QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

SƯU TẦM

BIÊN KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

VÈ CÁC LÁI NGANG QUA HUYỆN NINH HÒA

Ngô Văn Ban

 

Từ “các lái “ là từ chỉ những người chuyên nghề đi buôn bán. Từ này được dùng nhiều nhất vào thế kỷ thứ 18. Nhưng trước và sau đó, từ này vẫn được thông dụng. Từ này còn bao hàm ý nghĩa là buôn bán lớn, còn gọi là phú thương. Những người buôn bán nhỏ ít khi được gọi lá các lái.

Vè các lái là bài vè của những người đi buôn hay chuyên chở hàng hóa bằng đường biển. Trên con đường biển ven miền duyên hải Việt Nam, từ Bắc vào Nam hay ngược lại, phải trải qua những vùng biển, hoặc có nhiều đảo, nhiều rạn ngầm, hoặc gặp luồng nước dễ hay khó đi để liệu bề lèo lái. Giống như đường bộ, dọc đường biển cũng có những địa danh, những tên đảo, tên vịnh để người đi thuyền biết rõ mình đã đi đến đâu, chỗ nào cần nghỉ ngơi, chỗ nào cần ghé vào mua bán những sản vật địa phương. Những người đi biển lâu năm, dày dạn kinh nghiệm, đã trải qua nhiều chặng đường trên biển, để lưu truyền lại cho những người đi biển đời sau những hiểu biết của mình, nên đặt ra bài vè để phổ biến. Như ta đã biết, vè là thể thơ dễ đọc, dễ nhớ, dễ lưu truyền. Bài vè dành cho lộ trình trên biển này còn gọi là Vè thủy trình, hay Vè hải trình, gọi nôm là Vè các lái.

Tìm hiểu, nghiên cứu các bài Vè các lái, Đình Hy, Hội VHNT Ninh Thuận cho rằng nó “có giá trị văn học dân gian, lại có giá trị để chúng ta tìm hiểu một phương thức hoạt động kinh tế biển của giai đoạn lịch sử các thế kỷ trước” (Đình Hy, Vè các lái, một bài vè dân gian, một giá trị tri thức của ngư dân miền Trung, trong sách Tìm hiểu đặc trưng di sản văn hóa văn nghệ dân gian Nam Trung Bộ, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 2005, tr.106).

Như chúng ta đã biết, thời trước việc đi lại của dân ta chủ yếu vào hai con đường: đường bộ và đường thủy. Đường bộ còn gọi là “quan lộ”, thường nhỏ, hẹp chỉ đủ cho người đi bộ, đi kiệu, đi cáng, đi ngựa … Qua sông rộng phải đi đò, đi bè… Sau này người Pháp qua cai trị, họ cho mở rộng đường thêm ra, làm một số cầu cống để cho các loại xe chạy, hồi đó gọi là con đường thuộc địa số 1, nay gọi là quốc lộ 1A. Với con đường và cách vận tải như thế, thời trước, sự vận chuyển những hàng hoá, vật dụng nặng nề giao lưu giữa hai miền Nam Bắc đều phải vận chuyển bằng đường biển. Nước ta có thuận lợi là có hơn hai ngàn cây số dài theo miền duyên hải từ Bắc xuống Nam. Do đó, việc vận chuyển hàng hóa, giao thương trong nước và nước ngoài rất thuận lợi. Dân ta thường đóng ghe chuyên đi biển, gọi là “ghe bầu”. Những người lái ghe bầu này thường dùng bài Vè các lái trên hải trình của mình.

