QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

SƯU TẦM

BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHỮNG ĐIỆU HÒ BIỂN Ở NINH HÒA

VÀ VẠN NINH

HUỲNH LIÊN

(Kỳ 2)

 

>> Những điệu hò biển ở Ninh Hòa và Vạn Ninh (kỳ 1)

 TÍNH NHÂN VĂN, HỒN DÂN TỘC QUA CÁC  ĐIỆU HÒ, BÀI LÝ

Tôi rất thích câu nói của nhạc sĩ Trần Kiết Tường (Tác giả ca khúc Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người) “Dân ca là tấm gương sáng cho ta soi bóng mình, nhìn rõ cái bản chất của chính mình, của dân tộc mình. Dân ca là tâm hồn của dân tộc.”. Tôi không định đi phân tích câu nói trên của ông, song không thể không “điểm xuyết” các yếu tố chính vì tôi nghĩ nếu không thấy cái cốt lõi của câu nói đó thì khó mà ta thấy được cái hồn của dân ca ở đâu.

Chúng ta biết rằng một trong các chức năng cơ bản của văn hóa là giáo dục và tự giáo dục. Đây là chức năng tự có và là bản chất của người Việt Nam (mà không phải dân tộc nào cũng có). Không thể tự nhiên mà có câu:

“Bầu ơi! Thương lấy bí cùng.

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”

“Công cha như núi Thái Sơn.

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra,

Một lòng thờ mẹ kính cha,

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”

Hay như:        

“Tay bưng chén muối, đĩa gừng

Gừng cay, muối mặn xin đừng bỏ nhau”

“Ai đi đâu đấy hỡi ai,

Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm”…

Phải chăng khi ta nghe hoặc đọc lại những câu ca trên thì ít nhiều gì đó trước mắt ta là hình bóng của đồng loại, của Mẹ cha, của người yêu như hiển hiện? Cái tồn tại lung linh đó đích thực là cái bóng của ngày xưa ngấm vào trong tâm hồn ta đấy thôi. Người đời hay nói: “Làm người phải biết mình là ai”. Tôi xin thêm thế này: “…, từ đâu đến, đến để làm gì, làm như thế nào và rồi sẽ về đâu?”. Văn hóa Việt nam là nền văn hóa đa sắc thái, độc lập từng bản sắc  dân tộc nhưng thống nhất trong cộng đồng 54 dân tộc anh em. Tiếp thu cái tinh hoa, tinh túy của nhân loại, nhưng không bị hòa tan theo ngoại bang. Điều này ai cũng rõ, và đó chính là cái “bản chất”  của dân ca Việt nam. Từ đâu mà có được như thế, nhờ đâu mà những điều cao đẹp ấy tồn tại và phát triển mãi như vậy? Linh hồn là cái không hư mất (không phải theo nghĩa của các Tôn giáo). Bạn để lại cho đời một công trình, một vài tác phẩm nghệ thuật, một câu “danh ngôn” hoặc thậm chí khi bạn nghĩ (nhớ) về ai đó và ngược lại, thì đây là sự khẳng định “bạn có trong mọi người” và đó là cái nghĩa của linh hồn. Sự tồn tại thường phải đi qua nhiều quá trình thẩm thấu, sàng lọc và một khi đã được lọc kỹ rồi thì khó mà lẫn lộn, khó mà phai mờ và khó mà mất đi. Dân ca nói chung, những câu hò, điệu lý của ông cha truyền lại cho cháu con đến hôm nay cũng từ cách thức ấy, đó chính là tâm hồn của dân tộc đó bạn ạ!

