QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGHỀ NÔNG CỔ TRUYỀN

VÙNG ĐẤT KHÁNH HÒA XƯA

 

NGÔ VĂN BAN  - VÕ TRIỀU DƯƠNG

 

NGHỀ NÔNG CỔ TRUYỀN VÙNG ĐẤT KHÁNH HÒA XƯA là công trình biên khảo về văn hóa dân gian của Ngô Văn Ban và Võ Triều Dương. Công trình gồm có 7 chương và phần Phụ lục. Sau đây, là Chương IV miêu tả về các nông cụ xưa, cách sử dụng trong nghề nông cổ truyền tại vùng đất Khánh Hòa của những năm dưới triều nhà Nguyễn đến đầu thế kỷ XX.

 

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 2)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 1)

 

 

CHƯƠNG IV

NÔNG CỤ, VẬT DỤNG VÀ CÁCH SỬ DỤNG TRONG

NGHỀ NÔNG CỔ TRUYỀN TẠI TỈNH KHÁNH HÒA XƯA

 

(Kỳ 3)

 

 

II. NHỮNG NÔNG CỤ DÙNG TRONG VẬN CHUYỂN KHI GIEO TRỒNG, THU HOẠCH

1/ Giỏ trạc mạ :

Giỏ trạc mạ không phải là cái bội ở Quảng Nam, Bình Định hay cái sọt ở phía Bắc. Về hình dáng và cách đan thì có giống nhau, nhưng cái bội ngắn hơn, chỉ bằng một nửa chiều cao của giỏ trạc mạ. Miệng cái bội lớn hơn đáy bội, thường người ta hay nhốt gà.

Giỏ trạc mạ đan bằng tre, cao khoảng 1m, đường kính trên miệng giỏ khoảng 0,7m, trên dưới có đường kính gần bằng nhau. Giỏ trạc mạ dùng để đựng mạ, gánh ra ruộng cho người cấy, sau khi ruộng đã được cày bừa xong. Vì phải đựng nhiều mạ, gánh nặng nên phần trên miệng giỏ trạc mạ người thợ đan phải cuốn vành thật dày để có độ bền chắc. Muốn cho vững chắc hơn, người ta còn bện thêm hai sợi dây quai vào hai bên đối diện miệng giỏ, nơi cây đòn gánh tra vào.

Giỏ trạc mạ còn dùng để đựng bắp, cỏ … gánh về nhà. Giỏ trạc mạ đi đôi với đòn gánh dành riêng cho giỏ.

2/ Gióng và đòn gánh :

Chiếc gióng, đôi gióng (miền Bắc gọi là quang) là một vật dụng rất cần thiết  trong nghề nông. Đưa mạ, đưa phân bón ra đồng, đưa lúa từ ruộng về nhà, đưa gạo, ngũ cốc ra chợ, đi bán rong thức ăn thức uống … không thể không có đôi gióng và cái đòn gánh. Gióng được làm bằng mây, và chỉ có mây thắt gióng thì gióng mới lâu bền. Tùy theo sử dụng gióng mà người ta dùng các loại mây khác nhau. Mây con, mây nước chỉ dùng thắt những đôi gióng nhỏ, gánh những vật liệu nhẹ. Mây xà vuông dùng để thắt gióng gánh những vật liệu nặng như phân bón, bó lúa, gạch, đất … Mây to phải chẻ đôi, chẻ tư, chuốt sạch bớt một phần bụng sợi mây. Phần tết lại những sợi dây mây để tạo thành một hình chữ nhật có lỗ để xỏ đầu đòn gánh vào đòi hỏi phải có kỹ thuật và khéo tay. Gióng có loại gióng 6 mây dùng để gánh những vật nặng. Người ta cũng có thể dùng tre cật chẻ ra thắt gióng nhưng sử dụng không bền, để lâu dễ mốc, mục, gãy.

Gióng gồm có đế gióng và 4 hay 6 quai gióng ở 4 góc.

