QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGHỀ NÔNG CỔ TRUYỀN

VÙNG ĐẤT KHÁNH HÒA XƯA

 

NGÔ VĂN BAN  - VÕ TRIỀU DƯƠNG

 

NGHỀ NÔNG CỔ TRUYỀN VÙNG ĐẤT KHÁNH HÒA XƯA là công trình biên khảo về văn hóa dân gian của Ngô Văn Ban và Võ Triều Dương. Công trình gồm có 7 chương và phần Phụ lục. Sau đây, là Chương IV miêu tả về các nông cụ xưa, cách sử dụng trong nghề nông cổ truyền tại vùng đất Khánh Hòa của những năm dưới triều nhà Nguyễn đến đầu thế kỷ XX.

 

 

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 5)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 4)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 3)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 2)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 1)

 

 

CHƯƠNG IV

NÔNG CỤ, VẬT DỤNG VÀ CÁCH SỬ DỤNG TRONG

NGHỀ NÔNG CỔ TRUYỀN TẠI TỈNH KHÁNH HÒA XƯA

 

(Kỳ 6)

 

V. NHỮNG DỤNG CỤ DÙNG ĐỂ  SƠ CHẾ THÓC GẠO

A.  DỤNG CỤ TÁCH VỎ TRẤU TỪ HẠT THÓC THÀNH HẠT GẠO :

Sau khi làm sạch thóc, phơi khô, công đoạn tiếp theo là việc tách vỏ trấu từ hạt thóc, làm trắng gạo trước khi chế biến thành những thức ăn. Công việc đó là xay, giã với những dụng cụ thích hợp : cối xay lúacối giã gạo.

1/ Cối xay lúa :

Cối xay lúa là một vật dụng rất cần thiết cho người nông dân sau thu hoạch vụ mùa, mang thóc về nhà để làm nên hạt gạo. Cối xay lúa được sử dụng để tác động lên hạt thóc, tách vỏ trấu ra khỏi hạt gạo.

Cối xay lúa có cấu tạo hình trụ tròn, làm bằng các vật liệu : tre, gỗ và đất. Cối có 4 bộ phận chính : Bộ chân đế, thớt dưới, thớt trênvòng xay.

a) Bộ chân đế của cối xay là một bộ phận phải gánh chịu một sức nặng khi cối hoạt động nên phải thật vững chắc. Người ta phải chọn loại gỗ ké hay căm xe, muồng để làm dàn chân, dù tiếp giáp mặt đất với một thời gian dài, loại gỗ này vẫn không bị mục hay mối ăn.

Với hai khúc gỗ dài trên 0,8m, bề mặt rộng 15cm, cao 7 – 8cm đặt lên nhau thành hình chữ thập (dấu +), ở chính giữa mỗi cây có cắt khấc để chồng hai khúc gỗ cho khít nhau, tạo một mặt bằng phẳng liền nhau. Tại tâm điểm, người ta đục một cái lỗ hình vuông, mỗi cạnh 4cm để cắm vào đó một đoạn cây gọi là trụ ngõng, vừa để làm trụ cốt cho thớt dưới của cối và đầu trên của đoạn cây cũng vừa làm trục đội thớt trên của cối. Trụ ngõng là một đoạn cây hình trụ có đường kính khoảng 3cm, thường làm bằng gỗ loại cây duối hay gỗ cây lòng mức (gỗ trắng nhẹ, thớ mịn, thường dùng làm guốc) có sớ gỗ mềm để dễ vạt bớt, khi sau một tuần hay mười ngày, răng cối xay bị mòn, lúa xay không tróc được vỏ trấu, vạt bớt trụ cho thớt trên không bị đội lên, cho hai mặt thớt răng cối khít nhau.