Nằm trong lòng duyên hải miền trung đầy nắng, gió và bão giông, con người Ninh Hòa – Vạn Ninh hơn ai hết từ ngàn xưa đã phải tự hiểu rằng cuộc sống phải có tính nhân quần. Lấy nhân nghĩa làm trọng, lấy tình thương yêu mà đối nhân xử thế. “Đem vàng với nghĩa thử cân, bạc vàng nặng ít, nghĩa nhân nặng nhiều” được coi là nét cơ bản của người dân Ninh – Vạn. Lại nữa về địa lý thì 2 huyện này được coi là vùng giàu tài nguyên: Rừng, đồng, biển. Rừng có trầm kỳ, biển có tôm cá, ruộng phì nhiêu là vựa lúa của cả tỉnh Khánh Hòa. Trong dân gian còn những câu chuyện ngày xưa, nhiều đời vua phải tìm cho được gạo Đồng Hương (Ninh Hòa), gạo Tu bông (Vạn Ninh) để ăn. Có lòng nhân, đã đẹp tình, đẹp cảnh lại giàu tài nguyên, những yếu tố đó đã góp phần hình thành nên một dòng văn hóa dân gian độc đáo thấm đẩm nhân ái là điều dể hiểu.

Qua gần 3 tháng (không nhiều chỉ như là bước đầu dạo cảnh) được nghe các cụ, các bác, các anh chị nghệ nhân hát hò, phân tích giảng giải; được nhìn thấy phong cảnh nước biếc, non xanh, biển về dập dìu tôm cá; được nghe cả những cách nói, cách sống “ăn đầu sóng nói đầu gió” ( nói to, nói thật lòng, thẳng đuột không giấu giếm, úp mở) tôi như thấy và hiểu được phần nào tấm lòng của người dân vùng biển Ninh – Vạn này như câu nói của tác giả Ngọc Phương (trong một bài ký): “Dân biển hiền lành và mến khách lắm”. Chúng ta hãy nghe các nghệ nhân hát:

“Gió đâu bằng gió Tu Bông,

Thương ai bằng thương cha, thương mẹ, thương chồng, thương con”

(Hát ru)

Hoặc:  

“Ngó ra ngoài biển ba lần,

Thấy anh ở trần trong bụng xót xa.

Trở về mua lụa đội ba,

May áo cổ giữa và tra nút vàng.

Không ai mà gởi cho chàng,Có áo chàng mặc khỏi cơ hàn nắng mưa”          

(Hò may áo)

Và:                  

“Con ơi con ngủ cho say

Để mẹ vá lưới cho cha con ra luồng”       

(Hò vá lưới)

Tình yêu như thế thì có gì sánh được! Còn trong việc tín ngưỡng tâm linh, thờ cúng mà đặc biệt là tục thờ cá Ông - Ông Nam Hải, người dân biển gần như có chung một ý niệm:     

“Ai đi giống dáng Ông đi

Bọt bèo trôi nổi một khi giữa vời”            

(Hát Hò Bá trạo).

Trong lao động, đi biển đánh bắt cá tôm, tinh thần đoàn kết, lạc quan được thể hiện:

“Mênh mông biển biếc sóng cuồng

Vững tay chèo lái ta thời bình an”            

(Hò kéo neo)

Hay:                

“Lướt sóng trùng khơi

Theo luồng cá bạc

Mênh mông hải hồ…”         

(Hò lơ)

Rồi:                 

“Khoan khoan hò dố khoan hò dố khoan

Tháng ba trời biển giao hòa

Thuyền ta lướt sóng căng buồm ra khơi,

Biển xanh tôm cá tung tăng,

Nhanh tay kéo mạnh cuộc đời vui sáng tươi.

Khoan khoan hò dố khoan hò dố khoan”            

(Hò kéo lưới 1)

Hoặc:  

“Xáng ú xáng/ cá đứng đèn/ nhanh tay lên/

Ta cùng bắt/ đầy ghe rồi/ ta chèo về/

Xáng ú xáng/ xáng ú xàng liu/ xáng ú xáng/ xáng ú xàng liu” 

(Xáng ú xáng)

Xét về mặt địa hình, ta thấy vùng biển Ninh Hòa – Vạn Ninh có rất nhiều Hòn, Vịnh trừ mùa mưa bão, được coi là vùng tương đối bình yên, phải chăng đây chính là điểm đến của nhiều loài tôm cá trong đó có các loài cá “cao cấp” quý hiếm. Chúng ta hãy nghe người dân chài hát tiếp: “Hò dô hò là hò dô ta, nào! Anh em ta xúm nhau mà kéo lưới, lưới dài lưới nặng khắp đôi tay, hò dô hò là hò dô ta, hụi! Anh em ta gắng công mà kéo lưới, kìa chú cá Thu, cá Bè, cá Đuối, kéo lên nào, vui sướng ôi là vui, hò dô hò là hò dô ta, dô ta”. (Hò kéo lưới 2).