Đòn gánh có hai loại dành riêng cho đàn ông và đàn bà gánh. Đòn gánh dùng gốc tre thật già, to và dài, đẽo chuốc nên. Đòn gánh chỉ làm bằng cây tre, không làm bằng gỗ. Gỗ cứng, không uyển chuyển, không “mềm” nên không làm đòn gánh được. Đòn gánh làm bằng gỗ gánh rất đau vai. Đòn gánh làm bằng tre uyển chuyển hơn, hai đầu nặng của đòn gánh nhún nhảy hơn nên đỡ đau vai nhiều. Đòn gánh thường làm bằng tre đực bổ đôi, giữa đòn hơi dày để chịu sức nặng, hai đầu thon, hơi mỏng để dễ uyển chuyển. Đầu đòn gánh có mấu để giữ cho đầu gióng không di chuyển được, không vuột ra khỏi đòn gánh. Có khi ở đoạn giữa đòn gánh, người ta cặp thêm một đoạn tre ngắn để chịu được nhiều sức nặng hơn. Đòn gánh cho đàn ông gánh to, cứng và dài hơn đòn gánh dành cho đàn bà, người ít tuổi gánh, nó ngắn, mảnh, mềm mại hơn. Đòn gánh đàn ông có thể gánh được 150kg. Đòn gánh tùy loại để gánh mà có loại dáng cong ngửa lên hay úp xuống. Riêng đòn gánh gánh giỏ trạc mạ, nơi cuối hai đầu đòn gánh có xoi hai cái lỗ nhỏ và cột tòn ten hai cái chốt tre một đầu lớn một đầu nhỏ. Đó là cây nêm, khi tra đòn gánh vào đôi giỏ trạc mạ làm sao cho cái lỗ ở đòn gánh nằm ngoài giỏ, rồi lấy cái chốt tre đó cắm vào cái lỗ để giỏ khỏi tuột ra khỏi đòn gánh. Đòn gánh này được làm hai cỡ : cỡ loại lớn để gánh giỏ trạc mạ, lúa gạo nặng, cỡ loại nhỏ gánh bánh kẹo, chè … đi bán rong trong thôn xóm (Thiếp thà đòn gánh đôi quang / Bán buôn nuôi mẹ, chàng sang mặc chàng). Các người làm đòn gánh loại này đẽo chuốt thật mảnh mai, xinh xắn, thêm vài đường hoa văn khắc trên đòn gánh trông rất đẹp. Có một bài vè trẻ con thường hát về cây đòn gánh này được truyền khẩu trong dân gian :

Cút kít cò ke

Đi chợ bán me

Bỏ quên đòn gánh

Lấy bánh chồng ăn

Lấy khăn chồng bịt

Lấy thịt chồng nướng …

Hay :

Con gái lỡ thì như thịt heo nưa

Thịt heo nưa người ta gói bánh

Con gái lỡ thì như đòn gánh gãy hai.

 

 

        Quang mây (gióng) để gánh                 Gánh gạo (Tranh Henri Orger)

 

Đòn gánh ngoài sử dụng để gánh còn lót để ngồi nghỉ, hay khi cần thì là một thứ vũ khí :

Một lời nói, được quan tiền tấm bánh

Một lời nói, bị  đòn gánh phang nghiêng.

Trong Vân Đài loại ngữ (sđd), tác giả Lê Quý Đôn đã mô tả cái đòn gánh thời xa xưa đó như sau : “ Các đòn gánh lúa dài 3 thước 5 tấc, chẻ tre, vót bẹt mà làm thành, gọi là đòn mềm; lại có thứ đòn tròn, đẵn tre làm, đẽo vạt hai đầu cho nhọn, gọi là đòn xóc (xọc vàp bó lúa mà gánh). Đòn bẹt mềm để gánh đồ vật, còn tròn để gánh lúa, củi; tục nước ta gọi là “đòn gánh” (trang 426).

