QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGÔ VĂN BAN

HÌNH ẢNH RỒNG TRONG ĐỜI SỐNG DÂN TỘC VIỆT

           

Hình ảnh con rồng là hình ảnh có nhiều dính dáng đến vua chúa. Đối với vua chúa, như cái ăn cái mặc cũng khác với dân thường. Có những món ăn thức uống ngon bổ quý ở tất cả các miền đều phải đem “tiến vua”. Còn cái mặc : vóc rồng thì  để hầu vua, vải thưa lụa xấu thì chừa cho dân.

Ông bà ta thường nói câu rồng đến nhà tôm là để nói lên niềm vinh dự cho kẻ dân dã nghèo nàn được tiếp khách quý khách sang trọng quyền thế. Rồngtôm hơi có bộ dạng giống nhau, nhưng rồng là hàng tứ linh, còn tôm là hạng hèn hạ, giá trị khác nhau một trời một vực, làm gì có chuyện rồng đến thăm nhà tôm :

Mấy đời rồng đến nhà tôm

Mấy đời gái quý luồn trôn ăn mày.

Còn cây cỏ may là loại cỏ tầm thường, có khi mọc ở sân rồng là sân ở điện nhà vua, tuy rằng bóng bảy nhưng dòng cỏ may, chứng tỏ những gì tầm thường, không giá trị thì không thể dựa vào những cao sang quyền quý mà trở thành cao sang giá trị được. Cũng như :

Chồng sang đi võng đầu rồng

Chồng hèn gánh nặng đè còng cả vai

để thấy được trong xã hội xưa, những gì gắn với rồng là dành cho kẻ cao sang quyền quý. Những người đi thi trong các kỳ thi xưa cũng mong ước có tên mình trên bảng rồng, bảng ghi tên người thi đậu, ước gì gặp hội rồng mây, đăng khoa chiếm bảng ngày rày vinh hoa. Có tên trên bảng rồng không những là một vinh dự cho bản thân gia đình mà còn là thấy được sự vinh hoa phú quý mình sắp hưởng trong cuộc đời trước mặt :

Nữa mai chàng chiếm bảng vàng

Bõ công tắm tưới vun trồng cho rau.

Đòn khiêng quan tài người chết cũng khắc hình con rồng, có đầu có đuôi, dân dã gọi là đòn rồng, như trong ca dao :

Mẹ gà con vịt chít chiu

Mấy đời dì ghẻ nâng niu con chồng

Phải chi dì ẵm dì bồng

Mai sau dì chết, tôi vịn cái đòn rồng tôi đưa.

Dân dã cũng có … lầu rồng, là nơi vua quan ở :

Mình về chốn cũ lầu rồng

Để trăng đợi gió để rồng đợi mây.

Lời rồng là lời vua chúa phán, quan quân dân chúng không ai là không nghe, không ai không tuân lệnh, còn dân thường không uy quyền, không tiền bạc, có nói như…rồng, chẳng giá trị gì :

Trong lưng chẳng có một đồng

Lời nói như rồng chúng chẳng thèm nghe

Vai mang túi bạc kè kè

Nói bậy nói bạ chúng nghe rầm rầm.

Các con gái nhà khuê các giàu sang chỉ có đầu rồng mới gối được tay tiên, còn anh dân dã tầm thường thì chỉ có niềm ước ao  ước gì đầu ấy gối lên tay này.

Trong tình yêu, người yêu bao giờ cũng đẹp, cũng đáng ca tụng, như có dáng đi vẻ rồng, như lỗ mũi em tám gánh lông, trong yêu thương cho rằng đó là râu rồng trời cho, là người hạnh phúc được có duyên cỡi rồng

Có cảnh đẹp cũng được ví  von : Đường ra Hà Nội như tranh vẽ rồng. Chữ tốt văn hay cũng được đem so : Chữ tốt như rắn, văn hay như rồng. Trong lúc đó cũng có những sĩ tử học chẳng biết chữ cua chữ còng, nhưng nói những lời như rồng như rắn. Hình ảnh con rồng cũng được thể hiện trong những lời phê phán về việc ăn uống, ăn nhiều nhưng làm việc thì không có hiệu quả : Ăn như rồng cuốn, uống như rồng leo, làm như mèo mửa

 

