nước. Nói về biển, không những là vùng có nhiều loại cá sống, sinh sôi mà hình như nhân dân hai Huyện đều có chung một ngọn gió nam, một làn gió nồm và cả một cơn gió bấc…Nếu không sao lại có câu ca dao:

“Ninh Hòa,Vạn Giã bao xa

Mà sao mong nhớ diết da cõi lòng”

Trở lại vấn đề văn hóa và văn hóa nghệ thuật, qua nghiên  cứu, chúng ta thấy rất rõ là sự sáng tạo của ông cha thật đa dạng, phong phú và trên cả các lĩnh vực từ ca ngợi thiên nhiên, tình yêu trong sáng thủy chung, ngành nghề, ẩm thực và cả nhẵng truyền thuyết nữa, như truyền thuyết về Ngậm Ngải Tìm Trầm là một ví dụ.

Xin không dám bình phẩm gì thêm, chỉ xin được ghi lại một số câu ca dao, câu hát nói lên các điểm gọi là tương đồng của nhân dân hai Huyện mà tổ tiên, ông bà đã sáng tác và để lại mà tôi được đọc chẳng hạn như:

- Về đặc tính địa lý chung:

“Mây Hòn Hèo, Heo đất đỏ

Mưa đồng Cộ, gió Tu Hoa (Tu Bông)

Cọp ổ Gà, ma đồng Lớn (Hòn Lớn)

- Về ca ngợi thiên nhiên:

+ Vạn Ninh có:

“Lặc lìa biển trải cỏ xanh

Lô nhô sóng bạc trổ cành hoa tươi

Vườn hoa bướm lượn thảnh thơi 

Gió đưa buồm trắng ra khơi chập chờn”

+ Ninh hòa có:

“Ninh Hòa hai tiếng vấn vương

Người đi để nhớ để thương cho người

Sông dài biển rộng non cao

Nghìn năm muối mặn gừng cay vẫn là”

- Về tình yêu đôi lứa:

+ Ninh Hòa có:

“Sông Dinh có ba ngọn nguồn

Nhớ em anh băng ngàn vượt suối

Nhưng không biết đường đến thăm em

Ghé vô chợ Ninh Hòa mua một xâu nem

Một chai rượu bọt - anh uống cho say mèm

Để quên nổi nhớ nhung

Rượu không say anh nghĩ lại, ngại ngùng

Con gái mười hai bến nước

Biết em thủy chung bến nào?”

Và:

“Ngàn  sau còn đó Vọng Phu

Chờ chồng hóa đá nghìn thu chạnh lòng!”

+ Vạn Ninh có:

“Trèo lên đèo Cả, trông xuống Vạn Giã, Tu Bông

Biết rằng phụ mẫu có đành không

Để anh chờ em đợi uổng công hai đàng”

Hay:

“Cây quế thiên thai mọc nơi đầu hang đá

Trầm nơi Vạn Giã hương tỏa sơn lâm

Đôi đứa mình đây như quế với trầm

Trời xe gặp gỡ sắc cầm trăm năm”.

- Về hải sản, thực phẩm, ẩm thực:

+ Vạn Ninh có: Hải sâm, giông, cháo hầu…

+ Ninh Hòa có: Heo đất đỏ, thịt vịt, nem chua, bún lá cá giầm…

- Về nghề truyền thống

+ Vạn Ninh có: Nghề khai thác đá Tân Dân, nghề câu, lưới đăng, ghe nan, thúng chai, đan lưới, làm bánh tráng…

+ Ninh Hòa có: Nghề câu ghe, lưới đăng, đan lá đệm, làm ghe nan, thúng chai, làm bánh phu thê, dệt chiếu…

- Một cái chung gần như một, đó là tục thờ cá Ông (Nam Hải) và Lễ hội Cầu Ngư ở tất cả các xã vùng biển. Ngoài ra còn có nét chung nữa là: phong cách Hô bài chòi, Hát xà, Hát mộc, Hát bội và các loại hình văn hóa dân gian có từ thế kỷ 19. (4). Chừng đó có lẽ cũng đủ “tình” và “lý” để nói rằng Ninh Hòa và Vạn Ninh là “2 anh em cùng một cha một mẹ” không thể khác được bởi văn hóa là “linh hồn” của mỗi con người, mà linh hồn thì không có sự phân lập và không bao giờ mất. Từ đó, khi chúng ta bàn về các điệu hò, câu lý, hình thức lễ hội dân gian sẽ không lấy làm ngạc nhiên vì sao nó giống nhau hay ít ra gần như từ “một bài bản” mà ra!...