Để gánh những vật tuy nhẹ nhưng cồng kềnh, người ta dùng chiếc đòn càn (Lê Quý Đôn ghi là đòn xóc), làm bằng đoạn tre cứng để nguyên, hai đầu vót nhọn. Khi gánh bó lúa, bó rơm rạ hay bó củi, người ta xuyên hai mũi nhọn đòn càn vào các bó đó để gánh.                

 

            Xóc đòn càn lúa                 Gánh lúa bằng đòn càn (Tranh Henri Orger)

3/ Đôi chàng :            

Đôi chàng là tên gọi một vật dụng là đôi gióng, nhưng không phải đôi gióng miêu tả ở trên về chất liệu cũng như về công dụng. Người nông dân không thể dùng đôi gióng miêu tả ở trên để gánh lúa thóc nặng, gánh rơm rạ, củi, gánh bao gai bao lác chứa lúa ... Để gánh những thứ trên cần đôi chàng chắc chắn, chịu được sức chuyên chở nặng. Chàng làm bằng mây hay còn  làm bằng tre. Chàng gồm có 2 bộ phận kết nối nhau : cong chàng đáy chàng.

Đôi chàng làm bằng mây : Làm cong chàng phải dùng loại mây xà vuông trên rừng mới chắc chắn. Lựa sợi mây lớn có đường kính hơn 1cm, dài 2m. Sợi mây này được uốn cong thành hình chữ U, dùng dây cùm lại ở hai đầu. Việc uốn cong sợi mây dễ bị gãy ở đoạn giữa. Do đó, khi uốn cong sợi mây, cần đưa đoạn giữa sợi mây hơ trên rơm rạ cháy, được đốt cháy với ngọn lửa nhỏ, chỉ cần có sức nóng. Nhờ sức nóng, sợi mây trở nên mềm dẻo hơn, dễ uốn cong hơn. Nếu hơ trên ngọn lửa cháy to, sức nóng cao độ, thì tại chỗ hơ, mây sẽ bị cháy sém nhiều, khi uốn cong dễ bị gãy.

Cuối hai đầu cong chàng, cách đầu sợi mây 1cm, dùi 2 cái lỗ nhỏ có lỗ xỏ sợi dây mây nhỏ vót mảnh hay dây thép để cột vào đáy chàng. Đáy chàng thường dùng những sợi tre vót nhỏ bằng chiếc đũa quấn xoắn nhau, tạo thành một hình tròn có đường kính hơn 20cm. Đáy chàng sở dĩ dùng sợi tre vì sợi tre có độ nhám, khi cột hai đầu cong chàng vào sẽ ít bị xê dịch khi gánh.

Đôi chàng làm bằng mây sẽ dùng được lâu bền, trên 3 – 4 năm.

Đôi chàng làm bằng tre : Làm cong chàng bằng gốc tre già. Tre được vót thành đoạn dài 2m. Khi vót ở 2 đầu cong chàng, người ta vót lớn hơn phần trên và làm một cái khất để có điểm cho sợi dây thép hay dây mây cột bịn vào đáy chàng khỏi tuột ra. Chàng làm bằng tre dùng mau hư, gãy, nên thường làm dự trữ, khi gãy hư, có dùng ngay. Sở dĩ nông dân không làm chàng bằng mây để dùng vì mây khó kiếm, giá thành đắt hơn. Người ta dùng mây thường mua ở những người dân tộc trên vùng núi mang xuống đồng bằng bán, đổi lấy gạo muối.

Muốn đôi chàng dùng lâu bền, không bị mối mọt ăn, người ta tháo cong chàng và đáy chàng gác lên trên gác bếp. Khói bếp không những trừ khử được mối mọt mà còn làm cho cong chàng thêm độ dẻo bền.

 

ĐÔI CHÀNG (Tranh Henri Orger)

Nơi hai đầu cong của cong chàng, người ta dùng một sợi dây vải dài 4 tấc bện xoắn, dùng để cột tóm 2 cong chàng lại với nhau sau khi chất lúa hay bao lên trên đáy chàng.

