QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

SƯU TẦM

BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ca dao Khánh Hòa

Lê Khánh Mai

(Kỳ 2)

 

>> Ca dao Khánh Hòa (kỳ 1)

 

 

 

 

2.Về con người.

 

Tính cách con người ở một địa phương, một vùng đất nào đó được hình thành bởi rất nhiều yếu tố như: hoàn cảnh tự nhiên, xã hội, điều kiện lao động và quá trình lịch sử…

Người Khánh Hoà có lòng yêu quê hương đất nước sâu nặng. Tình yêu ấy thể hiện ở niềm tự hào về phong cảnh xinh đẹp, sản vật phong phú và những con người anh hùng đã làm rạng rỡ non sông.

 

Giá trị cao quí của độc lập tự do đã được người dân Khánh Hoà nhận thức sâu sắc. Mượn lời mẹ nói với con, thế hệ trước nói với thế hệ sau, ca dao đã nhắc nhở mọi người nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc độc lập tự do. Yêu nước, xả thân vì đất nước được xem là chuẩn mực đạo đức, tài năng của con người.

 

Nghe lời mẹ đứng lên đi

Nước không độc lập sống  gì hỡi con

 

Trai tài yêu nước, yêu nhà

Nước kia có trọn thì nhà mới yên

 

Người Khánh Hoà vốn không ưa khuếch trương, sống thiên về nội tâm, tình cảm rất dồi  dào và chân thành. Cách nói, cách bộc lộ tình cảm của ca dao Khánh Hoà không sôi nổi, bóng gió và có phần hoa mỹ như ca dao Bắc bộ, cũng không thẳng thắn, bộc trực như ca dao Nam Bộ. Tình yêu, tình vợ chồng, tình me ïcon, gia đình, tình người… tất cả được diễn đạt một cách rõ ràng, cụ thể, ít ẩn dụ xa xôi mà rất thắm thiết, rất thật.

 

Gió đâu bằng gió Tu Bông

Thương ai bằng thương cha , thương mẹ, thương chồng thương con.

 

Tu Bông là một vùng làng dưới chân đèo Cả, ba bề có núi bao bọc tạo thành cái rốn gió, xưa kia đất này còn gọi là Tụ Phong. Tục ngữ có câu “Mưa Đồng Cọ, gió Tu Bông”. Mưa Đồng Cọ rất lớn. Gió Tu Bông rất mạnh và xoáy. Tình cảm gia đình được ví như cái gió Tu Bông nồng nàn, mãnh liệt.

 

Tình cảm mẹ con không chỉ được sánh với núi cao, biển  rộng, với những cơn gió quê nhà, mà còn  được thể hiện bằng việc làm cụ thể, lao động chăm chỉ để phụng dưỡng mẹ già.

 

Cầm cần câu cá liệt xuôi

Lấy tiền mua gạo mà nuôi mẹ già

 

Hình ảnh “đèo”, “hòn” xuất hiện nhiều trong ca dao Khánh Hoà. Có lẽ đây cũng là một nét chung của ca dao miền  Nam Trung bộ, dải đất Khu V dằng dặc, chạy ven biển, lắm núi, nhiều đèo, nhiều đảo.

 

Vợ chồng nghĩa nặng tình thâm cũng ví như con đèo sừng sững, ví như hòn đảo trơ gan giữa đất trời.

 

Đèo nào cao bằng đèo Rọ Tượng

Nghĩa nào trượng bằng nghĩa phu thê

 

Bao giờ Hòn Chữ bể tư

Biển Nha Trang cạn nước anh mới từ nghĩa em

 

Trai gái yêu nhau mượn hình ảnh con đèo, cái hòn để tỏ tình, thề thốt.

 

Anh thương em đặng nghĩa vuông tròn

Mấy sông cũng lội mấy hòn cũng qua

 

Ca dao Khánh Hoà nói về biển, về cá tôm cũng nhiều như nói về những con đđèo. Đã từ lâu đời người Khánh Hoà sống chủ yếu bằng nghề đi núi và đi biển. Do đó tình yêu, tình người gắn với quế, với trầm, với tôm cá, đó , đăng.

 

Đôi ta như cặp cá bè

Lênh đênh trên biển ai dè gặp nhau

Đôi ta như cặp cá sơn

Ăn trên mặt nước, đợi cơn mưa rào.

 

Và để nhắn nhủ nhau yêu thương, chung thuỷ, trai gái thường nhắc đến các công việc quen thuộc thường ngày của nghề biển

 

Anh đừng ham đó, bỏ đăng

Ham lê quên lựu, ham trăng quên đèn.

 

Từ ca dao Khánh Hoà ta có thể hình dung được diện mạo con người Khánh Hoà: yêu nhiều hơn ghét, thương nhiều hơn giận, lấy hoà khí làm trọng, không ưa đấu lý, lao động chân chỉ, luôn luôn có một niềm tin ở thời gian, cuộc sống và những giá trị.