Có những nhà nghiên cứu đi nghiên cứu, sưu tầm về miền biển, thường tiếp cận bài Vè các lái này. Như Bùi Quang Tung, đã thâu chép một số bài vè thủy trình từ Huế vô Gia Định và từ Huế ra Nam Định. Ông đã cho ghi âm, chép lại ở Huế, Đà Nẵng, Phan Thiết … Và Ông đã cho công bố trên Nguyệt san Sử Địa xuất bản tại Sài Gòn, trong số 17-18, năm 1970 (Bài vè thủy trình từ Huế vô Sài Gòn) và số 22, năm 1971 (Thủy trình đường ghe từ Huế (Thừa Thiên) ra Nam Định). Nguyễn Đình Tư, trong Non nước Khánh Hòa (NXB Sông Lam, 1969) cũng đã sưu tầm được ba bài hướng dẫn ghe bầu đi từ ngoài vào, đi từ trong ra và ông chỉ trích cho in đoạn đi ngang qua Khánh Hòa mà thôi. Trong Ca dao Nam Trung Bộ do Thạch Phương và Ngô Quang Hiển sưu tầm, tuyển chọn, có phần nói về Vè Các Lái, sưu tầm được 2 bài, một bài Hát vô, từ Huế trở vô Gia Định và bài Hát ra, từ Vũng Tàu ra đến Quảng Ngãi. Nguyễn Văn Sâm trong tác phẩm Văn học Nam Hà (Sài Gòn, 1972) cũng như Bửu Cầm sưu tầm được bài vè thủy trình bằng chữ Nôm (trong Văn Hóa nguyệt san, Sài Gòn, tập XIII, quyển 9, 9/1964) mang tên Hải môn ca. Rải rác trong một số cuốn sách như Nước non Bình Định Xứ Trầm Hương của Quách Tấn, Non nước Phú Yên Non nước Bình Thuận cũa Nguyễn Đình Tư đều có trích một số câu trong bài Vè Các Lái để minh họa một số vùng biển vùng vịnh, một số hải đảo, cửa bể ….

Trong kho sách Hán Nôm, các nhà nghiên cứu cũng tìm được một số tác phẩm bằng chữ Hán Nôm những bài hải trình có dạng như Vè các lái. Như sách có tên Thông quốc diên hải chữ, ghi đường biển cả nước quãng đi dài ngắn và nước triều lên xuống. Trong sách ghi tổng số các cửa biển từ Huế trở vào Nam, rồi lại từ Huế trở ra Bắc, ghi mực nước sâu nông, khi nước triều lên xuống từng nơi. Sách được soạn từ năm Gia Long thứ 16 (1817). Như sách có tên Đại Việt thủy lục trình cũa Trần Công Ân làm năm Gia Long thứ 5 (1806). Trong bài tựa, tác giả có nói xe thuyền đi đến đâu, đều có ghi chép. Nhân khi thong thả, đem diễn ra tiếng Nôm để ghi lại dấu vết đã qua. Trong sách, các bài ca bằng chữ Nôm, thể lục bát, ghi tên các cửa biển cho dễ nhớ: Hải môn ca (từ Bố Chánh đến các cửa biển Cao Miên), Hải môn sự tích (sự tích các cửa biển trong quá trình lịch sử), từ Nghệ An trở về Nam. Sau cùng có một đoạn ghi rõ phương hướng đi thuyền theo la bàn xưa. Phan Huy Chú cũng có một tác phẩm về hải trình, Hải trình ký lược, viết năm Minh Mạng thứ 14 (1833), lúc tác giả đi sứ sang Indonesia (Nam Dương). Khi đi đường, tác giả lược ghi tên các xứ, các đảo, sơ lược về kinh tế, chính trị, phong tục, cổ tích… mà thuyền sứ giả đi qua, xuất phát từ Đại Chiêm (Quảng Nam) vượt biển đến Jakarta (Giang lưu ba).

(Theo Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, nguồn tư liệu văn học, sử học Việt Nam, Tập I, NXB Văn Hóa, Hà Nội, 1984).

Những bài Vè các lái được sưu tầm, đều có những chỗ khác nhau về lời cũng như về tên chỉ các địa danh. Điều này cũng dễ hiểu, vì người sáng tác bài vè từ đầu không phải là một người mà là nhiều người, mỗi người có cái nhìn riêng, có những hiểu biết riêng cùng có những kinh nghiệm đi biển riêng của mình.

Trong bài Thủy trình đường ghe từ Huế (Thừa Thiên) ra Nam Định Bùi Quang Tung ghi lại, cuối bài vè có câu:

 

Ngồi buồn chép mấy lời quê

Ai ơi tham đọc chớ chê chớ cười.