Con rồng trong cái nhìn và nhận thức dân gian có vẻ phóng khoáng, đa dạng hơn. Nông dân, những con người làm ruộng, làm vườn, chăn nuôi .. quan niệm rằng con rồng là con vật đem mưa đến, cho nên có khi trông trời chẳng thấy trời mưa, họ cho rằng rồng đi lấy nước rồng chưa kịp về. Họ cho rằng long đong như rồng lấy nước, không phải lúc nào cũng nhớ ngày mồng Tám tháng Tư / Chín rồng lấy nước, gió mưa âm thầm. Hay tháng Sáu trời hạn hán, nhưng trời có mưa, lượng nước tuy ít nhưng rất có ích cho nhà nông, họ cho đó là máu rồng hiến cho người dương thế những thuận lợi để sản lượng nông nghiệp, chăn nuôi cao, giúp cho người nông dân no ấm, mưa tháng Sáu, máu rồng là thế ! Nhưng không phải lúc nào cũng mưa thuận gió hòa. Tùy theo loại rồng lấy nước mà người dương thế hưởng lợi hay mất mùa, thất bát :

Rồng đen lấy nước được mùa

Rồng trắng lấy nước thì vua đi cày.

Thảm họa hơn nếu rồng mun trai gái với vợ ông rồng vàng thì hai bên kiện lộn dẫn đến mùa màng hư hao. Hay :

Rồng xanh lấy vợ rồng vàng

Kiện tới Ngọc Hoàng, Trời chửa cho mưa.

Thế là người nông dân phải chịu khốn khổ, đói rách.

Dân gian tưởng tượng con rồng phải có vây (vi), nhưng vẽ rồng ai vẽ được vây, cũng như con người, biết người biết mặt nào ai biết lòng.

Việc vẽ rồng không ra hình con rồng mà vẽ rồng thành giun, hay kiểu vẽ rồng vẽ rắn thì được người đời gán cho kẻ bất tài, làm gì cũng sai, cũng kém. Đôi khi lại còn vẽ rắn thêm chân, vẽ rồng thêm mắt thì cũng sẽ bị cho là làm những việc thừa hay là thường thêu dệt những chuyện không có thực để gây hại cho người.

Truyền thuyết cho rằng con rồng là do con cá gáy vượt Vũ Môn mà hóa thành rồng :

Mồng Bốn cá đi ăn thề

Mồng Tám cá về cá vượt Vũ Môn

Có khi cá không cần vượt Vũ Môn mà cũng thành rồng được, như trúc xinh, trúc hóa ra lá còn cá xinh, cá có thể hóa ra rồng, nên có người hỏi mụ xã : hỏi đôi ba tư mụ xã, con gái lộn chồng thì hóa ra chi ? Ngoài ra, cá mương cũng hóa ra rồng được :

Nực cười thầy bói soi gương

Thầy tu chải chí, cá mương hóa rồng

thì đó là những chuyện … nực cười, không có thực, nói nghe cho vui vậy thôi. Cũng như em là con gái đến thì, như con cá rô ăn vực có khi hóa rồng. Hay đến con ngựa ô trổ mã cũng thành rồng, như anh đây trổ mã thành … chồng của em thì chỉ là những lời trêu ghẹo của trai gái. Tuy thế cũng có người mong : Bao giờ cá lý hóa long / Đền ơn cha mẹ ẵm bồng ngày xưa.

Dân gian cho rồng sinh ra từ trứng, giống như rắn :

Trứng rồng lại nở ra rồng,

liu điu lại nở ra dòng liu điu

cũng như hạt thông nở cây thông rườm rà. Có người lại nói rồng cũng ở hang như rắn :

Lấy chồng theo thói nhà chồng

Chàng đi hang rắn, hang rồng cũng đi

Cho nên rắn liu điu có phước cũng hóa rồng, vì rắn thưa móng vút nhưng đồng vảy vi. Từ đó có cặp phạm trù RỒNG - RẮN. Rồng và rắn là hai loài khác nhau, nên có sự phân biệt :

Con công ăn lẫn với gà

Rồng kia rắn nọ coi đà sao nên.