 

Dó lâu năm dó thành kỳ

Đá kia lăn lóc có khi hoá vàng

 

Đó cũng là lý do vì sao những tâm trạng buồn chán, thất vọng bi lụy vắng bóng trong ca dao Khánh Hoà.

 

III.VÀI NÉT VỀ NGHỆ THUẬT CA DAO KHÁNH HÒA

 

1.Về thể thơ

 

Nói đến ca dao người ta thường nghĩ đến thể thơ truyền thống là lục bát. Thơ lục bát vốn có cấu trúc ưu việt, hoàn hảo: câu 6, câu 8, luật bằng, trắc, mạch thơ đi đều đặn, nhịp nhàng, tạo nên chất ngâm, điệu ru ngọt ngào. Đây là hình thức thơ cổ điển nhất của ca dao.

 

Theo thống kê của Bùi Mạnh Nhị trong cuốn “Ca dao dân ca Nam bộ” (3) cho thấy tỉ lệ thơ lục bát trong ca dao Bắc bộ cao hơn ca dao Nam bộ. Ca dao Bắc bộ có nhiều bài lục bát đạt đến trình độ điêu luyện, tinh xảo. Ca dao Khánh Hoà có những bài sử dụng hình thức lục bát nguyên vẹn nhưng nhìn chung là sử dụng hình thức lục bát biến thể nhiều hơn.

 

Đặc điểm của lục bát biến thể là câu trên 6 hoặc hơn 6. Câu dưới không phải là 8 mà là 10, 11 hoặc 12 tuỳ ý, nhưng vần thì tuân theo kiểu vần của lục bát.

 

Ví dụ:

Sóng sao bọt nước xanh xanh

Chàng bỏ thiếp cuối bãi đầu ghềnh đêm đông

Thiếp hỏi chàng có thương trọn hay không

Làm cho thiếp đợi, mất công thiếp chờ

 

Đôi ta gá nghĩa chung tình

Dù ăn cơm mắm ngủ ngoài đình cũng ưng.

 

Thể thơ song thất lục bát cũng được sử dụng trong ca dao Khánh Hoà

 

Dám đâu quên kẻ anh tài

Rèn gan sắt đá khôn nài bể dâu

Gương tuấn dũng làu làu Phạm Chánh

Cùng Phạm Long chung gánh nước non

Cha con trung nghĩa vẹn toàn

Cùng Nguyễn Sung nguyện mất còn có nhau

Bao phen cay đắng hận thù

Tam hùng tam kiệt nghìn thu trăng rằm

 

Nhìn chung ca dao Khánh Hoà ít sử dụng lục bát nguyên vẹn họăc song thất lục bát mà sử dụng nhiều lục bát biến thể và tổng hợp.

 

Đặc biệt thể thơ tổng hợp được sử dụng  rất linh động, khéo léo, tạo nên cách nói tự nhiên, chân thật.

 

Sông Dinh có ba ngọn nguồn

Anh nhớ em băng đèo vượt suối

Nhưng chưa biết đường tìm đến thăm em

Ghé vô chợ Ninh Hoà mua một xâu nem

Một chai rượu bọt

Anh uống say mèn

Để quên nỗi nhớ thương.

 

Hình thức biến thể và hỗn hợp được sử dụng nhiều trong ca dao Khánh Hoà cho thấy hai điều. “Thứ nhất sáng tác dân gian chưa  được kỳ công, tinh xảo như văn chương bác học. Văn chương bác học không có hình thức biến thể, thêm bớt số tiếng. Thứ hai, sáng tác dân gian thể hiện sự hồn nhiên, không gò bó, theo hình thức phóng khoáng của người bình dân” (4)

 

2.Về hình ảnh.

 

Như trên chúng tôi đã nói, trong ca dao Khánh Hoà có rất nhiều hình ảnh thiên nhiên, những cơn gió, ngọn núi, con đèo, bãi biển, tảng đá và những hòn (gồm các đảo hoặc gò đất, tảng đá nổi trên biển, trên sông). Những hình ảnh này  được ca dao sử dụng với  ý nghĩa tượng trưng cho vẻ đẹp, sự phong phú đa dạng của thiên nhiên và những phẩm chất của con người.

 

Chẳng  hạn Hòn Chữ thể hiện sự bền vững, không xê dịch, chuyển dời với thời gian. Gió Tu Bông tượng trưng cho tình cảm con người nồng nàn, thắm thiết. Đèo Rọ Tượng là biểu tượng của tình chồng nghĩa vợ.

 

Hình ảnh thiên nhiên cùng với tên địa danh cụ thể trong ca dao Khánh Hoà làm nên sắc thái địa phương rõ nét.

 

3.Về ngôn ngữ.

 

Ca dao Khánh Hoà ghi lại những từ ngữ thuộc vốn từ địa phương. Qua đó ta hiểu thêm sắc thái ngôn ngữ, lời ăn tiếng nói của người Khánh Hoà (5).

