QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chùa Hưng Long

làng Bình Trị, xã Ninh Bình, Ninh Hòa, Khánh Hòa

 

Cổng Tam Quan Hưng Long Tự

LỜI NÓI ĐẦU

Hưng Long Tự là ngôi chùa làng Bình Trị, từ xa xưa không truy cứu được năm khai sáng, theo lời kể chỉ biết chùa do dân làng xây dựng rồi thỉnh Thầy trụ trì hết thế hệ trước đến thế hệ sau và trở thành tập tục của địa phương.

Ngày nay muốn hình dung lại ngôi chùa cổ ấy thật khó, vì vật chứng quá nghèo nàn, chỉ có 01 Bảo chúng, 02 chuông gia trì, dấu tích một hồ sen, 01 giếng cổ. Về nhân chứng các cụ cao tuổi trên 90-100 không còn nữa, chỉ còn một long vị của Đại Sư Thích Thanh Định trụ trì đời thứ 3. Về lời kể những chuyện liên hệ đến chùa mập mờ, không rõ nét, không chứng cứ.

Để đem lại một sự xác thực về lịch sử chùa Hưng Long này, với thiên tâm, thiên ý của các cụ hội người cao tuổi, viết nên sơ lược tiểu sử chùa trong điều kiện vô cùng khó khăn và phức tạp.

Song tập tiểu sử Hưng Long Tự tạo tiền đề cho lịch sử của chùa làng, những ai hữu duyên đọc tập tiểu sử này để mọi người biết được khái quát nguồn gốc ngôi chùa, nơi vun bồi giá trị đạo đức tâm linh. Với mục đích khơi dậy, đánh thức tâm khảm con người càng yêu quê hương, xóm làng hơn. Từ đó gìn giữ, bảo vệ và phát huy hơn nữa để ngôi chùa ngày càng nguy nga, đồ sộ, tráng lệ, đẹp đẽ, sánh vai nét đẹp văn hóa với các làng lân cận, lưu lại cho địa phương những dấu vết cổ xưa mà các bậc tiền bối đã cố công vun bồi. Hơn thế nữa, nó giúp cho thế hệ hậu lai ghi nhớ ơn người có công đóp góp xây dựng cái nôi tâm linh tín ngưỡng, biểu tượng thiêng liêng của quê cha đất tổ. Dù cho đi đâu về đâu, con cháu dựa vào đây hiểu biết tường tận nguồn gốc ngôi chùa quê hương mình.

Trải qua quá trình biên soạn nhưng tập tiểu sử này cũng không sao tránh khỏi sự vụng về thiếu sót trong quá trình thu thập, nó được xem như những hạt đầu mùa đang tách vỏ. Kính mong tất cả đóp góp ý kiến, bổ sung và xây dựng cho tập Hưng Long Tự đầy đủ hơn.

Xin chân thành tri ân những ai đã trực tiếp hay gián tiếp đóng góp để tập tiểu sử này được hoàn thiện. Kính chúc quý vị vô lượng an lạc, vô lượng cát tường.

 

Chính diện

 

Sân trước với tượng Quan Thế Âm Bồ Tát

 

LỜI GIỚI THIỆU

Theo truyền thuyết kể rằng, Hưng Long Tự thuộc xã Bình Hòa (nay là thôn Bình Trị, xã Ninh Bình) vào thời kỳ sơ khai khoảng 300 năm trước, các bậc tiền bối truyền khẩu từ khi chúa Nguyễn Hoàng nghe lời khuyên Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm rằng:

“Hoành Sơn nhất đái ,vạn đại dung thân”. Do đó, đến năm Mậu Ngọ (1558) chúa Nguyễn vào Nam trấn thủ đất Thuận Hóa, mở mang bờ cõi, xây dựng vùng đất mới, nên việc tín ngưỡng thờ cúng và xây dựng Già Lam càng được nhà Vua quan tâm hơn. Bởi:

“Xây chùa tạc tượng đúc chuông,

Trong ba việc ấy thập phương nên làm”.

Qua các đời chúa Nguyễn, đạo Phật được sùng bái, người tin Phật ngày càng nhiều, chùa chiền được xây dựng khắp nơi.