Ở mặt trên bốn phía của chân đế cối, cách lỗ vuông đã đặt trụ ngõng nói trên khoảng 0,2m đục 4 lỗ để đóng vào đó 4 cái chốt cao khoảng 0,1m nhằm cố định phần thớt dưới vào chân đế cối. Cũng từ 4 điểm chốt này, người ta dùng cây vuông nhỏ đóng nối liền nhau tạo thành một hình vuông. Bên trong hình vuông đó, người ta lại nối kết thêm 4 – 5 đường nữa tạo thành nhiều hình vuông từ lớn đến nhỏ dần. Đây là cái giàn để đỡ thớt dưới của cối đứng vững và thăng bằng trên chân đế cối xay.

Dưới 4 đầu cây chữ thập của chân đế, người ta còn đóng vào đó 4 miếng gỗ để bàn chân đế cách mặt đất khoảng vài tấc.

Cối xay lúa (Ảnh NVB - chụp tại khu du lịch Nhà Xưa ông Hai Thái - Diên Khánh)

b) Công đoạn làm thớt dưới của cối xay :

Thớt dưới cối xay cố định, ở trung tâm có trụ ngõng dùng làm trục quay cho thớt trên.

Người ta chọn tre làm nan để đan thớt cối. Nan tre cần dày, to bản và phơi ra nắng cho heo héo. Sau đó dùng nan tre đan long mốt tạo thành một cái cót trụ tròn có đường kính 0,4m, cao 0,6m đặt trên cái giàn hình vuông chân đế cối. Sườn dọc cót tròn đan bằng nan tre dày, bề mặt 3cm, cao 0,6m. Sườn ngang, đan vòng tròn cót bằng nan tre vừa cật vừa ruột. Cái cót tròn ấy đứng gọn bên trong 4 cái chốt của giàn chân đế cối.

Đất dùng làm cối phải là đất lấy ở ụ mối để cho có độ cứng và dẻo. Chất dẻo của đất là do nước nhờn của mối tiết ra. Đất ụ mối dùng chày đập, giã ra cho nát, sau đó đem sàng để loại những rác rưới, tạp chất, lấy phần đất vụn nhỏ. Phần đất này đem ủ nước cho tăng thêm độ dẻo. Nước ủ đất phải dùng nước pha muối cho thật mặn, mục đích khi nện vào cối, khi đất khô không bị nứt. Nước muối trộn để ủ đất không nhiều quá làm đất nhão, chỉ cho vào nước vừa phải. Ủ đất qua một đêm hay nửa ngày là có thể thực hiện việc làm cối được.

Trước tiên, người ta dùng một miếng cót hay miếng đan của cái rổ, cái thúng hư đặt lên trên cái giàn hình vuông dưới cái trụ cót tròn để khi đổ đất vào, đất không thể rớt xuống đất. Sau đó, đất ủ đổ vào từng lớp trong cái trụ cót tròn, dùng chày nhỏ nén chặt đất xuống từng lớp. Công đoạn này phải làm thật kỹ từng lớp đất cho đến khi đất đổ đầy ngang miệng trụ cót. Cái trụ ngõng luôn phải được đứng vị trí chính giữa vòng tròn có đất. Nếu cái trụ ngõng lệch xéo, cối sẽ bị lệch, xay không có hiệu quả. Đổ đất vào làm sao phải để cái trụ ngỗng nhô lên mặt đất ở thớt  dưới này khoảng 0,1m.

Bao xung quanh bên ngoài thớt dưới cối là lồng cối (miền Bắc gọi là bồn cối) để đựng gạo và trấu khi cối xay ra. Lồng cối là một vòng tròn đồng tâm với thân cối, có đường kính dài hơn thân cối khoảng 25 – 30cm. Từ lồng cối đến mép trên của thành lồng cối cao khoảng 9 – 10cm.

Cách làm lồng cối :

Dùng tre chẻ những nan tre cật dài 0,4m, bề mặt 2cm có độ dày vừa phải. Sau khi đất đổ vào thớt dưới nện chặt xong, người ta lấy những mảnh tre cật đó cắm quanh tròn mặt trên của thớt dưới, sâu vào 3cm, nhô lên cách mặt đất thớt dưới 15cm, mỗi nan cách nhau 4cm. Sau khi cắm xong, đợi vài ngày sau cho đất khô cứng, giữ chặt các nan tre đó.