SỰ HÌNH THÀNH, TỒN TẠI CÁC ĐIỆU HÒ NINH HÒA, VẠN NINH

1. Xuất phát từ đặc điểm địa lý và dân cư:

Tính đến cuối năm 2009, theo niên giám thống kê của 2 huyện Ninh Hòa – Vạn Ninh thì 2 huyện có tổng cộng là 40 xã, thị trấn (Ninh Hòa 27, Vạn Ninh 13). Trong đó số xã thuộc vùng biển, biển đảo là 20 chiếm 50%. 50% số xã nếu dùng phép suy rộng cũng có nghĩa là về dân số cũng xấp xỉ hoặc chiếm hơn 50% dân số của mỗi địa phương, đây quả là điều lý thú.

Theo tài liệu lịch sử, nhìn chung trước thời kỳ 1653 cho đến sau 1800, đường bộ chưa được phát triển, phương tiện đi lại từ sinh hoạt đến giao thương đều là trên biển. Những đoàn người theo chân đoàn quân mở cõi vào Nam của Hùng Lộc Hầu gần như đi bằng con đường sóng gió này và các bờ biển, cửa lạch, cửa sông, cồn bãi chính là nơi “lập gia phát nghiệp” của họ. Cho đến nay, như chúng ta thấy đó, vẫn không có gì khác! Điều này nói lên rằng phải chăng đa số người dân Ninh Hòa – Vạn Ninh đều sống với biển, từ biển mở rộng lên đồng bằng và miền cao. Với tổng chiều dài bờ biển trên 100km, là khu vực biển có nhiều Vịnh, đảo, có các hệ sinh thái đa dạng và phong phú do đó không những giàu tiềm năng kinh tế biển mà là nơi đất lành chim đậu từ bao đời để từ đó sinh ra nhiều câu hò biển là điều dể hiểu.

Cũng như các dòng dân ca khác, những câu hò, điệu lý, câu hát đồng dao vùng Ninh Hòa – Vạn Ninh đều xuất hiện từ trong quá trình đấu tranh lao động và phát triển; từ những kinh nghiệm chống chọi với sự khắc nghiệt, ác liệt của thiên nhiên để rồi hình thành nên câu hát, điệu hò nhằm nhắc nhở, động viên, dạy bảo nhau hoặc để vui đùa lúc nhàn rỗi, chẳng hạn như vè thời tiết, vè các loại cá. Riêng về vè thời tiết thì hầu như ở cả Ninh Hòa và Vạn Ninh đều giống nhau. Cụ Lê Bộc còn nói thêm là “các ý trong bài vè đem nghiệm với thời tiết đến nay còn đúng lắm, và người đi biển vẫn còn dựa vào đó”. Kinh nghiệm đến độ người làm nghề đánh bắt còn đoán từng ngọn gió thế nào, màu nước, dòng chảy, tầng con sóng…để biết có cá hay không, nhiều hay ít, biết cả có sóng to gió lớn hay biển vẫn bình yên và sóng vẫn dạt dào.

Không ai có thể nói chính xác những bài hò, điệu lý, bài vè cả Bổn tuồng Hò Bá trạo ra đời tại làng, xã nào, ngày tháng năm nào, đời vua nào…thế nhưng hết đời ông đến đời cha, hết đời cha đến đời con, cháu cứ thế mà họ ngâm nga ca xướng, đồng thời theo quá trình tiến triển của xã hội loài người, khi mà những phương tiện nghe nhìn bắt đầu xuất hiện, ông cha ta có dịp để nhìn lại,  sửa chữa, bổ sung và hoàn chỉnh dần để trở thành một “khuôn mẫu” (mà thuật ngữ chúng ta gọi là làn điệu - Tức là theo một quy chuẩn cụ thể) rồi truyền bá ra. Cũng có vùng,  có nghệ nhân từ những làn điệu đó, ngẫu hứng đặt lời khác để hát cho phù hợp hoàn cảnh lúc đó. Cho nên có khi chúng ta nghe cùng một giai điệu đó, chỗ này lời hát khác chỗ kia. Hay trong tư duy của ông cha chúng ta, khi dùng hình ảnh để ví von nhằm giáo dục, động viên người thân, cũng ý đó nhưng hát một cách khác, tức là “sáng tác” ra giai điệu khác, hoặc lai đi một chút gọi là “dị bản” (2 bài lý con cua chẳng hạn).

Theo các cụ cho biết và cũng theo một số tài liệu tôi có được, thì sự hình thành các điệu hò, câu lý, bài vè, Hò Bá trạo…Vùng Ninh Hòa - Vạn Ninh được ra đời bằng các nguồn gốc sau:

Hò, vè: Từ trong lao động, cuộc sống, kinh nghiệm…văn phong bình dân, dể nhớ, dể thuộc, ai cũng có thể đặt được.

