QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGHỀ NÔNG CỔ TRUYỀN

VÙNG ĐẤT KHÁNH HÒA XƯA

 

NGÔ VĂN BAN  - VÕ TRIỀU DƯƠNG

 

NGHỀ NÔNG CỔ TRUYỀN VÙNG ĐẤT KHÁNH HÒA XƯA là công trình biên khảo về văn hóa dân gian của Ngô Văn Ban và Võ Triều Dương. Công trình gồm có 7 chương và phần Phụ lục. Sau đây, là Chương IV miêu tả về các nông cụ xưa, cách sử dụng trong nghề nông cổ truyền tại vùng đất Khánh Hòa của những năm dưới triều nhà Nguyễn đến đầu thế kỷ XX.

 

CHƯƠNG IV

 

NÔNG CỤ, VẬT DỤNG VÀ CÁCH SỬ DỤNG TRONG

NGHỀ NÔNG CỔ TRUYỀN TẠI TỈNH KHÁNH HÒA XƯA

 

(Kỳ 1)

 

Những nông cụ cũng như các vật dụng dùng làm đất, gieo trồng, vận chuyển, chăm bón, thu hoạch, bảo quản nông sản của người nông dân trong tỉnh canh tác ruộng ngày xưa có những nông cụ, vật dụng khác với những nông cụ, vật dụng ngày nay. Ngày nay, với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật hiện đại, phát triển, canh tác nông nghiệp đã chuyển sang cơ giới hóa, một số việc canh tác và cả thu hoạch, vận chuyển, một số nơi dùng máy móc, thay thế sức người, sức vật, sức kéo. Từ đó, một số các nông cụ, vật dụng người nông dân sử dụng từ xưa, khoảng hơn 100 năm nay, dần dần không được sử dụng nữa, nên sinh ra hư hao, mất mát, mai một theo thời gian, hiện nay tìm kiếm rất khó khăn, chỉ được tìm thấy trong sách báo tranh ảnh, trong các nhà bảo tàng Nhà nước, sưu tập của tư nhân hay trong các khu du lịch sinh thái phục hồi, làm mới lại...

Đa số các nông cụ xưa đều làm bằng tre, một số làm bằng gỗ (có nông cụ phải dùng loại danh mộc), bằng song mây to nhỏ, bằng sắt ...

Ở Khánh Hòa, tre mọc nhiều ven các sông lớn nhỏ trong tỉnh và cả ven đất, ven xóm nhà dân. Người dân trồng tre không những giữ đất hai bên sông đỡ sụp lở mà cây tre còn là vật liệu làm ra nhiều đồ dùng hàng ngày, dùng trang trí, xây cất ... Trong đó, nông cụ, vật dụng ngày xưa đa số từ tre mà hình thành nên.

 

Tre có thể dùng cả đoạn tre hay chẻ ra thành nan để đan (tiếng địa phương gọi là đương) các nông cụ, vật dụng. Tre được trồng ven sông suối, ven nhà là loại tre đồng. Còn tre tự mọc trên rừng gọi là tre rừng. Tre rừng có nhiều gai, nhánh dày, đan xen nhau, thấp hơn tre đồng. Loại tre rừng mọc hoang, phát triển nhanh, trải rộng thành đám, có khi chiếm cả ngọn đồi. Tre rừng đặc ruột, thân có đường kính trung bình từ 4 đến 6cm. Gốc tre rừng người ta thường dùng làm chuôi cán các nông cụ hay binh khí, như làm cán rựa, cán giáo mác, cây đỏi của cái cày … vì nó rất bền chắc. Nếu nó bị hơi cong, người ta dùng lửa hơ cho nóng đoạn cong đó rồi uốn lại cho thẳng. Người ta cũng dùng thân tre rừng có độ già để làm nhà hay trại có độ bền trăm năm, sau một thời gian ngâm tre dưới nước bùn để tránh mối mọt ăn sau này.

 

 

Ngâm tre để giữ được lâu

(Tranh Henri Orger)

 