Thiết nghĩ, Hưng Long Tự được xây dựng cùng thời với các chùa Bảo Long (Thuận Mỹ), Kim Long (Phú Hòa), Phước Long (Phước Lý), Khánh Long (Tuân Thừa) vào khoảng năm 1697… Tất cả các ngôi chùa đều nằm trong hệ thống Phật giáo thời bấy giờ nên tên của chùa có chung chữ Long. Chùa xây dựng theo lối kiến trúc cổ Trung Hoa, cổ lầu, tường gạch, bốn mái cong, lợp ngói âm dương, nội xông, ngoại chái, chạm trổ, long, lân, qui, phụng…, thờ nhiều tượng Phật bằng đất và đồng, chùa có Đại hồng chung 2 tạ, trống sấm kính 1,2m ; cao 1,6m, cùng nhiều bảo vật đáng giá khác.

Qua các thời kỳ thăng trầm của lịch sử, Hưng Long Tự bị tàn phá, đổ nát, mất mát…và được tôn tạo nhiều lần.

Chùa được xây cất ở giữa làng trên một địa điểm, cao ráo, sạch sẽ, khang trang, thanh tịnh, cách xa dân, chung quanh là đồng ruộng bao bọc theo hình: “Sa thủy lai long”. Diện tích khuôn viên chùa thời bấy giờ là 1,2ha, được thay đổi theo thời gian, qua nhiều thời kỳ khác nhau. Đến năm 1957, diện tích chỉ còn được 0,7050 ha.

Diện tích hiện nay của chùa theo bản đồ Khu Dân Cư thôn Bình trị, xã Ninh Bình chia làm 03 thửa như sau:

1. Diện tích nguyên thủy vườn cây chùa UBND xã Ninh Bình trưng dụng làm sân phơi HTXNN vào năm 1979, nay HTX không còn sử dụng nữa, số thửa 342, DT 2690 m2.

2. Diện tích Vườn Dương và Hồ Sen chùa dân lấn chiếm, số thửa 427, DT 955m2. Tổng cộng DT là 3645 m2, nay chưa được quyền sử dụng.

3. Diện tích thực thụ chính điện và vườn cây số thửa 341, DT 3405 m2.

Và hiện nay chùa đang có nhu cầu xin lại DT 3645m2 đã nằm ngoài sự quản lý trong thời gian qua. 

Ngày nay, Hưng Long Tự tọa lạc giữa làng, đông giáp khu dân cư, tây giáp hương lộ, nam giáp khu dân cư, bắc giáp hương lộ, diện tích xây dựng cộng vườn cây là 0,3ha (số thửa 341, DT: 3405m2).

Hưng Long Tự qua từng thời kỳ:

1. Từ năm 1697-1891 (194 năm)

2. Từ năm 1891-1947 (56 năm)

3. Từ năm 1947-1957 (10 năm)

4. Từ năm 1957-1975 (18 năm)

5. Từ năm 1975-2008 (33 năm)

Tất cả là 311 năm.

Địa Tạng Bồ Tát dưới cội bồ đề bên vườn chùa

 

+Từ năm 1697-1891 (194 năm)

Thời kì đầu chùa được xây dựng không đồ sộ và quy mô lớn. Một ngôi chùa nhỏ, xinh xắn, cổ lầu, tường gạch, mái cong, trên nóc gắn hình lưỡng long tranh châu, bốn bên chạm trổ tứ linh: long, lân, qui và phụng; mái dưới bốn góc đều uốn cong, có gắn hình dao lơn, hòa mình trong không gian hữu tình. Mái chùa đều lợp ngói âm dương tạo nên sắc thái hòa hợp:

 “Mái chùa che chở hồn dân tộc,

 Nếp sống muôn đời của tổ tông”.

Trong chính điện chùa có Ban Tam Bảo, Ban Hậu Tổ, Ban nào cũng đầy đủ Tam sơn, Ngũ sự, Lư hương, Chân đèn, Đài nước, Độc bình, Cổ bồng bằng đồng, gố và sứ. Trên an vị Đức Phật Bổn Sư và nhiều vị Phật khác; phía đông thờ Quan Thánh Đế Quân; phía tây có Ban thờ Tổ, án hậu thờ nhiều tượng Phật nhỏ bằng đồng và bằng đất, bàn ngoài cửa thờ ngài Hộ Pháp và ngài Tiêu Diện và miếu cô hồn, bên đông để giá Đại hồng chung, bên tây để giá sấm, có một bộ nhạc chùa, chính giữa bàn kinh, tràng phang treo hai bên. Bên ngoài có an trí bộ cờ rìa 04 lá, cắm trước sân chùa vào ngày đại lễ. Trước chùa, xây một án phong, trồng nhiều hoa, có hồ sen trong vườn chùa, với nhiều cây ăn trái, và gốc cây me lớn, tất cả đầu tạo nên nét đẹp thơ mộng và hoàn mỹ nơi chốn thiền môn. Nhìn ngôi chùa trông rất cổ kính và trang nghiêm, quang cảnh uy nghi với truyền thống lễ nghĩa, đạo tình và thắm đượm lòng người.