Dùng những nan tre chẻ nghiêng, người ta đan long 2 quanh theo hàng nan tre cắm ở thớt dưới. Đan ra 15cm rồi rút dần sợi nan lại, cho tất cả các nan sườn cong đều lên, rồi tiếp tục đan long mốt bao quanh cho đến hết đầu nan, bẻ mối giữ lớp nan trên cùng không bị bung ra khỏi vành lồng cối xay. Người ta chừa một cái lỗ hình chữ nhật có bề dài khoảng 15cm, bề rộng 10cm cho gạo và trấu từ đó chảy rớt xuống thúng hay nia.

c) Công đoạn làm thớt trên của cối xay:

Thớt trên của cối xay cũng là hình trụ tròn có đường kính y như đường kính của thớt dưới, nhưng có chiều cao hoặc bằng chiều cao của thớt dưới hay cao hơn thớt dưới, có cối cao gấp đôi. Khởi đầu người ta cũng đan một cái cót trụ có bề cao do người làm cối quy định. Khi đan gần lên miệng thớt thì người ta rút nan cho vành miệng cúp vào bên trong, dùng sợi nan nhỏ ken lồng và ghim các đầu nan lại cho chắc. Đoạn giữa chiều cao của thớt trên, mỗi bên chừa một lỗ trống hình chữ nhật đối diện nhau để xuyên qua một cái đà bằng gỗ căm xe hay ké, dài 0,6m, dày 5cm, rộng 10cm, mỗi bên thớt thừa ra 0,1m gọi là tai cối xay. Hai đầu tai cối xay mỗi bên đục một lỗ có đường kính khoảng 3cm, là chỗ tra chốt đầu vòng xay vào mỗi khi thực hiện việc xay lúa. Đoạn giữa cây đà ngang, ở mặt dưới, người ta còn đục một cái lỗ rộng hơn cái trụ ngỗng, sâu vào cây đà 3cm để trụ ngõng thớt dưới nằm gọn trong cái lỗ này, khi xay, hai thớt đè chồng lên nhau, giữ cho hai thớt không trật ra lìa nhau.   

Đất ụ mối nện vào thớt trên chỉ bằng mặt phía trên cây đà, để đất khô giữ vững cây đà. Tuy nhiên, ở khoảng giữa thớt trên phải chừa trống một khoảng 15 – 16cm khoét thành hình phễu thông xuống thớt dưới để khi xay, lúa có đường rút xuống. 

Cách làm răng cối xay (miền Bắc gọi là dăm cối) :

Người ta tìm những loại gỗ tốt để làm răng cối xay như gỗ cây bằng lăng, gỗ nghiến, gỗ nhãn hay gỗ mít (phần lõi). Mỗi cái răng cối có chiều dài 6cm, bề mặt 2cm, độ dày 0,5cm, đuôi răng vót mảnh hơn đầu răng. Nêm răng cối sau khi đất nện vào hai thớt thành một lớp cứng trên bề mặt. Người ta lật ngửa thớt trên ra để đóng răng.

Đóng răng trên mặt thớt dưới cối :

Đầu tiên, người ta vẽ một đường chữ thập trên mặt đất của thới dưới cối, rồi lấy răng cối cắm liền nhau trên đường chữ thập đó. Đường răng cối chỉ ló cao lên 1cm. Như vậy, ta có 4 phần bằng nhau trên mặt đất của thớt dưới cối. Sau đó cắm các răng theo hướng từ trái qua phải theo vòng kim đồng hồ chạy. Cắm răng cối trên mặt thớt trên cũng cắm theo hướng như thớt dưới. Đến khi thớt trên lật úp lại, chồng lên thớt dưới thì chiều răng cắm trái ngược nhau, nhờ vậy khi quay vòng cối xay, hạt lúa bị xay xát, tróc vỏ. Vì cả hai mặt cùng ma sát nên cùng chịu mòn như nhau, thớt trên mòn thớt dưới cũng mòn là thế. Một cái cối xay lúa dùng từ 3 đến 4 năm thì mới mòn thớt răng, người ta phải nhờ thợ đóng cối tra bộ răng thớt lại. Trong kỹ thuật đóng cối cái khó nhất là nêm răng cối, nếu làm không đúng kỹ thuật, xay lúa làm nát lúa.