Người dân biển hết đời này đến đời khác, họ yêu biển, với một tình yêu say đắm, yêu biển đến độ những con cá đã trở nên hình ảnh đẹp trong đời sống tinh thần và họ dùng hình ảnh các con cá để ví von, trêu ghẹo:

Người con gái hát: “Ví dầu con cá Nhám đánh đu, con cá Bè hát bội là con cá Thu cầm chầu. Thu đâu không đem tới mẹ ăn, con đâu mẹ gã cho thằng kéo neo…”

Chàng trai không vừa: Kéo neo ngó vậy mà dọc ngang, hơn thằng uống rượu xóm làng thất kinh (có cụ hát câu sau là: Hơn học trò yểu điệu làm ăn mà được gì) Hò khoan lên, hò khoan lên hố khoan ta hò lên. (Hò khoan lên).

Không chỉ có vậy, ông cha còn dùng các loài cá để đặt vè nhằm “khen chê” đối với các hành vi đồi nhân xử thế trong đời sống, ví dụ như: Mắng mẹ chửi cha là thằng cá Dại, nói đi nói lại là con cá Kình, ngậm miệng là thinh là con cá Móm, làm đĩ làm thỏa là con cá Dìa…(Vè các loài cá).

Nếu như hò có thể nói là nhiều, thì lý lại rất ít. Một đôi lần gợi hỏi các cụ đều chung quy cho rằng: Hò dể hát hơn nên dể nhớ… Riêng tôi, có thể do lý là một thể loại dùng để “ám chỉ” nhạo báng, chê bai hơn là khen, mà người dân miền trung nói chung, Ninh Hòa – Vạn Ninh nói riêng là thiên về cái tình, nên không muốn mất lòng nhau, nên ít khi đặt lý. Tuy vậy, tôi cũng tìm được 3 bài Lý sau: lý con cua, lý con cá Hố và lý thiên thai. Lý con cua có 2 bài, ở Ninh Hòa một bài và Vạn Ninh một bài. Lý thiên thai còn gọi là lý mọi, thì cả Vạn Ninh và Ninh Hòa đều hát gần giống nhau. Qua các câu lý chúng ta thấy tính giáo dục và tự giáo dục rất cao nhưng tế nhị:

“Con cua, con cua 8 cẳng 2 càng. Bò đi làng xàng trước miệng cái hang. Cái hang, cái hang chưa tới nửa gang. Rong rêu phủ kín nên cua sợ gãy càng.

Cô kia, cô kia có cái mũi hơi dài. Ở đâu hàng quà cô lại có ngay. Quán trên quán dưới gần xa. Bánh kẹo chi cô biết hết còn hơn mình thân mình”. (Lý con cua Ninh Hòa).

Cũng lý con cua, nhưng ở Vạn Ninh thì các cụ đưa vào để chọc ghẹo nhau: “Con cua, con cua 8 cẳng 2 càng. Một mai 2 mắt rõ ràng con cua. “Bậu” kia, bậu kia lấp ló ngoài kia, thẩn thơ thơ thẩn hay đang đi kiếm chồng. Có kiếm, có kiếm đừng kiếm chi xa. “Qua” đây tay mắt cẳng chân đủ đầy. Đôi  mình, đôi mình xứng lứa đẹp xinh. Như thuyền với biển bên nhau trọn đời”.