“Chùa là văn hóa quê hương,

Là nơi thể hiện tình thương giống nòi”

Chùa xây về hướng nam, góc vườn phía đông cách chùa 20m có 01 giếng nước xây bằng gạch cổ nay vẫn còn, cách giếng 5m có một cái hồ hình chữ nhật, 02 đầu bán nguyệt diện tích 180 m2 được trồng sen nay vẫn còn, nhưng đã bị lấn chiếm. Đặc biệt góc vườn phía tây có cây me cổ thụ, gốc kính 1,2m (bị đốt cháy năm 1968).

Trong khoảng thời gian dài 194 năm, hiện tượng xâm thực, xói mòn, sự biến đổi của trời đất, chiến tranh và thăng trầm của lịch sử, chùa cũng theo đó biến thiên theo thời gian và năm tháng. Lòng dân vì sùng bái đạo Phật nên vẫn cố công tôn tạo nhiều lần và chùa mới tồn tại như ngày hôm nay.

+ Từ năm 1891-1947 (56 năm)

Từ 1892-1901 cụ Trần Khánh[1] thủ tự

Năm 1902 chùa được trùng tu và cụ Lương Tín biệt hiệu Cai Chùa thủ tự.

Năm Thành Thái thứ 14, Nhâm Dần (1902) ông Trần Giáo và bà Đinh Thị Điệp cúng 01 Bảo chúng cao 40cm, kính 27cm.

Năm Duy Tân thứ 3 (Kỷ Dậu) bà Phan Thị Đào và bà Phan Thị Dương cúng một chuông gia trì, trên thân chuông có khắc chữ:

“Kiết tạo Hưng Long tự,  phụng cúng gia trì, bát nguyệt sơ ngũ nhựt, Duy Tân tam niên” (吉造興隆寺奉供加持捌月初伍日維新三年)

Năm 1923, ngài Lâm Văn Tức, pháp danh Thị Thủy, tự Hành Pháp hiệu Quảng Đức, đi vân du, hóa đạo một mình với chiếc bình bát theo hạnh đầu đà (khất thực) có đến Hưng Long Tự và ngồi thiền nơi gốc cổ thụ (gốc cây me), nay là Bồ tát Thích Quảng Đức, và ngài đã kiến tạo, trùng tu 14 ngôi chùa trong đó có Hưng Long Tự này.

Năm 1925 đại Sư Thích Thanh Định, thế danh Phan Dụng (Phan Liễu)[2] trụ trì.

Năm 1938 cụ Trần Thập[3] thủ tự.

Năm 1941 Thầy Lê Hòa Tú[4] trụ trì.

Ngày 19/8/1945, tổng khởi nghĩa lật đổ chế độ thực dân Pháp, Hưng Long Tự là nơi tập họp của chính quyền Việt Minh do ông Lê Văn Tân và Lê Đốc hướng dẫn. Chùa cũng là nơi cung cấp tin tức và tiếp tế lương thực, thực phẩm, thuốc men cho cách mạng, là điểm giao liên hoạt động của Việt Minh chống thực dân Pháp.

Năm 1946 giặc Pháp tấn công Ninh Hòa

Tháng 3/1947 chùa Hưng Long  bị phá hủy hoàn toàn. Tượng Phật và pháp khí thờ cúng được toàn dân tẩu tán dưới giếng nước và khắp nơi, sau bị thất lạc toàn bộ.

Tuy vậy, người dân vẫn một lòng kính tín Tam Bảo, hằng đêm câu hội về nhà của Thầy Thích Thanh Định tụng niệm, tu tập.

+Từ năm 1947-1957 (10 năm)

Năm 1950 thực dân Pháp dùng địa điểm chùa Hưng Long đóng đồn bót, hệ thống phòng thủ kiên cố, xây đúc lô cốt bê tông vững chắc, chúng tập trung lương thực(lúa gạo), tập trung dân ngủ đồn để ngăn cách dân với lực lượng Kháng chiến, cũng như chống lại sự tiếp tế của dân cho cán bộ Việt Minh và các lực lượng vũ trang huyện Ninh Hòa.