d) Vòng xay lúa (miền Bắc gọi là giằng cối) phía đầu có hình chữ L, phía đuôi có hình chữ T. Nét ngang chữ T ở sau là một đoạn gỗ dài 0,4m đục lỗ mộng tra khớp vào làm tay cầm. Riêng phía đầu chữ L tìm một nhánh cây cong có góc 900 hay trên dưới góc 900 thì mới làm vòng xay được. Nếu dùng cây gỗ đục mộng tra kháp vào, xay khoảng vài giờ là bị lung lay, “xục xịch” ngay. Cây có nhánh tạo thành góc trên dưới 900 là cây táo rừng và cây chân bầu, còn gọi là cây trâm bầu. Hai loại cây này có gai nên cần bào chuốt cho trơn láng. Thân của vòng xay dài khoảng 1,5m. Phía trước vòng xay đẽo thành một cái chốt nhỏ xỏ vào tai cối khi xay. Gần chỗ tay cầm, người ta cột một sợi dây cột lên cây xà ngang để giữ thăng bằng cho vòng xay khi hoạt động.

Cối xay lúa làm rất công phu và cần đúng kỹ thuật, nên có người chuyên làm cối để bán, dân thường gọi là bác phó cối. Phó cối không những làm cối mà còn đến nhà cần sửa cối hư.

Hiện nay có máy xay xát nên không ai cùng cối xay lúa cổ truyền nữa. Vì cối làm bằng tre, đất, trải qua thời gian bị hư mục và phải bỏ. Do đó, ngày nay không thể tìm thấy được cối xay lúa của một thời xa xưa, có thấy chăng là người ta làm lại cái cối xay mới để trưng bày.

Người xay lúa đứng trong tư thế một chân trước một chân sau cách nhau 0,5 hay 0,6m, điều chỉnh sợi dây cột lên xà ngang cho vừa tầm, không cao hay thấp quá. Hai tay người xay cầm chắc tay nắm kéo vòng xay từ phải sang trái, khi đẩy thì chồm lưng tới trước, khi kéo lùi thì hơi ngả người về đằng sau. Người xay thóc có thể hai người cùng đứng xay.

Khi người ta xay cối, thớt dưới cố định không quay, thớt trên dưới sức tác động của con người làm thớt trên quay theo chiều kim đồng hồ xoay theo trục ngõng cối. Lúa đổ vào miệng cối ở thớt trên xuống giữa hai thớt cối bị chà xát làm trấu bật ra từ hạt lúa. Hạt lúa bị bật trấu thành hạt gạo, gạo và trấu theo các rãnh giữa các hàng răng cối chảy ra lồng cối và theo cửa lồng cối chảy xuống thúng hay nia. Mỗi lần xay đổ lúa vào từ 9 – 13kg tùy theo cối lớn nhỏ. Lúa đổ vào cối xay người ta phải làm sạch, không có rác, gạch, đá vụn, mảnh kim loại … Người xay bao giờ cũng lưu ý, khi lúa xay gần hết phải dừng xay lại để đổ tiếp lúa vào, không để cối hết sạch lúa mới đổ, như thế sẽ làm hại cối.  Sau khi xay hết số lúa trong cối, người ta đổi vòng xay qua tai cối bên kia, mục đích là để răng cối mòn đều

Chiếc cối xay lúa chỉ làm được nhiệm vụ là chế biến lúa ra gạo lức, tức là gạo còn lẫn nhiều cám. Còn muốn ăn gạo trắng thì phải dùng chiếc cối giã gạo cây chày để giã gạo lức thành gạo trắng. Thế cho nên một bộ cối xay lúa thường đi liền thêm chiếc cối giã gạochiếc chày.