Tre đồng còn gọi là tre nhà rất hữu dụng ở vùng nông thôn. Đa số những đồ gia dụng hay nông cụ đều làm bằng loại tre này. Tre đồng có 2 loại : tre đựctre cái. Tre đực rất chắc chắn, dùng làm thang hay cất nhà. Muốn có tre đực phải trồng nơi đất xấu, có diện tích hẹp, mục đích là để tre “suy dinh dưỡng”. Tre đực đặc ruột và nhỏ hơn tre cái, có đường kính từ 5 đến 7cm. Nếu tre đực không có ruột nhiều, vỏ tre mỏng thì không làm thang, làm nhà được mà dùng làm các nông cụ, đồ gia dụng. Tre cái có thân cây cao, có cây cao đến 10m, đường kính có cây cỡ  80 – 100cm, lóng tre dài từ 20 – 30cm. Người ta có thể dùng thân tre làm cán các nông cụ hay chẻ ra thành nan để đan các nông cụ, vật dụng. Mặt ngoài vỏ tre chẻ ra thành nan, gọi là nan cật. Ruột tre chẻ ra thành nan, gọi là nan ruột. Nan ruột không chắc cứng như nan cật. Các nông cụ thường được đan bằng nan cật. Kích cỡ nan (dài, ngắn, dày, mỏng) tùy theo vật dụng được đan. Nan phải được chuốt kỹ, đều bề ngang, không có chỗ dày chỗ mỏng gọi là nan suốt. Người lành nghề vót được nan hình lá hẹ, hai bên mép nan thì hơi mỏng, ở giữa thì dày hơn, mục đích để khi đan, các đường nan khít nhau hơn.

Việc dùng tre đan nan cũng được đưa vào câu hát địa phương :

 

Hồi nào bậu nói bậu đành

Bụi tre trước ngõ, bậu biểu (bảo) để dành đương (đan) nan

Bây giờ bậu nói bậu không

Tre kia ta biết đương (đan) nong cho ai nằm ?

 

Người ta cũng dùng nan tre vót mỏng để cột mạ.

Đan nan là dùng nan, cái dọc cái ngang mà gài với nhau. Đan đátđan dùng nan lớn, đát dùng nan nhỏ để mà kềm nan lớn. Đát đan cặp nan nhỏ, dùng nan nhỏ mà lên vành thúng mủng. Nan đát nan nhỏ đối với nan đan là nan lớn. Nghề đan đát rất khó, đòi hỏi sự khéo tay, nhiều kinh nghiệm :

Liệu bề đát đặng thì đan

Đừng gầy rồi bỏ, thế gian chê cười.

Kỹ thuật đan nan tre có các kiểu đan khác nhau tùy theo vật dụng :

Đan long mốt, long hai, long ba, long tư …, long bối (có vùng gọi là nong, lòng, lông) là kiểu đan cứ chặn một nan lại bắt một, chặn một nan lại bắt hai, chặn một nan lại bắt ba mà lần đi ... Khi đan đát xong, ta có tấm . Nếu đan nong nia, thúng mủng … thì ta đặt vành lên , tức là công việc lận vành. Lúc đó mới thành nong nia, thúng mủng … Tre lận vành không non không già. Vành được làm từ trước, cột sẵn, dùng miếng tre cuộn tròn lại, để vành vào và lận đứng, kẹp vành trong vành ngoài cho tròn trịa, rồi dùng dây mây cườm vành hay còn gọi là nức vành (nức thúng, nức mủng ...), tức là dùng dây mây niền vành, xỏ tréo quanh vành vào tấm đan ở miệng nong nia thúng mủng ... cho các nan tre khỏi sút và cho miệng nong nia, thúng mủng chắc cứng.

 

 

Kiểu đan tre (Tranh Henri Orger)

 

 

Thợ đan lát (Ảnh Internet)

 

 

 

Hàng bán bồ cót đan bằng tre ngày xưa (Ảnh Tư liệu)

 

Ngoài dùng nan tre để đan các nông nụ, người nông dân còn dùng nguyên cây tre để chế tác nông cụ, như làm đòn xóc, đòn gánh, cán cái bàn trang, cán gàu sòng, chân gàu sòng, cái bồ cạp đuổi chim, cái mỏ gảy trộn rơm rạ, cái trục xe cút kít ...v....v...

Về nông cụ cổ truyền Việt Nam, Ngô Đức Thịnh trong tác phẩm Tìm hiểu nông cụ cổ truyền Việt Nam (sđd) đã cho rằng là một đề tài quan trọng của bộ môn Dân tộc học và Văn hóa dân gian. “Các nhà Dân tộc học sẽ thấy được trong hệ thống nông cụ của mỗi dân tộc, mỗi địa phương những sắc thái tộc người và địa phương, sự biến đổi của nó trong tiến trình lịch sử dân tộc, trình độ và thói quen trong kỹ thuật nông nghiệp. Các nhà Phôncơlo học sẽ thấy được những tri thức và kinh nghiệm quý báu của người nông dân trong việc thích ứng với môi trường, trong sử dụng kỹ thuật để canh tác và sản xuất nông nghiệp, trong quan niệm thẩm mỹ và tính ích dụng của công cụ” (trang 7)

Tìm về và ghi chép lại những nông cụ, những vật dụng trong việc canh tác, thu hoạch, vận chuyển, bảo quản của nghề nông thời xưa trên vùng đất Khánh Hòa là góp phần cho những thế hệ ngày nay và ngày sau có thể hiểu biết về một thời cha ông ta đã sử dụng những nông cụ gì để làm ra những hạt lúa hạt gạo nuôi sống chúng ta, góp phần vào việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, của đất nước.