Đông giang có kẻ đi ghe,

Tên là Ba Ngõ đặt vè đi Nam,

Sức làm còn hãy lam nham,

Thỉnh người tài tử lại thêm đôi vần,

Nhật trình kể cả ân cần,

Kể từ Gia Định kể lần ra Kinh

 

Còn bài Vè thủy trình từ Huế vào Nam đến Sài Gòn, thì được mở đầu bằng câu:

Ngồi buồn nói chuyện đi buôn

Nói cho giải buồn là sự ngâm nga.

 

“Giải buồn” mà “ngâm nga”, vì ngồi trên ghe bầu lướt gió trên biển cả mênh mông, chỉ có một số ít người bạn lái, nên cùng hò hát lên, ngoài việc giải buồn, còn ghi dấu những đoạn đường biển mà ghe bầu đã lướt qua.

 Sau đây là một số đoạn trong bài vè hướng dẫn những người lái ghe bầu đi qua ven vùng biển tỉnh Khánh Hòa, từ đèo Cả huyện Vạn Ninh qua vùng biển huyện Ninh Hòa, trong các bài Vè các lái do Bùi Quang Tung và Nguyễn Đình Tư đã sưu tầm được.

 Ghe bầu đã qua tỉnh Phú Yên và bắt đầu đi vào vùng biển tỉnh Khánh Hòa : đầu ghềnh mũi NẬY de ra / Qua hai mũi ấy, đó là Ô RÔ / Mũi NẬY có đá bia xinh / Tạc để lưu truyền nối nghiệp Hùng Vương / Ô RÔ núi tấn bốn phương… Ô RÔ đây là Vũng Rô, ở cuối đèo Cả, nơi đây sóng lặng biển yên, dầu (dù) nồm (gió nồm), dầu  (dù) bấc (gió bấc) không xô phía nào hay vừa nồm vừa bấc biết xô phía nào.

Ghe bầu rời khỏi Vũng Rô, bắt đầu đi vào vùng biển huyện Vạn Ninh, huyện cực Bắc của tỉnh Khánh Hòa. Ghe bầu qua Hòn NƯA không thấp không cao / Vác mắt (ngước mắt) trông vào bãi VÕ sóng ngang. Hòn NƯA, một hòn cù lao có những vách đá dựng đứng nằm ngoài khơi, giữa đèo Cổ Mã và bãi VÕ. Từ Hòn NƯA ngó vào là bãi VÕ, tức là bãi biển ĐẠI LÃNH ngày nay. Bãi biển Đại Lãnh là một thắng cảnh du lịch ở Khánh Hòa, một địa danh nổi tiếng từ xưa, được liệt vào danh thắng hàng đầu của đất nước. Năm 1836, vua Minh Mạng cho chạm phong cảnh Đại Lãnh vào Tuyên đỉnh, một trong 9 đỉnh đồng (Cửu đỉnh) đặt ở sân Thế Miếu Huế. Bãi biển Đại Lãnh cát trắng, nước biển trong xanh, phong cảnh hữu tình. Nhà thơ Quách Tấn đã từng ví biển xanh ở Đại Lãnh như thảm cỏ xanh, trên đó những cánh buồm trắng ví như những cánh bướm bay lượn thảnh thơi, qua những câu thơ:

Lặc lìa biển trải cỏ xanh

Lô nhô sóng bạc trổ cành hoa tươi

Vườn hoa bướm lượn thảnh thơi :

Gió đưa buồm trắng ra khơi chập chờn.

Ghe bầu qua khỏi bờ biển Đại Lãnh, đến vùng Hòn GẦM sóng bổ chuyển vang. Hòn GẦM là hòn đảo đầy đá, sóng bồ ầm  ầm quanh năm.

Qua hòn GẦM, ghe bầu chạy hết CÁT THẮM lại sang ĐỒI MỒI. Bãi CÁT THẮM dài dộ 5 cây số. Còn ĐỒI MỒI là tên đảo nằm ở ngoài khơi Mũi ĐỒI. Gọi đảo ĐỒI MỒI vì nơi đây con đồi mồi, một loài rùa biển, mai của nó có hoa văn rất đẹp, sinh sống.