 

                     Thợ sửa cối xay lúa           -                      Cối xay

(Tranh Henri Orger)

 

 

Chi tiết cối xay lúa

Ghi chú chữ Hán Nôm : (đọc từ phải sang trái) : Lõi cối có cái dầm - Lại trên - Tay cầm - Lại dưới - Cổ áo – Trường xà –  Cái võng cối - Tai cối - Mỏ - Áo cối. (Tranh Henri Orger)

 

XAY LÚA

(Hình trích trong Connaissance du Việt Nam)

2/ Cối giã gạo :

Giã gạo là một công việc nhờ vào sức người để làm cho hạt gạo được trắng và phần cám được tách ra khỏi hạt gạo. Để giã gạo, người ta dùng cối. Cối giã gạo thường có 2 loại : loại dùng cối giã (cối chế tạo bằng gỗ hay bằng đá), người ta cầm chày để giã và một loại cần đạp dùng sức đạp của chân để chuyển động hệ thống chày giã vào cối. Giã chày bằng cối thì dễ di động cối hơn, giã chỗ nào cũng được. Còn giã chày bằng cần đạp thì phải đặt vào một nơi quy định, phía sau hay bên chái nhà, chiếm cả một diện tích lớn.

a) Giã gạo bằng cối và chày :

Cối giã gạo khi xưa có thân hình trụ, nếu làm bằng gỗ thì người ta đẽo nguyên từ lõi của cây gỗ tốt, như cây cầy, ké, trâm … loại cổ thụ trên núi. Lõi gỗ cần phải dai, không bị tét miệng và ít bị mòn qua thời gian dài sử dụng. Người ta dùng dao, rìu để khoét ruột, và dùng lửa để làm nhẵn cối. Cối giã gạo có loại lớn, loại nhỏ nhưng về hình dáng, mẫu mã thì chúng hoàn toàn giống nhau. Cối gồm thân cối, vành tai cối và phần đục lõm, sâu bên trong để chứa gạo giã. Mặt trên cối hình vuông, phần đục lõm tròn nhỏ dần về phía dưới, và sâu, nhọn gần sát đáy cối, có dáng miệng loe, đáy thắt. Vành tai hơi cong lõm. Mặt đáy cối có hình vuông, phẳng mặt, đứng vững vàng trên mặt đất khi giã. Cối càng dùng lâu năm, phần lõm bên trong càng nhẵn bóng. Ngoài công dụng chính là để giã gạo bằng chày tay hay chày đạp (cối đạp), cối này còn dùng để giã bột làm bánh canh, nấu chè xôi nước… Ngươi ta còn làm cối bằng đá, đẽo, đục có hình dáng như cối gỗ.

         Cối chày giã gạo bằng gỗ (Ảnh VKC)    -                     Cối đá (Ảnh NVB)

Chày giã làm bằng gỗ, có độ dài ngắn khác nhau, người ta thường chọn gỗ cây sầm hay gỗ cây quýt. Gỗ các loại cây này dùng làm chày khi giã không bị tét đầu và mối mọt không ăn được. Khoảng giữa chày người ta đẽo nhỏ, thắt lại cho vừa tay cầm. Chày có nhiều cỡ lớn nhỏ tùy theo người sử dụng. Chày có cỡ lớn dành riêng cho đàn ông thanh niên mạnh khỏe, chày cỡ trung bình dành cho phụ nữ con gái và chày cỡ nhỏ dành cho trẻ em cùng phụ giã. Tùy theo khối lượng cối, gạo đổ vào cối để giã trung bình trên 3kg gạo lức (gạo còn có cám bao quanh). Khi giã gạo lức, phải đổ vào cối 1/5 số thóc, nếu không gạo lức sẽ bị nát nhiều.

Khi giã gạo, người giã cầm chày giã, một chân đứng sau và một chân đứng trước. Chày giã xuống phải giã ngay chính giữa lòng cối, nếu giã lệch qua một bên, gạo sẽ bay tung ra ngoài cối. Hai người giã chung gọi là giã chày đôi, phải biết tránh né đầu chày, không cho 2 đầu chày đụng nhau. Những đôi giã chuyên nghiệp thì không xảy ra điều này. Người nhà quê xưa kia rất kỵ việc 2 đầu chày tán đụng nhau, như thế sẽ là điềm gây bất hòa cho vợ chồng, anh em trong nhà. Khi giã đến nửa chừng, dừng giã, lấy tay trộn gạo trong cối cho đều rồi tiếp tục giã cho đến khi gạo trắng. Nếu hai người cùng giã, nếu một người muốn dừng giã thì phải gõ đầu chày lên miệng cối, làm hiệu cho nguồi kia biết để dừng chày.