 

Có thể liệt kê ra hàng loạt từ trong phương ngữ (mang sắc thái riêng về âm và từ ngữ):

Mược : mặc, hông: không, đửng: đừng, hồi: khi (lúc), ảnh: anh ấy, cổ: cô ấy, ổng: ông ấy, bả; bà ấy, trỏng : trong ấy, dơ: bẩn, chi: nào, chừng nào: khi nào, hổm rày: mấy ngày nay, coi, ngó: xem, nhìn xem: trông…

 

Ví dụ:

Anh thương em dưới dốc thương lên

Đá lăn mược đá miễn thương bền thì thôi

Xưa kia lời nói cũng in

Hoa tàn nhị rữa  cũng nhìn hổng dong

Bây giờ nhị rữa hoa tàn

Con thơ trìu mến sao chàng vội dong

(Bài ca dao sưu tầm ở Ninh Giang, Ninh Hoà)

 

Anh ơi  anh đửng ngậm ngùi

Một căn hai nợ anh ừ cho xong

Hồi thương nước đục cũng trong

Hồi ghét nước chảy giữa dòng cũng dơ

Lên non bẻ lá đề thơ

Trai không hết khó gái chờ mãn tang

(Bài ca dao sưu tầm ở Ninh Phong, Nình Bình, Ninh Hoà)

 

Việc sử dụng ngôn ngữ địa phương trong ca dao giúp ta xác định được nguồn gốc của nó, để phân biệt bài ca dao ấy thuộc miền đất nào góp phần sắc thái hoá tâm hồn, tình cảm của người bình dân

 

IV. VÀI KẾT LUẬN BAN ĐẦU.

 

Trên đây là một số nhìn nhận ban đầu về ca dao Khánh Hoà trên cơ sở tư liệu chúng tôi sưu tầm dược. Chắc chắn còn một số lượng lớn ca dao còn nằm trong trí nhớ của người bình dân ở các miền quê Khánh Hoà. Chúng tôi hy vọng công trình nghiên cứu, sưu tầm tục ngữ, ca dao, dân ca Khánh Hoà sẽ được tiếp tục hoàn chỉnh và nâng cao.

 

Nghiên cứu ca dao thường kết hợp với nghiên cứu dân ca, vì dân ca vốn có nguồn gốc từ ca dao, nhưng do điều kiện về tư liệu dân ca còn hạn chế, chúng tôi xin được trở lại vấn đề này vào một dịp khác.

 

Nghiên cứu ca dao Khánh Hoà phải đặt nó trong mối quan hệ với ca dao Nam Trung bộ, đặc biệt là miền đất Bình Định, Phú Yên vốn cùng với Khánh Hoà có những nét chung về hoàn cảnh địa lý, xã hội, phong tục tập quán và phương ngữ. Chúng ta đã từng gặp những câu ca dao phản ánh mối quan hệ giao lưu giữa ba miền đất.

 

Tiếng đồn Bình Định tốt nhà

Phú Yên tốt ruộng, Khánh Hoà tốt trâu

Hay

 

Ai về Bình Định thăm cha

Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hoà thăm em.

 

Phải chăng đây chính là dấu hiệu giao thoa của một vùng văn hóa Nam Trung bộ phong phú, vô tận mà chúng ta cần có kế hoạch khai thác trong tương lai.

 

LKM

 

CHÚ THÍCH:

1.Tuyển tập Max – Ăng ghen – NXB Sự thật – Hà Nội 1991 – trang 505

2.Quách Tấn – Xứ Trầm hương – NXB Tổng hợp Khánh Hoà 1992 – trang 156

3.Bùi Mạnh Nhị – Bài “Một số đặc điểm nghệ thuật của ca dao Nam bộ – ca dao Nam bộ – NXB Tp. HCM 1984 – trang 70

4.Nguyễn Xuân Kính – Tìm hiểu cảnh vật và người Khánh Hoà qua ca dao tục ngữ – Văn hoá nghệ thuật số 12/1997

5.Nguyễn Thành thi – Từ mấy tiếng quê trong những lời quê – Khánh Hoà diện mạo văn hoá một vùng đất – Tạp chí Văn hoá thông tin Khánh Hoà 1998 – trang 39.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1.Thơ ca dân gian Phú Khánh – Trần Việt Kỉnh, Nguyễn Chí Trang, Hà NamTiến – Ty Văn hoá Phú Khánh 1982.

2.Xứ Trầm hương – Quách Tấn – NXB Tổng hợp Khánh Hoà 1992

3.Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam – Vũ Ngọc Phan – NXB Khoa học Xã hội – Hà Nội – 1978

4.Khánh Hoà diện mạo văn hoá một vùng đất – Tạp chí Văn hoá Thông tin Khánh Hoà  1998

5.Phê bình, bình luận văn học – Ca dao, tục ngữ, vè- NXB Văn Nghệ Tp. HCM 1997

6.Đất nước con người Khánh Hoà  - Trần Việt Kỉnh – Trung tâm Thông tin Cổ động Khánh Hoà xuất bản 1989.

 

 

Bài cùng tác giả

 

 

 

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến: webmaster@ninhhoatoday.net

ninhhoatoday@yahoo.com