 

I. NHỮNG LOẠI NÔNG CỤ DÙNG LÀM ĐẤT VÀ DÙNG TRONG GIEO TRỒNG

 

1/ Cái cày :

Cái cày là biểu hiện của nền văn minh lúa nước. Cái cày xuất hiện đánh dấu một bước ngoặt của nghề trồng trọt, giải phóng phần nào sức lực con người, năng suất cây trồng lên cao. Cày xuất hiện cũng là thời điểm con người dùng sức kéo của con vật trong việc sản xuất nông nghiệp, đó là dùng con trâu, con bò. Ở các nước Tây phương sức kéo thường là con ngựa. Sức lực của người nông dân trong việc cày ruộng đổ ra rất nhiều so với việc dùng cuốc, dùng mai nên con người phải dùng con trâu con bò phụ giúp,

Cái cày của người nông dân ngày xưa ở trong tỉnh sử dụng còn đơn sơ lắm, hầu hết đều làm bằng gỗ, chỉ có cái lưỡi cày là làm bằng sắt. Cái cày là một công cụ dùng để xới đất, lật lớp đất lên trước khi trồng trọt. Cái cày được kéo bằng trâu hay bò, kéo với 1 con hay 2 con.

Cái cày có hình dáng khác nhau cho phù hợp với thổ nhưỡng từng địa phương. Do đó, cái cày miền Bắc khác với cái cày miền Trung, miền Nam. Vùng đồng bằng Bắc bộ có cày chìa vôi, còn cái cày ở miền Trung như nông dân ngày xưa dùng trong tỉnh Khánh Hòa có hai loại : cày nángcày đỏi khác với cái cày miền Bắc.

a) Cày náng, còn gọi là cày nống, cày ống. Cày này chỉ cày đất khô trên đất thổ, không dùng cày ruộng nước. Cày náng hiện nay tại Khánh Hoà không ai dùng nữa nên mất hẳn dấu tích.

Cày náng gồm có : chuôi cày, mỏ cày, trạnh cày và náng cày.

- Chuôi cày (miền Bắc gọi là tay cày) là để người cày cầm nắm điều khiển cả cái cày khi được trâu hay bò kéo, phần dưới là mỏ cày. Trong khi đó, ở các nơi khác ngoài tỉnh, chuôi càymỏ cày (để móc lưỡi càytrạnh cày) được gắn ghép lại từ các đoạn khác nhau. Chuôi cày náng được chọn từ một cành cây lớn thuộc loại danh mộc, như ké, muồng, căm xe… có hình dáng hơi giống chữ Z, nhưng không gấp khúc mà hơi cong. Sau đó, người ta đẽo nhỏ lại, phần trên là chuôi cày, nối liền với phần dưới là mỏ cày.

- Mỏ cày (miền Bắc gọi là mõm cày) có độ thẳng nằm liền với mặt đất. Phần đầu của mỏ cày đẽo nhọn giống hình cái bắp chuối chẻ hai, gắn vào một lưỡi cày được đúc bằng gang, mặt trước có hình lòng chảo, cạn dần về phía mũi, mặt sau được cấu tạo mộng để tra phần mỏ cày vào. Trên thân lưỡi cày có khoan mấy lỗ để bắt vít cố định vào mỏ cày. Lưỡi cày có nhiệm vụ lật lớp đất khỏi nền. Có lưỡi cày hình thang và hình mũi đục

- Trạnh cày (miền Bắc gọi là diệp cày) trên lưng mỏ cày, cũng đẽo bằng gỗ, hình thang, có tạo cái chốt gắn chặt vào mỏ cày và có thể tháo mở ra thay thế được. Trạnh cày có nhiệm vụ khi cày gạt nhát đất về một phía của luống cày.

- Náng cày (miền Bắc gọi là láng cày) giữ cho mỏ cày và bắp cày ở trong cái thế vững chắc. Náng cày là một đoạn cây to bằng bắp tay, dài hơn 2,5m, rất thẳng, thuộc loại danh mộc để có độ bền lâu, được gắn vào phía dưới chuôi cày cách khoảng 0,3m, thẳng đường song song với mỏ cày về phía trước. Ngay chỗ trạnh cày có một cây nọc thẳng đứng xuyên qua náng cày bằng một cái lỗ, bên trên có đóng chốt để náng càymỏ cày vững chắc liền nhau. Chính cái trạnh cày được giữ vững trên sóng lưng mỏ cày là nhờ kết tựa thêm vào cây nọc này.

Cuối đầu trước của náng cày, phía dưới có tra một cái móc nài để cột vào sợi dây nài nối liền cái quải  (cái ách) cho trâu hay bò kéo đi.