Tuy nhiên cũng có kẻ muốn rắn thì rắn, muốn rồng thì rồng, nói rắn nói rồng gì cũng được. Đó là chưa kể vẽ rắn thêm chân, vẽ rồng thêm mắt, vẽ rồng vẽ rắn thêm lắm chuyện trên đời. Lại có những kẻ học chẳng biết chữ cua chữ cò, nói những chữ như rồng như rắn, những chuyện trên trời dưới đất không trúng vào đâu cả, thế mà người vợ lại tin tưởng :

Chồng tôi quyết đổ khoa này

Chữ tốt như rắn, văn hay như rồng

Nói vậy, chứ  rắn mà làm bạn với rồng, rồng đâu thua rắn phập phồng lo âu

Khi những người yêu xa nhau thì cũng có những trách cứ :

Rắn đi còn dằm, rồng nằm thấy dạng

Em nỡ bụng nào đành đoạn bỏ anh ?

Rồng làm mưa thì rồng phải ở trên mây, vì nếu vén mây thấy cặp rồng xanh, và thấy cả trên trời có đám mây cao, có đôi rồng bạch ấp vào đám mây. Nhưng có khi, chàng trai đi tìm cô gái cũng như đi tìm rồng mà chẳng gặp rồng mà chỉ gặp mây, vì thiếp như cá ở biển Đông, chờ khi nước cạn mới  hóa rồng lên mây. Nhưng rồng lên mây rồi vẫy vùng lướt gió, biệt tăm tích, cũng như :

Từ rày hết nhớ thôi trông

Thuyền anh ra cửa biển như rồng lên mây

nên còn gì nay đợi mai trông, nhạn đà theo én, còn rồng lên mây. Từ đó, cứ tưởng trên trời có đám mây cao, có đôi rồng bạch ấp vào đám mây. Và cứ tưởng rằng rồng ấp với mây, ai ngờ rồng ấp với … cây cau già. Thật là tủi thân phận duyên em.

Từ đó, ta có RỒNG – MÂY như một cặp phạm trù, có những liên hệ, ràng buộc, gắn bó với nhau, như đôi lứa trai gái có những tình cảm yêu thương thắm thiết, như họ có duyên trong kiếp trước :

Hai ta tốt đứa đẹp đôi

Rồng mây cá nước duyên Trời đã xe.

Niềm vui hội ngộ giữa trai tài gái sắc như thiếp gặp chàng như rồng mây gặp hội, chàng gặp thiếp như phượng hoàng gặp cội cây ngô.

Gặp nhau rồi lại chia xa, nhưng tình cảm nhớ thương vẫn không nguôi :

Nhớ chàng như vợ nhớ chồng

Như chim nhớ tổ, như rồng nhớ mây

Rồi ra kẻ ngược người xuôi,

nỗi lòng tưởng nhớ sao nguôi, hỡi chàng !

Từ đó có những mối tình phải tan vỡ :

Vì ai cho quế xa rừng

Cho loan xa phượng, cho rồng xa mây ?

Nên đêm qua vật đổi sao dời, tiếc công gắn bó, nhớ lời giao đoan

Sự xa nhau đó có nguyên nhân gia cảnh, những tục lệ cưới xin của xã hội xưa:

Nhà anh khó khăn / Lấy đâu đồ sính lễ / Mẹ cha chẳng nghĩ / Em cũng mặc tình / Bỏ lời nguyện ước ba sinh / Tiếc con rồng vàng bỏ đám mây xanh ngậm ngùi.

Sự ngăn trở chia lìa còn được biểu tượng bằng con rồng bạch, như một vật cản cho đôi lứa không kết tình được :

 Nhớ ai gửi bức thư sang

Thấy con rồng bạch nằm ngang giữa trời

Vậy nên thư chẳng tới nơi

Trong thư ai chẳng biết những lời làm sao ?

Đó là cũng do :

Khi xưa thì đắp chiếu chung

Vì ai ném gạch cho rồng xa mây.

Thôi thì, bạn ơi có nhớ ta không ? Ta thời nhớ bạn như rồng nhớ mưa.

Bên cạnh cặp RỒNG – MÂY, ta còn thấy cặp RỒNG - PHƯỢNG, biểu tượng cho sự cao sang, tốt đẹp, là lời chúc hạnh phúc lứa đôi. Rồng thì bay, phượng thì múa, hòa trong tiếng trúc tiếng tơ, rồng chầu phượng múa nhởn nhơ vui vầy. Cuộc tình đẹp cũng được gọi là phượng cỡi rồng.