4/ Bao lác, bao gai :

Để đựng lúa chuyển đi, ngày trước nông dân thường dùng bao lác, bao gai. Bao lác được đan bằng cây lác (cói), đáy bao rộng hơn miệng bao, thường bán ở các chợ. Một bao lác đựng được 2 giạ rưỡi lúa (22,5kg).

Bao gai còn gọi là bao tải, bao bố bao dệt bằng sợi đay hay dứa gai, đựng được 40kg lúa. Sau này, thời Pháp thuộc có bao đựng được 100kg, thường gọi là bao tạ sọc chỉ xanh.

5/ Xe cút kít :

Loại xe này ngày xưa người dân trong tỉnh gọi là “thổ xa”, xe chở đất, tiếng nôm na gọi là xe cút kít, vì khi đẩy xe đi, thường có tiếng kêu cút kít, là tiếng cọ xát của các bộ phận ở xe. Dân vùng Diên Khánh còn gọi là xe bồ ệt. Những nông dân nghèo, không có ruộng, kết thành một nhóm (gọi là bầu) chuyên làm thuê vỡ ruộng, dùng xe này làm phương tiện, gọi là “nậu thổ xa”. Xe này cũng có một số ít nhà nông dân sắm ra để dùng trong việc cải tạo mặt bằng đám ruộng hay đổ đất làm nền nhà.

 

XE CÚT KÍT NGÀY XƯA (Ảnh tư liệu)

 

Cấu tạo xe cút kít gồm một cái bánh xe bằng gỗ có đường kính 0,6m, dày 0,1m, trung điểm bánh xe có một cái lỗ tròn có đường kính 2cm để cho một cây trục xuyên qua. Người ta làm một cái sườn bằng tre, gồm có 2 đoạn tre dài hơn 1m gọi là càng xe, một bộ phận dùng làm chỗ cầm để kéo hay đẩy xe. Đầu trước của 2 cái càng đặt gần nhau khoảng 0,1m, hai đầu sau cách nhau 0,6m. Để cho 2 càng xe vững chắc, người ta đóng ngang qua 3 thanh tre, một thanh ở trước đầu cáng, cách 0,3m đóng qua ngang qua thanh thứ hai và lùi ra sau 0,3m đóng ngang thanh thứ ba. Khoảng trống giữa 2 thanh thứ 2 và thứ 3, ngang qua 2 càng xe, người ta đặt lên một cái ky lớn để đựng đất, đá. Người ta còn đóng vào 2 cái càng cách đầu sau 0,2m hai chân xe cao khoảng 0,6m để chống đỡ xe khi xe không di chuyển.

Người ta dùng đoạn tre già dài khoảng 0,35m, đào lấy luôn phần gốc ở dưới đất (gọi là cù tre), chẻ ra thành 2 phần đều nhau, gọt sạch rễ tre ở phần cù tre và vót bào cho trơn láng. Ngay giữa mỗi cù tre đục một cái lỗ to bằng ngón tay cái để tra vào bánh xe làm trục cốt. Trục cốt đục lỗ ở cù tre sẽ không bị nứt ra. Hai mảnh tre có cù tre này tiếng địa phương gọi là cái càng mỏ. Đầu trên của càng mỏ đóng vào phía trước của đầu càng xe mỗi bên. Đầu 2 cù tre dưới ở vị trí 2 bên tâm của bánh xe. Dùng một cây tròn thật chắc nhỏ hơn lỗ tâm bánh xe xuyên qua và đóng chặt, chịu vào 2 lỗ phía dưới càng mỏ ở hai bên. Thế là hình thành một cái xe cút kít.

Người ta thường đặt cái ky trên xe cút kít, chứa đất đá chuyển đi. Hai càng xe ở phía sau, gần chỗ tay nắm, người ta còn cột vào một sợi dây gánh phụ, tròng lên vai người đẩy xe đất khi xe di chuyển, đỡ gánh nặng cho đôi tay.

Khi đổ đất ra khỏi ky, người đẩy xe dùng một chân đạp vào bánh xe, giữ yên bánh xe không chạy lui, rồi nâng cao 2 càng xe lên, đất trong ky sẽ đổ chài ra phía trước.

