QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sản vật làng quê

Hình Phước Long

 

Hà Liên quê tôi, nằm ở cuối bờ đầm Nha Phu, thế nên nước thuỷ triều ở đây thường cạn. Lại thêm nằm ở cuối nguồn con sông cái Ninh Hoà đổ ra biển, nên quanh năm là vùng nước chè hai. Quanh làng tôi cồn sác rất nhiều, mỗi cồn có một tên riêng, được phân giới bởi những con lạch. Cây thuỷ sinh ở vùng nước lợ như: Mắm, Đước, Sú, Bần, Vẹc, Giá mọc đầy và xanh tốt quanh năm. Cây nào dùng vào việc nấy…

Cây Mắm có thân chắc, dẻo không thể nào dùng tay không mà bẻ được nhánh một cách dễ dàng. Tán cây Mắm toả rộng, nên là nơi các loài chim biển thích tìm đến trú ngụ. Đặc biệt là quả của cây Mắm, đến mùa là chi chít đầy cành. Quả Mắm chỉ lớn bằng ngón tay cái, da màu xanh nhạt, mọc thành chùm… Người dân làng tôi vào những năm giặc giã khó khăn, gạo không đủ bữa, người ta phải hái trái mắm đem về luộc đi, luộc lại năm, bảy lần cho quả Mắm bớt đi chất chát, rồi đem hấp với cơm để ăn ghé!

Cây Bần có hai loại, khác nhau là chất ở quả của nó, có loại Bần quả chua và loại Bần quả đắng. Bần quả chua người ta dùng để nấu canh chua với cá, vị chua của canh Bần cũng có khác với canh me, vừa thanh lại vừa chát chát, làm cho người ăn cảm thấy khoái khẩu.

Bần quả đắng thì không ăn được. Lũ trẻ ở làng tôi thường hái quả Bần đắng để làm trái vụ mà chơi. Quả Bần có hình tròn mà lại hơi dẹt, nên rất dễ làm vụ. Làm một trái vụ rất đơn giản, chỉ vót một cây tre nhỏ bằng chiếc đũa ăn, đầu dưới vót hơi nhọn, cây dài khoảng 1,5 dm, cắm từ tâm của quả Bần xuyên thủng xuống phần dưới của quả, cho khoảng tre lồi qua chừng 1 phân là vừa, phần tre ở trên còn lại hơn 1dm là chỗ dùng để se vụ. Se vụ cũng dễ thôi, lấy phần tre ở trên cây vụ, kẹp vào giữa hai bàn tay, đẩy lui đẩy tới lấy đà, rồi se thật mạnh cây vụ ra sân đất hoặc sân ciment, cây vụ xoay tít vòng tròn ngay tại chỗ. Trò chơi đơn giản vậy mà thu hút bọn trẻ chúng tôi suốt cả mùa hè, giờ ngồi nhớ lại vẫn còn thấy thích!

Cây Sú, ở làng tôi thì lại gọi là cây Trú. Không rõ vì sao mà dân làng tôi lại gọi trại đi như thế? Lớn lên tôi đã đi đến nhiều miền đất, cũng có thổ nhưỡng na ná như ở làng tôi, nhưng người ta đều gọi cây Sú! Về hỏi lại những người có tuổi trong làng, thảy đều không rõ. Cây Sú thân nhỏ, gốc chỉ tầm cổ chân người lớn, cây cao lắm cũng không quá đầu người, tán xòe tròn, lá nhỏ, trông như cành đào miền Bắc vậy! Cây Sú thì không dùng vào việc gì được cả…nhưng mà lợi ích của nó mang lại cho làng quê tôi cũng không phải là ít! Cứ đến tháng 3 hàng năm là mùa hoa Sú nở. Hoa Sú màu trắng, nhỏ li ti, mật từ hoa, hương tỏa ngào ngạt khắp cả một vùng. Đây là mùa của những đàn ong tụ hội về đây hút nhụy hoa về làm mật. Hoa Sú nở rộ chừng khoảng hơn nửa tháng thì tàn hết! Đàn ong hút nhụy hoa về làm tổ trên những tán Đước, tán Mắm khắp nơi trên cồn sác quanh làng. Chỉ năm, mười ngày sau khi hết mùa hoa Sú nở, dân làng tôi lại tìm vào sác để lấy tổ ong, mà hầu hết đều là tổ ong Ruồi. Lấy tổ ong Ruồi cũng rất dễ, chỉ cần một nắm lá cây khô, tươi lẫn lộn, đốt cháy cho khói tỏa lên, rồi xông vào tổ ong, đàn ong không chịu được hơi nồng cay của khói, thế là bay tuốt luốt. Người đi lấy tổ ong chỉ việc nhẹ nhàng bẻ nhành cây có tổ ong đang làm mật xuống là xong. Mùa hoa Sú, ở làng tôi nhà nào chịu khó đi vào sác bắt ong thì cũng lấy được vài ba lít mật. Mật ong Ruồi lấy từ hương hoa Sú có mùi thơm ngan ngát, vị mật ngọt thanh. Mùa hè mà được uống một cốc trà, pha với một muỗng cà phê mật ong hoa Sú thì còn gì sảng khoái cho bằng!