Rồng – phượng trong tỏ tình :

Rồng giao đầu, phượng giao đuôi

Nay tui hỏi thiệt, mình thương tui không nào ?

Rồng – phượng trong than thân trách phận khi phượng Bắc rồng Nam :

Chầu này rồng nọ xa mây

Phượng loan chắp cánh theo bầy chim quyên

Còn chi rày nợ mai duyên

Bạn an phận bạn, ta phiền phận ta.

Hay có mới nới cũ :

Giếng sâu gàu nổi bon bon

Tui có con cá trích anh phụ con cá sòng

Trách ai ăn ở hai lòng

Đang chơi với phụng thấy rồng chạy theo.

RỒNG - HỔ (LONG- HỔ) cũng là một cặp có quan hệ nhau. Khi nói long hổ là chỉ người tài giỏi hơn đời, nhà đạo sĩ thì cho đó là nước và lửa, còn nhà địa lý cho đó là tên gọi hai gò ở hai bên ngôi mộ, là long huyệt tốt. Nhưng thầy bảo hổ là hổ, long là long, hòn đất không biết cãi, ông Phật không biết nói, nếu mà long hổ có tay, thì thầy địa lý có ngày mất răng.

Để nói lên cuộc đời gặp may, gặp thời, dân gian thường ví von : Rồng gặp mây, cọp gặp gió.

Rồng ghép với mây, với phượng, với rắn, với hổ và cả với tiên nữa, thật là xứng hợp, đẹp đôi. Vì thế, trong thực tế có sự kết hợp không được mỹ mãn là do :

Thế gian được vợ hỏng chồng

Có phải tiên rồng mà được cả đôi.

Nên trong cảnh vợ chồng có những lời than phiền :

Nói ra sợ chị em cười

Con nhà gia giáo lấy người đần ngu

Rồng vàng tắm nước ao tù

Người khôn ở với người ngu bực mình.

Cũng như trường hợp rồng nằm giữa biển rồng than / Trách con cá đối nằm ngang mình rồng.

Trong dân gian thường nhắc đến thuyền rồng, thuyền rồng cho vua, thuyền rồng cho Hoàng Hậu... Ngồi thuyền rồng là một trong ước mơ của hạng dân dã, như người vợ chắc chiu để mua chiếc thuyền rồng, đem ra cửa bể cho chồng chèo chơi. Vì ăn ở nơi thuyền rồng là một sự may mắn, hạnh phúc, nên có sự so sánh :

Một ngày dự mạng thuyền rồng

Còn hơn muôn kiếp ở trong thuyền chài

Nhưng không phải ai cũng có diễm phúc được ngồi ở thuyền rồng :

Trai ơn vua cỡi thuyền rồng

Gái chịu ơn chồng nằm võng ru con

Cho nên có người mong ước ở gần ông lớn năng coi thuyền rồng, chứ mấy đời gỗ mục làm sao đóng nên thuyền rồng ?  Do đó dân dã thường nói chơi:

Mai mốt em về lấy chồng

Sang sông đã có thuyền rồng cưỡi chơi.

Thuyền rồng cũng đã được dân dã đưa vào ví von trong tình duyên đôi lứa, trong đời sống vợ chồng :

Thuyền rồng chở lá mù u

Người khôn ở với người ngu bực mình.

Và chẳng ai ham ngồi thuyền rồng, vì thuyền rồng bất nghĩa thả trôi / Thuyền nan có nghĩa ta ngồi thuyền nan, cũng như :

Ngồi trong cửa sổ chạm rồng

Chăn bông đệm quế, không chồng cũng hư

Lại có anh chàng đi ngang qua ngõ nhà nàng, anh thấy cha nàng nằm võng, mẹ nàng nằm giường, thấy em nằm đất, nên anh cất bụng thương, về nhà đóng một cái giường hai đầu chạm hai con long / Bốn chân bịt bạc, tám song chạm rồng. Nhưng sau đó :Tai nghe em bậu có chồng, anh đứng đàng truông anh réo : « Vác giường rồng trả anh » ! Thật tội nghiệp anh chàng si tình, đã tổn nhiều công sức mà không được gì. Còn có những người con gái nghèo bày tỏ quan điểm của mình trước những chàng trai giàu có :

Nhà anh cột sắt kèo đồng

Nhà em cột … sậy chạm rồng tứ linh.