Người ta thấy trên trống đồng Đông Sơn hình dáng chiếc cối, người giã, chứng tỏ loại cối dùng tay giã đã xuất hiện từ thời cổ xưa.

b) Giã gạo bằng cối đạp :

Cối giã gạo này dùng chân, gồm các bộ phận :

- Cần đạp làm bằng cây gỗ dài từ 2 – 3m thân tròn, thật thẳng. Cây gỗ có một đầu to ở phía trước, đường kính khoảng 20cm và đầu nhỏ ở phía sau, đường kính khoảng 15cm.

- Phần trước của cần đạp người ta đục một lỗ vuông to để tra một đoạn cây gỗ, thân tròn gọi đầu chày. Đầu chày có chiều dài tùy thuộc độ sâu của lòng cối, thường dài từ 0,6 – 0,65m. Phần sau của cần đạp nơi chân người đứng đạp, người ta vạt phẳng cây gỗ cho chân khỏi bị trơn trượt khi đứng trên cần đạp để giã.

- Thân cần đạp cách đầu nhỏ phía sau 1m, người ta đục một cái lỗ vuông tra vào đó một khúc gỗ dài từ 35 – 40cm, to bằng bắp tay. Khúc gỗ này hai đầu được đặt trên 2 trụ gỗ đóng chắc chắn xuống đất. Đầu hai trụ gỗ đục trũng cái rãnh để cây gỗ đặt vào đó.

Cối đạp giã gạo (Ảnh NVB)

(Hình chụp tại khu du lịch sinh thái Nha Trang Xưa -TP Nha Trang)

- Nơi người đứng đạp cần, phía dưới người ta đào một cái hố sâu khoảng 0,4m cạn dần về phía 2 trụ gỗ. Khi người đạp cần, phần sau cần đạp bị đè xuống hố này để phần trước cần đạp đưa lên cao.

- Người giã cối đạp cũng cần có tay vịn để được vững khi đứng giã cần đạp. Tay vịn làm bằng tre hay gỗ có chiều dài từ 2 trụ gỗ đến cuối cần đạp. Tay vịn được đóng vào  vách chái hay trên 2 trụ. Có nơi, người ta treo 2 sợi dây thừng treo từ xà nhà xuống để người giã cầm để lấy thế cho đôi chân đạp cối.

- Ở dưới phần đầu to của cần đạp người ta đặt một cái cối bằng đá hay bằng gỗ được chôn sâu xuống đất một nửa để cố định cối, khi giã, cối không bị xê dịch. Lòng cối được đặt làm sao tâm của lòng cối thẳng đứng đụng tâm của đầu chày, khi chày giã xuống, chày nằm gọn trong lòng cối.

Khi giã gạo, một chân người giã dậm mạnh lên phía sau cần đạp chìm sâu xuống hố, đầu trước cần đạp bật cao lên. Người giã co chân lên, phía sau cần đạp bật lên, phía đầu cần đạp rơi xuống đập mạnh đầu chày vào lòng cối chứa gạo trong đó. Người giã lại dùng chân đạp xuống … và công việc đó cứ tiếp diễn. Không ăn mỏ mổ cuống cuồng / (phía) sau đào cái chuồng, dậm giật cái đuôi là câu đố để chỉ cách giã gạo bằng cần đạp.