Năm 1953 giặc Pháp bị quân ta đánh bại ở nhiều nơi, chúng bị thua và rút bỏ đồn Bình Trị chạy về thị trấn Ninh Hòa, tàn dư giặc Pháp để lại 03 lô cốt bê tông trong khuôn viên chùa.

Năm 1954, hiệp định Giơnevơ ký kết giặc Pháp thua và rút khỏi Việt Nam.

Năm 1957, người dân bắt đầu xây dựng lại chùa.

+Từ năm 1957-1975 (18 năm)

Ngày 13 tháng 03 năm 1957 (nhằm ngày 13 tháng 02 năm Đinh Dậu), dân làng khôi phục lại chùa, nhân đân đề cử các Cụ Lương Xướng thượng lương, cụ Đinh Sơn phân kim chiếu hướng, kiêm trưởng Đốc Công, cụ Trần Nho phó Đốc Công, cụ Nguyễn Tú thủ quỷ, cụ Nguyễn Ái thư ký, cụ Trương Chung chuyên biên, cụ Nguyễn Trảng thông tin, và cụ Bà Nguyễn Thị Cam, Võ Thị Thứ mua mãi. Tổng kinh phí xây dựng chùa lúc ấy là 42.299đ (bốn mươi hai nghìn hai trăm chín mươi chín đồng). Sau đó, các Cụ cùng nhau thành lập khuôn hội Phật Giáo, bầu ban trị sự , cụ Đinh Sơn pháp danh Nguyên Tịnh sinh năm Kỷ Hợi (1899) làm Hội Trưởng, cụ Trần Nho sinh năm Bính Thân (1896) làm Hội Phó, cụ Nguyễn Tú sinh năm Kỷ Hợi (1899) làm thư ký, kiêm thủ quỷ. Các cụ vận động nhân dân trong làng và làng lân cận xây dựng lại ngôi chùa quay về hướng nam (nay dùng làm hậu Tổ), cùng lúc ấy mời cụ Trương Giả thủ tự.

Năm 1964, thỉnh tượng Phật Thích Ca[5]

Năm 1964, Khuôn Hội chuyển giao cho làng và thỉnh Thầy Lê Hòa Tú trụ trì.

Năm 1969, Đại đức Thích Nguyên Nhượng[6] thế danh Võ Tùng Chi trụ trì.

Năm 1969 làng đúc Đại Hồng Chung nặng 120kg cao 1,2m, kính 0,6m

Vào ngày 12 tháng 07 năm Canh Tuất (1970), chùa xuống cấp trầm trọng, nhân dân đồng lòng xây dựng lại và đề cử cụ Trần Nho thượng lương, cụ Đinh Sơn phân kim, cụ Nguyễn Mậu Trưởng ban xây dựng, cụ Trần Đơn và Nguyễn Tư phó ban. Lúc ấy, chùa xây về hướng Bắc. tổng kinh phí xây dựng: 81.340đ (tám mươi mốt ngàn ba trăm năm chục đồng). Đến ngày mồng 10 tháng 04 năm 1973, chùa tổ chức Trai Đàn chẩn tế, kỳ siêu bạt độ, cầu quốc thái dân an trong vòng ba ngày.

+Từ năm 1975-2008 (33 năm)

Năm 1975, đất nước thống nhất, người dân sống trong cảnh thanh bình, tự do.

Năm 1978, tiến lên xây dựng Hợp Tác Xã nông nghiệp, do điều kiện cơ sở vật chất ban đầu chưa có nên HTX  tạm mượn Hậu tổ làm Trụ Sở ban quản trị.

Cuối năm 1979, hợp tác xã trả lại cho địa phương.

Vào ngày 12 tháng 02 năm 1980, nhân dân địa phương cùng nhau tu sửa lại chùa. Lúc ấy, cụ Nguyễn Mậu làm Trưởng Ban, cụ Nguyễn Yêm làm phó ban, Cụ Trần Cang Trưởng Ban hộ tự, Lê Cằng thư ký, Võ Mậu làm thủ quỹ và ủy viên là Trương Chơn và Trần Đơn. Tổng chi phí là 1.503.500đ (một triệu năm trăm linh ba nghìn năm trăm đồng)

Cùng lúc ấy, nhân đân cung thỉnh đại đức Thích Nguyên Nhượng trụ trì. Năm 1992, Ngài Viên tịch và dân làng thỉnh Thầy Thích Quảng Nhựt trụ trì.

Năm 2004 cổng chùa xuống cấp, toàn thể Phật tử và dân làng đề cử các cụ Trương Hường, Trần Lướt, Võ Ngay, Võ Nhợ…làm ban xây dựng, ngân khoản do Phật tử đóng góp cùng thiện nam, tín nữ xa gần phát tâm cúng dường.