Vì việc chạm rồng trổ phượng xem thấy đẹp đẽ, cao sang, nhưng :

Khen ai khéo tạc bình phong

Ngoài long lân phượng, trong lòng gạch vôi

để thấy tốt gỗ hơn tốt nước sơn. Điều đó thể hiện sâu sắc nhận định của dân gian về con vật được xem là linh thiêng cao quý này, vì rồng không phải lúc nào cũng linh thiêng, cao quý, có khi rồng nằm bể cạn phơi râu là vì rồng còn uốn khúc ở ao đợi thời. Hay khi rồng sa cơ, thất thế thì rồng cũng như giun, giống như chó cỏ rồng đất, đầu rồng đuôi tôm mà thôi. Lúc đó thấy rồng vàng cuộn khúc cứ nghĩ đuôi thằn lằn. Và bao giờ đến hội rồng vàng thì không thấy rồng vàng đâu cả chỉ thấy con rắn trắng nằm ngang suốt trời. Cho nên, trong cuộc sống, dân gian ta đã có nhận định :

Đắc thời đắc thế thì khôn

Sa cơ rồng cũng như giun khác nào

Và chắc rằng không có sự so sánh mang tính bất công như xưa :

Con công ăn lẫn với gà

Rồng kia rắn nọ coi đà sao nên.

Tuy thế, con rồng vẫn là năm biểu tượng của năm Thìn. Người sinh năm Thìn mang tuổi Thìn, tuổi con rồng ở mây xanh, làm mưa làm gió, ẩn mình trong mây như bài Vè 12 con giáp đã lưu truyền. Và chính năm Thìn, năm Giáp Thìn 1904 con rồng đã làm mưa làm gió gây ra trận bão lụt lớn nhất trong lịch sử mà dân gian vẫn còn truyền tụng :

Năm Thìn trời bão thình lình,

Kẻ trôi người nổi, hai đứa mình còn đây.

Mưa to bão lụt gây nhiều thiệt hại về tài sản và con người, con người khốn khổ, đói khát, chẳng giúp đỡ nhau được nhiều, ngay như người thân trong gia đình : Năm thìn năm tị chị chẳng nhìn em là thế !

Trong Tết Trung Thu, dân Việt còn có tục múa rồng. Tục múa rồng là để cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi, đời sống ấm no hạnh phúc. Vì người dân Việt tin rằng con rồng, con vật linh thiêng đem lại mưa nắng và những điều tốt đẹp và mong được thỏa những ước mơ nhân năm Thìn đến :

Anh đây lục khí thần thông

Bẻ mây, đón gió, bắt rồng đi chơi.

N.V.B

 

Bài cùng tác giả

>> Hình ảnh rồng trong đời sống dân tộc Việt

>> Cá vượt vũ môn hóa rồng

>> Tết của một thời ấu thơ

>> Vè Các Lái ngang qua huyện Ninh Hòa

>> Miếu và miễu ở Khánh Hòa (kỳ 2)

>> Miếu và miễu ở Khánh Hoà (kỳ 1)

>> Dinh Trấn Biên Nha Trang dưới thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong có hay không ?

>> Việc giáo dục chữ Lễ trong gia đình và nhà trường

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ Bắc tới Nam (kỳ 2)

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ bắc tới nam (kỳ 1)

>> Thịt mèo

>> Chuyện mèo năm Mão qua câu ca tiếng nói người Việt

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 2)

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 1)

>> Những trường học tại Nha Trang xưa và nay

>> Chất biển trong con cá vịnh Nha Trang

>> Con cọp qua cái nhìn dân gian Việt Nam

>> Món cọp năm Dần

>> Về Diên Khánh ăn bánh ướt

>> Cọp Khánh Hòa

>> Thầy Đồ Cóc

>> Đất Khánh người Hòa

>> Món ngon Năm Sửu

>> Con trâu trong văn học các dân tộc VN

>> Món ngon năm chuột

>> Chuyện chuột năm Tý

>> Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

>> Vịt lội Ninh Hòa

*** Nghề làm bánh tráng ở Xóm Rượu Ninh Hòa:

>> Kỳ 1, kỳ 2, Kỳ 3

*** Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang,

     việc giỗ của người Việt:

>> Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, kỳ 11, kỳ 12