Cây Vẹc là loại cây có vỏ rất dày, dân làng tôi thường dùng vỏ của loại cây này để nhuộm rớ. Ngày trước, người ta dùng cước để đan lưới, còn đan rớ thì phải dùng đến nhợ. Nhợ cũng là một loại chỉ, nhưng lớn hơn chỉ may quần áo nhiều lần, cũng làm từ sợi vải nên nhợ thường là màu trắng. Đan xong một tấm rớ, phải nhuộm lại màu bồ quân thì mới đem rớ ra hành nghề được. Để có màu để nhuộm, dân quê tôi đi bóc lấy vỏ của cây Vẹc, đem về phơi vài ba nắng cho vỏ cây héo lại, rồi mới nấu vỏ cây. Nấu cho đến khi nước vỏ cây sắc lại, có một màu nâu đậm như màu của trái bồ quân thì mới đem rớ vào nhuộm. Khi nhuộm phải trộn đều tấm rớ vào trong nước vỏ cây, xong thì lấy mấy viên đá đè lên trên tấm rớ, ngâm hẵn tấm rớ xuống dưới nước. Cứ để đó cho đến ngày hôm sau mới lấy ra phơi khô. Phơi cho rớ khô xong, lại đem ra giặt lại với nước chè hai đôi ba lần nữa thì mới xong công đoạn nhuộm rớ. Tấm rớ nhuộm xong, màu óng lên dưới nắng trông thật bắt mắt. Rớ nhuộm một lần là vĩnh viễn, màu không bao giờ phai cả.

Cây Giá là loài cây thân có mủ, cây Giá khi còn tươi, thả xuống nước thì chìm ngay, nhưng khi cây Giá đã khô rồi thì trở nên nhẹ bổng, thả xuống nước, cứ bồng bềnh nổi trên mặt nước. Nhờ thân cây Giá khô nhẹ, mà dân quê tôi dùng cây Giá để làm phao cho các nghề đánh bắt hải sản như: phao lưới, phao câu, phao rập… Còn trẻ nhỏ chúng tôi thì lại dùng nó vào trò chơi của mình. Chặt một cây Giá bằng cổ tay, dài chừng một mét, róc hết vỏ, thân cây Giá trở nên trắng nuột, thế là làm được một bộ trỏng, gồm một cây trỏng mẹ, hai cây trỏng con ngon lành! Nhưng nhớ phải phơi ít nhất là một nắng cho cây ráo hết mủ, rồi mới đem ra chơi. Phơi nhiều nắng quá, Giá sẽ nhẹ tênh thì không thể chơi trỏng được. Trẻ con làng tôi, mùa nào có trò chơi đó, tự tạo ra cái để mà chơi! Không như trẻ con ở thành thị, muốn có trò chơi thì cứ vào hàng quán, siêu thị, mua những trò chơi đã được làm sẵn.

Cây Đước là một cây đặc sản ở hầu hết các vùng biển, có đầm nước chè hai. Đước có thân thẳng đứng, rễ Đước từ thân Đước đâm ra, vòng cong cắm sâu vào đất. Cây Đước có tuổi từ mười lăm, đến hai mươi năm, thân sẽ lớn bằng thân người, cao khoảng mười lăm, đến hai mươi mét. Riêng rễ Đước mọc quanh thân Đước cũng đến vài chục rễ, mỗi rễ to bằng bắp tay, dài đến ba, bốn mét. Đước là loài danh mộc, dùng vào việc làm trụ nhà thì chắc vô song. Làm trụ giàn trên biển thì đến cả chục năm không mục, không sợ bị hàu ăn gốc. Than Đước có độ nóng cao, lâu mụn có thể dùng thay cho than công nghiệp. Chỉ cần một cây rễ của Đước thì có thể vót thành hàng chục đôi đũa bếp, cùng vài chục đôi đũa ăn, xài đến vài năm.

Vì Đước là loài cây quý, nên dân làng tôi luôn có ý thức giữ gìn nó. Làng lập một ban quản lý cồn sát, để bảo vệ giống Đước này. Hàng ngày ban quản lý phải có trách nhiệm đi kiểm tra các cồn Đước. Hễ bất kỳ ai chặc Đước về làm củi, đốt than hay vì một mục đích gì khác, mà chưa được phép của làng,  đều phải thu hồi về làng. Người vi phạm thì phải chịu nộp phạt do làng quy định. Ban quản lý được thưởng bằng một phần sản vật thu hồi được. Gần như hầu hết những người vi phạm đều là dân ở làng khác đến.