Với lòng thành kính với tâm hướng Phật, toàn thể Phật tử cùng các nhà từ thiện đóng góp tu sửa chùa ngày càng sạch đẹp như: lắp đặt nhà vòm nơi hậu sảnh, tráng xi-măng và lát men nơi sân tượng Quan Âm lộ thiên.

Năm 1992, qua sự giới thiệu của cụ Nguyễn Mậu, đoàn Phật tử TP HCM do Thượng Tọa Thích Thiện Trì và Trần Minh Hùng, Lương Kim Liên cúng dường tượng Quan Âm lộ thiên cùng 08 tôn tượng Chuẩn Đề, Địa Tạng, Quan Thánh (Quan Bình – Châu Xương), Long Thần Hộ Pháp và Đạt Ma tổ sư.

+Từ 2008 cho đến nay

 Với sự khát khao của Phật tử và nhân dân địa phương, vào tháng 08 năm 2008, làng đã đệ trình lên Giáo Hội huyện nhà và đã thỉnh Đại Đức Thích Đức Hỷ[7] trụ trì.

 

Đại Đức Thích Đức Hỷ

Đại Đức cùng với Phật tử xa gần đã cùng nhau xây dựng chùa ngày càng khang trang hơn. Một năm sau đó, Phật tử Nguyễn Thị Hai (TP.HCM), Tạ Thị Kim Liên (TP Nha Trang) cúng dường hai chuông Gia Trì tám tay, Phật Tử Lê Thị Phượng và các Phật tử khác ở Hà Nội cúng dường 05 bộ chân đèn đồng Đài Loa và nhiều pháp khí thờ khác an trí nơi chính điện của chùa.

Đến năm 2010, xây dựng nhà Tăng diện tích 175m2 và nhiều công trình phụ khác.

Đến năm 2011, vào mùa Phật Đản Phật tử Lê Thị Siểm pháp danh Bổn Trường cúng dường cặp chuông mõ gia trì an trí hậu tổ chùa.

Lối vào Hậu Tổ, phía sau chùa

Chùa Hưng Long sừng sững bên đường trông nguy nga, đồ sộ, vững bền với màu đất vàng sáng nhu trên nền xi-măng sanh xám, nổi bậc cả một vùng, đó là cổng Hưng Long Tự, xây dựng năm 2004 (Phật lịch 2548). Từ ngoài nhìn vào chùa, bên trong cổng, tượng Bồ Tát Quan Âm lộ thiên, đức độ. Thứ nữa là chánh điện, Phật lịch 2514 có hình cổ lầu, mái thẳng, máng thượng hạ, trên nóc gắn hình lưỡng hạc triều vạn, bốn góc mái gắn hình 04 dao lớn, giữa mái trước gắn hiệu chùa Hưng Long Tự, mặt tiền máng hạ ở giữa bức tranh “lưỡng long triều nguyệt”, bên hữu hoa văn ống sách, bên tả hoa văn bình cổ, mặt tiền văn đa: giữa hiệu chùa “Hưng Long Tự”, tả và hữu 02 bức tranh “Phật Thích Ca” xuất gia. Ngôi chùa xây dựng năm 1970 nối liền với Hậu Tổ[8] cất năm 1957 tất cả đều xây gạch lợp ngói, nền móng kiên cố. Hậu Tổ đã một lần tu sửa rui, lách và thay ngói dãy, phía phải Hậu Tổ là nhà đông vách đất, ngói dãy sơ sài, chùa có sân trước, sân sau và giếng nước, hành lang hai bên trồng nhiều hoa Trang, cây cảnh, bông lá rậm màu xanh, vàng, đỏ. Vườn chùa là đất sản xuất: lúa, nếp, cây màu, bắp ngô, cạnh hàng rào chùa phía tây là hàng dừa lão trên 40 năm.

Vào trong chùa, bên hữu Đại hồng chung cao 1,2m nặng 120 kg kính 0,6m, bên tả trống sấm kính 0,5m dài 1m, chính giữa là Ban thờ tượng Phật Chuẩn Đề (nay thờ Tây Phương Tam Thánh), trang trí bộ chân đèn đồng lớn và lư nhang cổ bằng đồng, độc bình, cổ bồng… bên hữu tượng Long Thần, bên tả tượng Hộ Pháp, một bàn kinh đầy đủ chuông đồng và mõ lớn.