Ghe bầu đi từ đảo ĐỒI MỒI đến đầm BÀ GIA không ngớt kêu rên: Anh em lời thốt thương ôi / Chạy khỏi ĐỒI MỒI tới đầm BÀ GIA. Đó là vì từ Hòn GẦM đến đầm BÀ GIA chưa đầy 20 cây số thế mà khi biển động, phải đi đến bảy ngày mới tới đầm: Hòn GẦM nghe sóng bổ vang / Đi bảy ngày đàng đến đầm BÀ GIA, hay chạy qua đỗi ấy dặm trường / Hòn GẦM giữa bãi rõ ràng sóng vang. Từ đầm BÀ GIA, ngó vào: trong thời bãi cát trường sa / Có đôi lưới bũa, có nhà thôn dân.

Ghe bầu chạy tiếp, đến XA CỪ nay đã hầu gần / Ai vào CỬA BÉ lánh thân TRÂU NẰM, hay chạy khỏi CỬA BÉ lánh thân TRÂU NẰM. Núi XA CỪ có nhiều màu sắc như ốc xa cừ, nơi đây cũng có yến sào đang được khai thác. Rời XA CỪ, nếu muốn lánh hòn TRÂU NẰM thì vào CỬA BÉ. Gọi là hòn TRÂU NẰM vì hình thù hòn đảo này giống như con trâu dầm mình trong nước, đưa lưng lên khỏi mặt nước, một bầy trâu mẹp xập xòa sóng reo. Còn CỬA BÉ là lạch, dẫn ghe bầu vào vịnh Vân Phong, tức Bến Gối, người Pháp gọi là Port Dayor. Lạch CỬA BÉ này nằm giữa Mũi Gành của đảo Hòn Lớn và mũi của Bán đảo Hòn Gốm, chạy qua đỗi ấy lần theo / CỬA LỚN, CỬA BÉ đè eo ra vào.

Ghe bầu tiếp tục đi đến vùng biển huyện Ninh Hòa, qua bến đò HÒN KHÓI tăm tăm, chạy khỏi TRÂU NẰM tới cửa CÂY SUNG. Theo Bùi Quang Tung (sđd), có dị bản: Xuống khỏi TRÂU NẰM tới mũi KỲ THUNG. Còn theo Nguyễn Đình Tư (sđd) sưu tầm có câu: Cửa đò HÒN KHÓI xa xăm / Kinh ngoài Hòn ĐỎ, kinh trong bãi TRẦY. Hòn KHÓI, trong Đại Nam nhất thống chí – tỉnh Khánh Hòa (ĐNNTC-KH)  ghi là đảo Vân Phong, tục danh Hòn Khói. Buổi đầu nhà Nguyễn trung hưng vua Thế Tổ đem quân đánh giặc, thủy quân có tới đóng Hòn Khói, tức là chỗ này. Năm Minh Mạng thứ 16 (1825) đổi lại tên là Vân Phong. Trên bản đồ thời Pháp ghi là HON KOHÉ. Trên bờ Hòn Khói, thuộc xã Ninh Diêm, nơi sản xuất, chế biến muối trong tỉnh và cũng nơi đây, hiện nay có nhà máy sửa chữa và đóng tàu biển Huyndai Vinashin của Hàn Quốc. Còn Hòn ĐỎ, ĐNNTC-KH gọi là Đảo XÍCH, nằm trong vùng biển Hòn Khói, phía đông bắc bán đảo Hòn Hèo, ở trong là bãi TRẦY. Chính tại Hòn ĐỎ này, theo Lê Quang Nghiêm, trong sách Tục thờ cúng của ngư phủ Khánh Hòa (Sài Gòn, 1970), là sở đầm lưới đăng với nhiều hiện tượng ma quái, linh thiêng, nên ngư phủ hành nghề trong phạm vi đảo phải cúng kiến thường xuyên. Ngư phủ cho rằng, Hòn Đỏ này có rất nhiều người Chăm, người Việt, người Hoa chết bất đắc kỳ tử trên đảo hoặc trôi tấp vào gành vì bão tố, tai nạn, giặc cướp giết … Tin tưởng vào sự thiêng liêng của Hòn, vì nghề nhiệp cần mưu sinh, nên phát sinh hai tục đặc biệt: đó là tục thờ cúng lỗ lường và tục thiêu một mạng người dâng cúng hung thần. Thờ cúng lỗ lường là tục lệ của người Chăm, thờ Linga và Yoni. Còn tục đem người sống (một đồng nam hay một đồng nữ, thường là trẻ người Thượng) thiêu trên lửa để tế hung thần là có thật. Sau này, có luật cấm nên thay thế lễ vật bằng lễ tam sinh.