Nếu như ở Lý con cua, cách “giáo dục” có phần nhẹ nhàng thì ở Lý con cá hố lại là cách ví von “thẳng thắn” nói thẳng, nói thật hơn: “Cá hố là thứ phấn dồi, cái miệng nhọn hoắc mình dài ba gang. Ăn rồi làm biếng lắm thay. Ham ăn nên dể mắc câu đáng đời. Mình ơi ngày tháng qua mau, đừng như cá hố kẻ cười người chê. Mình ơi đời có gang tay, đừng như cá hố người chê kẻ cười”. (Lý con cá hố)

Tình yêu biển, yêu con nước thủy triều, yêu quê hương, tình sâu nghĩa nặng với  xóm làng, gia đình là vậy nhưng còn một thứ tình mà bất cứ người dân Việt Nam nào không nhiều thì ít, trong lòng vẫn có – có một cách tự nhiên đó là lòng tôn kính siêu nhiên – thần linh. Người dân biển xa xưa với con thuyền nhỏ, đôi tay với mái chèo gỗ, giữa trùng dương gió bão, họ tin vào con cá Voi (cá Ông) như một hiện tượng “cứu rỗi” mà chúng ta có thể gọi là “Nhiên thần”. Hiện tượng thờ cá Voi và lễ hội Cầu Ngư (Hò Bá trạo) là một trong số ít được diễn ra chỉ có ở khu vực trung trung bộ mà thôi và Ninh Hòa – Vạn Ninh được coi là nơi gìn giữ và lưu truyền mạnh mẽ nhất. Đây là hoạt động có ý nghĩa tâm linh vì trong thực tế (xa xưa) cá Voi thường cứu được nhiều ghe thuyền bị đắm. Vì thế trong dân gian đã gọi cá này là Thần Ngư, Ông Nam Hải, Nam Hải Đại Vương…Và theo truyền thuyết lịch sử, cá Voi được Vua Gia Long phong hiệu là: “Nam Hải Cự Tộc Thượng Đẳng Thần”, đẳng cấp cao nhất trong tước Thần.

Trong lễ hội Cầu Ngư, đặc sắc nhất là Hò Bá trạo. Hò bá trạo có cả một bổn tuồng gồm nhiều làn điệu được nối nhau liên tiếp, mô tả từ lúc ra khơi, gặp sóng gió, chống chọi với thiên nhiên, được Ông cưú giúp về chốn bình an. Do thời gian không nhiều, coi như là bước đầu nên không ký âm được hết các giai điệu (mong sẽ có ngày được tiếp tục thu thập đầy đủ hơn).

Trong bước đầu này, tôi ghi được một số bài như: Ra khơi, Hò hỡi lơ, Hò kéo lưới(1), Lý trách thân, Hò kéo neo, Hò đưa linh, Hù hò khoan, Hò lui thuyền, Lý thiên thai…(xem nhạc và lời ở các bản ký âm). Lời ca trong các bài bản trên rất giàu tính nhân văn, đạo lý mà tin chắc rằng khi nghe hát lên không ai mà không xúc động, nó chứng minh một cách chắc chắn về tính nhân văn, văn hóa của con người vùng đất biển Ninh Hòa – Vạn Ninh. Điều này còn thể hiện ở một hình ảnh khác nửa. Đó là: nhà “chung rào chung cả lối đi, uống chung giếng nước sân si làm gì?”. Quả thật, ở các làng biển người dân ở san  sát bên nhau, nhà này nhà kia chung một hàng rào, có khi cách nhau tấm vách. Người bên này vui, buồn, giận dỗi là nhà bên kia nghe hết. Nhà bên kia có đám tiệc, lễ giỗ nhà bên này cũng “xúm xít” cùng lo. Vui cùng chia sẻ, buồn cùng sớt chia, rõ ràng đây là nét văn hóa độc đáo chỉ có ở vùng biển mà thôi. Và phải chăng điều này đã góp phần làm nên tính cách của người vùng biển và cũng để từ đây sinh ra nhiều câu hò, điệu lý mang đậm tính nhân văn, văn hóa như vậy…

HUỲNH LIÊN

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến: webmaster@ninhhoatoday.net

ninhhoatoday@yahoo.com