Cày đất thổ trồng hoa màu phụ, ngoài cày náng ra, còn có cày nống hay cày ống. Hình dáng cày này cũng giống cày náng, chỉ khác náng cày không gắn cố định vào mỏ cày, mà có thể đưa cây náng lên cao hay xuống thấp hơn tùy theo thế đất.

b) Cày đỏi dùng để cày trên ruộng nước, không thể dùng cày náng được

 

Cày đỏi (Ảnh VTD)

 

Cày đỏi gồm có :

- Mỏ cày : Mỏ cày đỏi có hình dáng giống mỏ cày náng, chỉ khác là phần dưới chuôi cày được đẻo phình to hơn. Cày đỏi không có cây náng dài để gắn luôn vào cái quải mà chỉ có cái bắp cày nhỏ hơn bắp chân, hình dẹp, gắn rất chặt vào cái lỗ hình khối chữ nhật ngay chỗ phần chuôi cày được đẽo phình to như nói ở trên.

Để bắp cày có thể lấy ra hay sửa chữa, ngay lỗ tra bắp cày đóng vào một cái mộng (cái chốt) bằng gỗ. Mộng này vừa giữ chặt bắp cày, vừa lấy bắp cày ra dễ dàng bằng cách tháo mộng ra.

(Hình trích trong Tìm hiểu văn hóa Vĩnh Long, sđd, trang 58)

 

- Lưỡi cày đúc bằng gang, được gắn vào mỏ cày.

- Trước năm 1960 trạnh cày được đẽo bằng gỗ, thường bị mục, hư hỏng sau 5 - 6 mùa cày. Những năm trở về sau, trạnh cày được cải tiến, chế tạo bằng gang và sau đó các bộ phận cái cày cũng được chế tạo bằng sắt cho đến ngày nay. Những chiếc cày gỗ ngày xưa đã không còn dấu tích.

- Cây đỏi : Khi bắt đôi trâu xuống ruộng cày, người ta dùng một dụng cụ nối liền cái cày với cái quải tròng lên cổ đôi trâu, đó là cây đỏi. Cây đỏi dài khoảng 1,5m, làm bằng cây tre đực thật già, đặc ruột, to hơn cán cuốc, hai đầu có tra 2 cái chốt, gọi là con sẻ. Hai đầu cây đỏi nối với cày và bộ quải là 2 cái dây nài. Dây nài được bện xoắn lại bằng mảnh tre cật. Cây đỏi đong đưa như chiếc võng để dễ dàng điều khiển đôi trâu và cái cày khi cày quanh góc ruộng. Cây đỏi đặt vô tháo ra dễ dàng vào sợi dây nài. Nhờ vậy, ngày xưa, người nông dân đang cày ruộng gần núi thấy cọp xuất hiện, cây đỏi trở thành vũ khí tự vệ cho người nông dân. Hay khi có cướp xông vào làng, cây đỏi cũng là một thứ vũ khí chống cướp.

 

CÁC LOẠI CÀY TRUNG BỘ VIỆT NAM

(Hình trích trong “Tìm hiểu nông cụ cổ truyền Việt Nam” của Ngô Đức Thịnh, trg.102)

 

 

NGÔ VĂN BAN  - VÕ TRIỀU DƯƠNG

 

(Xem tiếp kỳ 2)

 

 

Bài cùng tác giả

>> Hình ảnh rồng trong đời sống dân tộc Việt

>> Cá vượt vũ môn hóa rồng

>> Tết của một thời ấu thơ

>> Vè Các Lái ngang qua huyện Ninh Hòa

>> Miếu và miễu ở Khánh Hòa (kỳ 2)

>> Miếu và miễu ở Khánh Hoà (kỳ 1)

>> Dinh Trấn Biên Nha Trang dưới thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong có hay không ?

>> Việc giáo dục chữ Lễ trong gia đình và nhà trường

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ Bắc tới Nam (kỳ 2)

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ bắc tới nam (kỳ 1)

>> Thịt mèo

>> Chuyện mèo năm Mão qua câu ca tiếng nói người Việt

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 2)

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 1)

>> Những trường học tại Nha Trang xưa và nay

>> Chất biển trong con cá vịnh Nha Trang

>> Con cọp qua cái nhìn dân gian Việt Nam

>> Món cọp năm Dần

>> Về Diên Khánh ăn bánh ướt

>> Cọp Khánh Hòa

>> Thầy Đồ Cóc

>> Đất Khánh người Hòa

>> Món ngon Năm Sửu

>> Con trâu trong văn học các dân tộc VN

>> Món ngon năm chuột

>> Chuyện chuột năm Tý

>> Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

>> Vịt lội Ninh Hòa

*** Nghề làm bánh tráng ở Xóm Rượu Ninh Hòa:

>> Kỳ 1, kỳ 2, Kỳ 3

*** Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang,

     việc giỗ của người Việt:

>> Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, kỳ 11, kỳ 12