Tại một số làng xã trong tỉnh, “nậu thổ xa” có một Trưởng nậu. Anh này có nhiệm vụ đi lãnh công trình để làm, như chở đất đắp nền, đắp đường, lấp ao, san bằng ruộng …thường gọi là anh “bầu đất”. Chức vụ này cũng có người lộ ra những mánh lới ăn riêng nên mọi người trong nậu rất bất bình, đặt ra câu vè :

Lạy trời mưa suốt mười ngày

(Để) Thổ xa “bầu đất” ăn mày chợ Dinh

Mưa suốt mười ngày thì đất đai trong làng xã ngập cả nước, dân “nậu thổ xa” có đất đâu mà chuyên chở, có nước giải nghệ, chịu đói.

 

XE CÚT KÍT NGÀY NAY (Ảnh NVB)

Sau năm 1975, xe cút kít được gọi là xe cải tiến như cách gọi của miền Bắc và đã được dùng một thời gian. Đến nay, xe cút kít từ thuở xa xưa khó mà tìm thấy, chỉ thấy xe có bánh xe bằng cao su, cái ky làm bằng sắt, dùng trong xây dựng nhà, chở cát, đá, gạch, hồ ... đổ lên nền nhà cho thợ xây, tô, làm nền ...(xem ảnh)

6/ Xe trâu :                

Năm sáu chục năm trước đây người nông dân trong tỉnh thường nuôi trâu để kéo cày bừa và kéo xe, kéo gỗ súc trên rừng. Họ không nuôi bò để kéo xe nên chỉ có xe trâu, không có xe bò. Sở dĩ dùng trâu để kéo xe do sức trâu mạnh hơn sức bò. Kéo gỗ súc trên rừng chỉ có trâu mới kéo nỗi. Câu yếu trâu cũng mạnh hơn bò là thế. Lẽ nữa, ngày xưa rừng núi Khánh Hòa nhiều cọp (cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận hay cọp Ninh Hòa, ma Đồng Cháy), con trâu vào rừng nhờ sức mạnh và cặp sừng bén nhọn nên cọp rất kinh sợ, chứ con bò vào rừng chỉ làm mồi cho chúa Sơn lâm.

Xe trâu ngày xưa được kéo bằng hai con trâu đực. Mẫu mã của xe trâu ngày xưa cũng giống như xe bò kéo 1 hay 2 con ngày nay, chỉ khác là xe trâu trước đây bánh xe làm bằng gỗ có vành lớn.

Bánh xe trâu hình tròn, có đường kính khoảng 1,3m, gồm có các bộ phận sau :

Vành đai bao bọc bên ngoài vành tròn gỗ làm bằng sắt để bảo vệ chiếc bánh gỗ không bị mòn. Vành tròn sắt này thợ rèn làm dày 1cm, nhưng phải hẹp hơn vành gỗ bánh xe 3mm. Nung vành sắt ấy cho đỏ lên, vành sắt sẽ nở rộng hơn vành bánh gỗ vài ba milimet. Trong khi nung đỏ vành sắt thì bánh xe gỗ được ngâm dưới nước. Khi vành sắt nung đỏ, đặt xuống đất, người ta đem vành gỗ lên đặt bên trong vành sắt. Nhờ gỗ ướt nên vành sắt nung không làm cháy bánh xe gỗ. Người ta xúm vào đổ nước liên tục lên vành sắt. Vành đai sắt nguội dần, rồi từ từ rút lại, bao bọc chặt vào bánh xe gỗ.

Vành gỗ bên trong được ráp nối lại bằng những miếng gỗ hình hơi vòng cung thành một vòng tròn lớn. Chính giữa bánh xe có cái trục lớn làm bằng gỗ căm xe, đẽo gọt lồi ra hai đầu. Chính giữa trục có một lỗ vuông được lắp ghép vào đó một khung sắt dày tạo thành một lỗ tròn, một cây đà bằng sắt thông qua hai lỗ hai bánh xe nối hai bánh hai bên lại với nhau. Nối liền giữa vành tròn bánh xe và cái trục ở giữa là những cái nan bằng gỗ, âm mộng vào rất chắc chắn, cách đều nhau để chống đỡ bánh xe.