Lý: Đa số là dùng hình ảnh để lồng vào tư tưởng chủ đạo, nhằm chỉ ra một vấn đề nào đó, thường là răn bảo (vợ khuyên chồng, chồng khuyên vợ, anh em bảo nhau). Loại này chỉ có số ít người “có chữ” mới đủ sức lý luận (lý ở đây là lý luận – lý giải) và thường là khó hát hơn hò vì “nặng” về sắc thái hơn hát “tự do” như hò.

Hò Bá trạo: Đây là loại hình nghệ thuật “cao cấp” hơn cả. Nó là một bổn tuồng có thể diễn từ 120 – 150 phút, gồm nhiều lớp, nhiều đoạn, có vui – buồn – đau khổ - đấu tranh (với thiên nhiên gió bão) và để đạt mục đích chính là thể hiện lòng tôn thờ Thần Nam Hải (cá Voi - Ông)

Về mặt âm nhạc (xin được nói phần âm nhạc là chính) trong bổn tuồng Bá trạo “là một tổng hợp của nhiều loại hình ca hát. Có lối tán tụng của các sư sãi, có nói lối (kể) của hát Bội, có vè Quảng, hò bài chòi (bài chòi cổ), hò đưa linh, hò khoan, hò đua thuyền, ngâm thơ điệu Huế” (Nguyễn Văn Bổn – Văn học dân gian miền biển trang 121). Nói như thế có nghĩa là nó được du nhập từ các vùng biển Quảng Bình, Huế, Quảng Nam, Bình Định trở vào rồi phát triển rộng ra. Hiện nay Hò Bá trạo ở Ninh Hòa – Vạn Ninh còn thấy xuất hiện thêm một số bài bản mới bên cạnh lối hát Nam, xướng và hò bài chòi, đó là các điệu lý (lý tát nước, lý kéo neo, lý thiên thai) hoặc hò lơ (hò hỡi lơ) hay hò hụi.

2. Sơ bộ phân tích sự cấu tạo giai điệu của các điệu hò, lý, vè:

Từ nhỏ, tôi thường hay nghe các thầy cô và cả những người lớn nói đại ý là: mãnh đất miền trung là nơi “thiếu sang giàu mà nhiều nghèo khổ” hay câu nói (chắc là vui thôi): miền trung như cái “ễnh” (đoạn giữa) của cây đòn gánh, có bao nhiêu trút cho 2 đầu hết. Ninh Hòa – Vạn Ninh nằm trong cái rốn của miền trung. Đông là biển, tây là dãy Trường Sơn cao ngất. Mùa mưa, mưa như trút nước, biển giã mịt mùng. Mùa nắng, nắng nám da bầu. Mùa biển động, gió hất cả cồn cát vào nhà, hất cả ghe thuyền lên bãi. Nắng làm cho da những chàng trai biển đen bóng. Gió làm cho mắt các cô gái dù mẹ sinh có to cũng thành ra “ti hí”. Thiên nhiên khắc nghiệt là vậy cho nên bù lại người ta phải sống nặng tình nặng nghĩa với nhau. Hãy xướng lên câu hát, chúng ta sẽ thấy rõ điều này. Về cấu trúc âm nhạc (giai điệu), những câu hò thường là ngọt ngào, yêu thương, nồng ấm, tin tưởng, hăng say. Đa số (gần như tất cả) được cấu tạo theo thể đoạn phức, hát 1 lần, một khổ, một lời ca. Nếu có 2 lời thì lời 2 hát như lời 1 ( phiên khúc 1 và 2 cùng 1 đoạn, không có phần B – điệp khúc) và ngắn, bình quân chung từ 48 đến 64 ô nhịp. Cũng có bài dài hơn nhưng ít, chỉ có ở các bài vè. Các bài hò thường cấu tạo theo điệu thức thứ, nhiều dấu luyến. Một số bài thường kết bằng quảng 8(là - la) cũng có nhiều bài thường đọng ở quảng 6 tăng(la – fadiese) trước khi kết ở quảng 4 hoặc âm chủ. Do đó mà âm hưởng sâu lắng, rung động, xao xuyến, ngọt ngào, man mác buồn nhưng kết lại sáng lên. Điều này biểu hiện rõ nét tính cách của người dân xứ này là dù có “Bi” nhưng không “Lụy” mà hy vọng tin tưởng sẽ vươn lên, sẽ đạt mục đích. Tính cách này chúng ta có thể gọi là “Bi tráng”, mà quả thật như vậy, người miền trung ít khi đầu hàng nghịch cảnh.