Những gia đình nào ở làng tôi có nghề làm giàn rớ hay làm nò, thì mỗi năm làng cho phép một lần được chặc Đước có tuổi từ một, đến hai năm, để làm rạo, làm rã phục vụ cho nghề nghiệp chính đáng. Xong thì phải trồng lại số Đước tương ứng với số Đước mà mình đã được phép chặc trước đó. Gia đình nào có phụ nữ thai nghén đến thời kỳ sinh nở, thì được làng cho phép chặc tối đa là ba xuồng gốc Đước khô, để hầm than. Gốc Đước tươi thì tuyệt đối cấm. Làng tôi xem việc quy định này đã trở thành thói quen, không ai thắc mắc, không ai vi phạm.

Những cồn sác, với những cây Đước, cây Mắm, cây Sú, cây Vẹc, cây Bần, cây Giá… đã trở thành những sản vật quý giá của làng tôi. Bởi nó gắn liền với đời sống vật chất, lẫn tinh thần của dân làng quê tôi từ bao đời nay, mà không ai có thể lấy gì để thay thế được!

Chỉ tiếc rằng, sau ngày đất nước thống nhất, chính sách kinh tế của đất nước ta thời ấy không phù hợp với xã hội, đã đẩy đời sống của  nhân dân ta lâm vào cảnh thiếu thốn, cơ cực. Ruộng đồng đều đưa vào Hợp tác xã cả, cứ hễ nghe tiếng kẻng khua thì toàn dân lại ra đồng lao động. Làm chỉ lấy có! Ở những chân ruộng mà các “Lão nông tri điền” quy vào hạng cao sản, trước đây mỗi vụ thu hoạch từ năm, đến bảy tấn trên một mẫu. Nay mỗi vụ ba tấn bói cũng không ra!

Làng tôi thì nào có ruộng đất chi đâu, dân chỉ biết bám vào cồn sác mà kiếm sống qua ngày. Nghề biển thì cò con, làm sao mà tập thể hoá được, thế là nhà nước lơ đi… Nhưng mà trời ơi, hễ nhà nước lơ thì dân ở miền đồng đói quá, nên cũng đâu có thể lơ mãi được. Vậy là họ tràn xuống vùng đầm quanh làng tôi, ngang nhiên chiếm phá cồn sác, đắp đìa nuôi tôm, nuôi cá kiếm lấy cái ăn. Ban đầu dân làng tôi quyết ngăn cản, đã xảy ra nhiều vụ xô xát… Rồi chính quyền xã, huyện đều có đến giải quyết, nhưng mà giải quyết thế nào được, khi mà “Đất đai là tài sản của toàn dân”, mà họ cũng là nhân dân đấy thôi! Họ có khác gì dân làng Hà Liên của tôi đâu nào? Thế là xã, huyện đều thua!

Cồn sác ở làng tôi thì nông dân ở các làng đồng xuống chiếm cứ nhiều nơi, nên cuộc sống ngày càng thêm nhiều khó khăn. Có một dạo, dân làng tôi đói quá, lại vừa đúng mùa gặt, không rõ ai bày xúi thế nào mà cả làng kéo lên ruộng gần làng, cứ thế mà gặt lúa rồi mang về! Hợp tác xã nông nghiệp làng trên nghe tin thì náo động cả lên… Rồi lại đến tai xã, đến tai huyện. Xã, huyện lại cử cán bộ đến nơi giải quyết! Dân làng tôi cứ liều mạng đứng ra mà tranh luận rằng, đó là họ đã sử dụng cái “Quyền làm chủ tập thể”, chớ có gì là sai! Hỏi ai chủ trò việc này? Dân bảo đó là “tập thể!” Họ cùng bàn bạc, cùng thống nhất và thế là cùng làm. Tập thể làm chủ kia mà… Vậy rồi cũng hoà cả làng!

Những năm gần đây, nền kinh tế của đất nước đã mở cửa, đời sống của một bộ phận người dân ở thành thị đã trở nên sung túc! Tuy vậy bà con ở vùng nông thôn vẫn còn nhiều gia đình gặp không ít khó khăn. Nhưng dù sao vẫn tốt nhiều lần hơn so với trước. Dân làng tôi cũng thế, cồn sác đang được khôi phục lại dần, các loại cây Mắm, Đước, Bần, Sú, Vẹc, Giá…cũng đã có dấu hiệu phục sinh. Tôi vẫn thầm mong vùng đầm Nha Phu, nơi cuối nguồn con sông Cái quê tôi, một ngày gần đây sẽ trải một màu xanh khắp vùng cồn sát - loài cây sống ở vùng nước lợ - mà tôi gọi đó là những “Sản Vật Làng Quê”, nơi làng quê Hà Liên mà tôi yêu mến nhất!

Hình Phước Long

Bài cùng tác giả