Chánh điện thờ tượng Phật Thích Ca lớn cao, sau tượng là bức tranh cội Bồ đề. Bên hữu tượng Quan Thánh, bên tả tượng Phật Địa Tạng. Nơi bốn cột treo tràng phang, hậu sảnh, nhà vòm bằng tôn sáng gọn, đẹp. Hậu Tổ, gian giữa an vị Tổ Đạt Ma, tả hữu thờ Bách Tánh chư tiên linh.

Bước chân vào chùa, cảnh thanh tịnh, hiền hòa, tinh diệu, ánh sáng lung linh, huyền ảo, làm cho lòng người hân hoan phát tâm tu niệm.

Từ ngàn xưa, người dân Bình Trị, thấm nhuần đạo đức Phật giáo, với tinh thần yêu nước nồng nàn, với truyền thống yêu quê hương, yêu dân tộc, với bản tính hiền hòa, giàu lòng nhân ái, hướng thiện, từ bi, hỷ xả, đậm đà bản sắc dân tộc.

Quả thật:

“Quê tôi có gió bốn mùa,

Có trăng giữa tháng, có chùa quanh năm,

Chuông khuya, gió sớm, trăng rằm,

Chỉ thanh đạm thế âm thầm thế thôi,

Mai này tôi bỏ quê tôi,

Bỏ trăng, bỏ gió chao ôi bỏ chùa”

Song, để công việc xây dựng chùa qua các thời kỳ được sáng tỏ, dưới đây là những nhân chứng và vật chứng.

A. NHÂN CHỨNG:

1. Cụ Đinh Toàn sinh năm Tần Mùi (1931) con cụ Đinh Sơn hội trưởng ban trị sự chùa Hưng Long năm 1957-1964

2. Cụ Võ Tài sinh năm Tân Mùi (1931) người trong ban xây dựng chùa năm 1970 (chùa hướng Bắc hiện nay)

3. Cụ Trương Công Mậu sinh năm Bính Dần (1926) người địa phương tham gia cách mạng nay là cách mạng lão thành.

4. Cụ Trương Hường sinh năm Bính Tý (1936) ban xây dựng cổng chùa hiện nay.

B. VẬT CHỨNG:

1. Một cái bảo chúng khắc bằng chữ nho : “Thành Thái năm Nhâm Dần tháng 9/1962”, Bảo chúng cao 40cm, kính 27cm

2. Một cái chuông lớn khắc bằng chữ nho một bên hông:

“Kiết tạo Hưng Long tự,  phụng cúng gia trì, bát nguyệt sơ ngũ nhựt, Duy Tân tam niên” (吉造興隆寺奉供加持捌月初伍日維新三年)

Và mới đây, bổn tự có sưu tầm được Long Vị của Đại Sư Thanh Định. Với dòng chữ

(奉為顯靈姓潘諱用受比丘戒法名青定號慈潤覺靈之位)

Hưng Long Tự là ngôi chùa có từ ngàn xưa vồn tồn tại mãi theo thời gian

 

BẢNG GHI THỨ TỰ SƯ THẦY TRỤ TRÌ CHÙA HƯNG LONG TỰ

Từ 1697-1891 (194 năm) không ghi nhận, tra cứu được thầy trụ trì.

Từ 1891-1901 cụ Trần Khánh thủ tự.

Từ 1901-1938 cụ Lương Tín thủ tự.

Từ 1925-1938 Đại Sư Thích Thanh Định trụ trì.

Từ 1938-1941 cụ Trần Thập trụ trì

Từ 1941-1947 Thầy Lê Hòa Tú trụ trì

Từ 1941-1957 chùa bị đốt cháy toàn bộ

Từ 1957-1992 Đại Đức Thích Nguyên Nhượng trụ trì.

Từ 1992-2008  Đại Đức Thích Quảng Nhựt trụ trì.

Từ 2008 đến nay Đại Đức Thích Đức Hỷ trụ trì

Chùa do dân làng xây dựng không có thầy Khai Sơn.


 

[1] Người ngoài tỉnh

[2] Thầy Hai

[3] Thầy năm Thập (con Cụ Trần Khánh)

[4] Người Phú Yên, không rõ Pháp Danh

[5] Nay vẫn còn

[6] Người Phú Yên

[7] Lê văn Nhàn (người Diên Khánh)

[8] Trước 1957 là chính điện quay về hướng nam

 

Thích Đức Hỷ

Bài cùng tác giả

>> Nghĩa vụ thiêng liêng nơi đảo Trường Sa