Phía ngoài hai đầu cây đà sắt xuyên qua hai bánh xe, người ta đục một cái lỗ nhỏ, xỏ xuyên qua một cây sắt nhỏ coi như chốt lại để bánh xe khi di chuyển không rơi ra khỏi cây đà sắt.

Các bộ phận như cái quải (cái ách), dây ống kéo hai con trâu … giống như cái quải, dây ống ở cái cày.

Mỗi xe trâu phải có một cặp tó. Công dụng của là để chống đỡ đầu gọng trước của xe lên cho khỏi nặng cổ trâu, khi xe không di chuyển. Cặp tó cao khoảng 1,2m, hai đầu tó được nối liền bằng nhau bằng đoạn dây lòi tói (dây xích sắt hay dây chão lớn thường để buộc tàu thuyền) dài 0,4m. Khi chống tói cho đôi trâu đứng nghỉ, hai chân tó dang ra và đoạn lòi tói bao ôm đỡ lên đầu cây gọng. Đứng như chống tó như người dân quê trong tỉnh nói là để ví von với một người đứng tay chống vào một cái cây, một chân co lên vắt ngang qua chân bên kia, đó là dáng đứng của những người buồn phiền, nghĩ ngợi bận tâm về một chuyện gì đó.

XE TRÂU XƯA VÀ  NAY

7/ Cái ky :

Cái ky là một vật dụng để đựng các vật thô như đất, đá, phân trâu bò khô … Ky được đan bàn nan tre, nhưng không cần vót nan, chẻ đan, chỉ cần đem thui lên lửa ngọn cho cháy sạch các râu ria là đan được. Ky có vành cứng, to rộng, có đường kính khoảng 0,7m, đan lỗ thưa. Ky có thể để trên xe cút kít hay lồng vào gióng gánh bằng đòn gánh. Xe cút kít ngày nay, cái ky được làm bằng sắt có khối lượng đựng vật liệu nặng hơn, nhiều hơn.

 

NGÔ VĂN BAN  - VÕ TRIỀU DƯƠNG

 

(Xem tiếp kỳ 4)

 

Bài cùng tác giả

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 2)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 1)

>> Hình ảnh rồng trong đời sống dân tộc Việt

>> Cá vượt vũ môn hóa rồng

>> Tết của một thời ấu thơ

>> Vè Các Lái ngang qua huyện Ninh Hòa

>> Miếu và miễu ở Khánh Hòa (kỳ 2)

>> Miếu và miễu ở Khánh Hoà (kỳ 1)

>> Dinh Trấn Biên Nha Trang dưới thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong có hay không ?

>> Việc giáo dục chữ Lễ trong gia đình và nhà trường

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ Bắc tới Nam (kỳ 2)

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ bắc tới nam (kỳ 1)

>> Thịt mèo

>> Chuyện mèo năm Mão qua câu ca tiếng nói người Việt

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 2)

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 1)

>> Những trường học tại Nha Trang xưa và nay

>> Chất biển trong con cá vịnh Nha Trang

>> Con cọp qua cái nhìn dân gian Việt Nam

>> Món cọp năm Dần

>> Về Diên Khánh ăn bánh ướt

>> Cọp Khánh Hòa

>> Thầy Đồ Cóc

>> Đất Khánh người Hòa

>> Món ngon Năm Sửu

>> Con trâu trong văn học các dân tộc VN

>> Món ngon năm chuột

>> Chuyện chuột năm Tý

>> Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

>> Vịt lội Ninh Hòa

*** Nghề làm bánh tráng ở Xóm Rượu Ninh Hòa:

>> Kỳ 1, kỳ 2, Kỳ 3

*** Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang,

     việc giỗ của người Việt:

>> Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, kỳ 11, kỳ 12