Nếu ghe không ghé vào Hòn KHÓI thì: không ghé thì lại chạy ngay / Đi hết nửa ngày Mũi CỎ, CÂY SUNG. Rồi ghe bầu chạy qua CHÀ LÀ, HỐ, ĐỤNG CHỚP VUNG / Kinh ngoài Hòn BẠC, kinh trong NINH HÒA (bản Nguyễn Đình Tư sưu tầm). Còn bản Bùi Quang Tung sưu tầm thì ghe bầu qua CHÀ LÀ, Hòn ĐỤN CHỚP VUNG / Ngó xuống ĐÁ BẠC luôn kinh BÌNH HÒA. Bản này, Bùi Quang Tung có ghi chú kinh BÌNH HÒA: Đây là tới đèo Ruột Tượng, đèo Rù Rì phía ngoài Nha Trang.

Mũi CỎ, Mũi CÂY SUNG ở chân núi HÒN HÈO thuộc huyện Ninh Hòa. Phía ngoài các mũi này có Hòn CHÀ LÀ, ĐNNTC-KH ghi là Đảo TRÀ LA , nằm dựa bờ biển, ở bên cạnh có Hòn HỐ, Hòn ĐỤNG CHỚP VUNG, Hòn RỒNG, Hòn BẠC.

Ghe rời hòn CHÀ LÀ là bắt đầu vào vùng biển Thành phố Nha Trang. Ghe đến Hòn BẠC là thấy rõ Nha Trang.

Bài vè thủy trình bằng chữ Nôm do Bửu Cầm sưu tầm có đoạn ghe bầu qua vùng biển Ninh Hòa, Nha Trang như sau: Sông ngang thủy thế mênh mang / Qua miền NHA LỖ phỏng trong nửa ngày / Đến NHA TRANG một ngày chầy / Lại thêm nửa ngày đến tiểu NHA TRANG… Miền Nha Lỗ, là tên gọi xưa, nay gọi là NHA PHU, một vịnh thuộc huyện Ninh Hòa. Còn tiểu Nha Trang tức là Cửa Bé (Cửa Tiểu Cù Huân), nơi một nhánh sông Cái Nha Trang chảy ra biển.

NVB

 

Bài cùng tác giả

>> Miếu và miễu ở Khánh Hòa (kỳ 2)

>> Miếu và miễu ở Khánh Hoà (kỳ 1)

>> Dinh Trấn Biên Nha Trang dưới thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong có hay không ?

>> Việc giáo dục chữ Lễ trong gia đình và nhà trường

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ Bắc tới Nam (kỳ 2)

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ bắc tới nam (kỳ 1)

>> Thịt mèo

>> Chuyện mèo năm Mão qua câu ca tiếng nói người Việt

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 2)

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 1)

>> Những trường học tại Nha Trang xưa và nay

>> Chất biển trong con cá vịnh Nha Trang

>> Con cọp qua cái nhìn dân gian Việt Nam

>> Món cọp năm Dần

>> Về Diên Khánh ăn bánh ướt

>> Cọp Khánh Hòa

>> Thầy Đồ Cóc

>> Đất Khánh người Hòa

>> Món ngon Năm Sửu

>> Con trâu trong văn học các dân tộc VN

>> Món ngon năm chuột

>> Chuyện chuột năm Tý

>> Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

>> Vịt lội Ninh Hòa

*** Nghề làm bánh tráng ở Xóm Rượu Ninh Hòa:

>> Kỳ 1, kỳ 2, Kỳ 3

*** Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang,

     việc giỗ của người Việt:

>> Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, kỳ 11, kỳ 12

 

 

Mọi thông tin về Website xin gởi đến: webmaster@ninhhoatoday.net

ninhhoatoday@yahoo.com