Các bài lý, vè hầu hết viết ở điệu thức trưởng, tính chất vui, mạnh mẽ, chắc khỏe và sôi động hơn. Sôi động nhưng không “ồn ào”. Các bài giọng trưởng thường kết về chủ âm theo cấu tạo điệu thức âm nhạc phương Tây nhưng không thấy có trường hợp nào trưởng thứ xen nhau hay “biến cốt” từ trưởng qua thứ và ngược lại như âm nhạc phổ thông. Riêng thể loại vè, nếu hư hò hay lý, gần như được cấu tạo có “bài bản”, khúc thức chặt chẽ, cao độ - trường độ - âm sắc đều có chủ ý thì vè lại được hát theo lối “tự nhiên như nhiên” (tức là như giỡn), hay còn gọi là theo phong cách đồng dao (phong cách đồng dao được coi là hơi thở của tuổi thơ,tuổi của hồn nhiên, sôi nổi, tung tăng…)

Đối với các bài bản trong bổn tuồng Hò Bá trạo thì đa dạng hơn. Ngoài các thể như hô, nói, các bài lý ngắn có tính cách hô hào, nói dậm hay than vản…thì đa số lời ca được hát theo lối Hát Nam và Nam Xuân, lối hát này đòi hỏi giọng phải “ngọt”, hơi dài, ngân nga điệu nghệ, cao trào cũng phải “nức nở” bi ai và là lối hát dễ thu hút người nghe hơn cả. Ngoài ra, trong bổn tuồng Bá trạo còn có lối hát đối đáp…Sở dĩ tôi cần nói thêm các yếu tố đó là để chúng ta hình dung ra rằng cách cấu tạo giai điệu, tiết tấu trong các  bài bản dùng trong bổn chèo Bá trạo là rất đa dạng, phong phú, linh hoạt, nó không theo một trường phái “sáng tác” nào cả. Và phải nói thật, ký âm được hết sẽ là điều không dễ dàng trong một thời gian ngắn…

Cũng cần nói thêm một chút về vè. Nếu như ở các nơi như Bình Định, Quảng Nam…vè được thể hiện như là hát – Hát vè. Âm điệu của hát vè ở các vùng này gần như là hát lôtô (chưa rõ “ai” giống “ai”). Còn vè ở vùng Ninh Hoà – Vạn Ninh là nói vè. Chính vì vậy nó không phải quá lệ thuộc vào giai điệu và tiết tấu mà nó tự trào theo cảm xúc và trạng thái tâm lý của người diễn viên (hát) lúc đó. Cho nên chúng ta thấy có một biểu cảm chung của vè là sôi nổi, phấn chấn, vui vẻ, lạc quan. Vì vậy trong những bài tôi ghi lại, tuy là bằng giai điệu âm nhạc, nhưng khi thực hiện có thể không buộc phải lệ thuộc 100% như một tác phẩm âm nhạc chính thống.

Từ 2 yếu tố có tính cơ bản trên, dù biết nói ra có ai đó sẽ cho là “ ngoa ngôn, tự tôn quá đáng” cũng xin được nói mấy lời rằng: Những câu hò, điệu lý, lời hát trong phạm vi “những điệu hò vùng biển Ninh Hòa -  Vạn Ninh” là sản phẩm tinh thần vô cùng quý giá mà người dân nơi này đã sáng tạo, giữ gìn và lưu truyền từ bao đời. Nó đã trở thành một phần máu thịt của người dân rồi thì không thể để nó nhạt phai..

3. Nhóm các bài bản:

Trong quá trình sưu tầm, ghi lại tô cố gắng giữ nguyên giai điệu cũng như lời ca của các nghệ nhân. Tuy nhiên, để nó được hoàn chỉnh heo một số quy định về cấu tạo hòa âm, giai điệu âm nhạc nên phải đưa nó về theo khuôn khổ. Về lời cũng vậy, chỉ thay một số từ phát âm theo thổ âm và một vài từ không rõ nghĩa mà thôi. Rất mong được thông cảm.

Sơ bộ bước đầu xin tạm thời phân ra 5 nhóm như sau:

Các điệu hò trong bổn chèo Bá trạo gồm: Ra khơi, hò hỡi lơ, hát trách thân, lý thiên thai, hò kéo neo, hò hụi, hò hù khoan, hò đưa linh, hò lui thuyền.

Các điệu hò thuộc tình cảm gia đình gồm: Bài ca vá lưới (tức Ru con), hò may áo, hò huê tình.

Các bài lý và hò có tính giáo dục và chọc ghẹo gồm: Lý con cua(1), lý con cua(2), lý con cá hố, hò khoan lên.

Các điệu hò về đánh bắt hải sản gồm: Hò nhổ neo, hò hố khoan, hò kéo lưới(1), hò kéo lưới(2), xáng ú xáng.

Nhóm vè gồm: Vè thời tiết, vè các loài cá, vè nói ngược.

HUỲNH LIÊN

(xem tiếp kỳ 2)

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến: webmaster@ninhhoatoday.net

ninhhoatoday@yahoo.com