Người ta còn làm một cây chống cối bằng khúc gỗ to, hình chữ Y, cao khoảng 0,6m để chống cần đạp khi cho gạo vào, khi giã gạo xong một cối hay khi cần nghỉ giải lao. Khi bốc gạo ra khỏi cối, cần chống cần đạp cho vững, cho chắc, nếu không đầu chày đập xuống sẽ rất nguy hiểm. Trước khi cho gạo vào giã, người ta chống cần đạp lên, kiểm tra lòng cối có sạch không rồi quét sạch lòng cối. Người ta còn kiểm tra hố nơi người đứng đạp có nước đọng hay không. Khi không giã nữa, cũng cần quét sạch gạo cám trong lòng cối để gà khỏi nhảy vào ăn sinh ra dơ bẩn cối.

Hai loại cối trên dùng để giã gạo là chính, nhưng cối còn được dùng để giã khoai sắn khô, giã bột làm bánh …

Ngày trước nấu cơm ăn bằng gạo tự giã nên nhà đông miệng ăn gần như ngày nào cũng giã gạo. Thời đó, có những người mù cả hai mắt lại nhà nghèo, bà con trong xóm tạo công ăn việc làm cho họ, một trong số công việc đó là thuê họ giã gạo bằng cối chày. Họ tuy mù nhưng giã gạo rất giỏi, chày giã đúng xuống lòng cối và họ dùng tay, dùng mũi hít ngửi để nhận biết gạo đã bớt cám, đã trắng chưa. Chủ nhà trả công cho họ bằng gạo đã giã, đôi khi còn cho thêm. Cả tá điền phục dịch cho giới địa chủ cũng phải giã gạo không công. Các chàng trai đến làm rể, ngoài việc cày cuốc khổ cực, họ còn phải giã gạo, nhưng họ rất thích thú vì được giã chung với người vợ tương lai của mình, được nhìn ngắm, nói chuyện, vì không dễ gì gặp người yêu tự do ở nhà vợ như thế này.

Việc giã gạo tập thể trong làng giữa những trai cô gái trong những đêm trăng sáng sinh ra việc hò hát đối đáp nhau. Hò giã gạo ra đời trong công việc đó. Đó là những làn điệu dân ca đầy chất trữ tình đã được hình thành trong một số huyện, trai gái trong huyện chia làm 2 phe đối đáp nhau theo nhịp chày khua. Thời Pháp thuộc, thực dân Pháp cấm không cho trai gái tụ tập giã gạo hò hát ban đêm nên sinh hoạt này dần dần không còn nữa.

B. DỤNG CỤ ĐI ĐÔI VỚI VIỆC XAY LÚA GIÃ GẠO :

1/ Cái nong cái nia :

Cái nong cái nia có nhiều điểm giống nhau, cùng làm bằng nan tre, hình tròn, lòng cạn, cạp vành giống nhau, chúng chỉ khác nhau về độ to, nhỏ và một số công dụng.

Tre làm nong nia phải là tre cái, tương đối già, dùng một vài đoạn ở phần giữa. Nan tre phải to, thẳng, ruột dày, được vót nhẵn, nếu đan nong thì có chiều rộng khoảng 1cm, dày 1mm. Nan đan nia thì mỏng, nhỏ và ngắn bằng nửa nan đan nong.

Đan nong từ giữa rồi tiến dần ra bốn mặt. Vành nong nức bằng miếng tre dày rất chắc chắn, cao độ 6cm. Nong có kích thước lớn, đường kính từ 1,6 – 2,0m. Cái nong được sử dụng khi giê lúa, để phơi thóc, phơi đậu phọng, phơi khoa sắn đã xắt thành lát, phơi sợi thuốc lá ... dùng cho những nhà không có sân phơi, hay dùng đặt trong bồ đập lúa hứng thóc…  Nhà nghèo vách đất, người ta dùng nong dùng để che cửa, lăn qua lăn lại dễ dàng. Người ta còn dùng cái nong để làm mái che hay nằm trên đó mà ngủ nghỉ tạm thời:

Hồi nào bậu nói bậu đành

Bụi tre trước ngõ bậu biểu để dành đương (đan) nong

Bây giờ bậu nói bậu không

Tre kia ta biết đương nong cho ai nằm ?

Ngày nay, nông dân trong tỉnh không còn dùng nong nữa, nên chẳng còn ai sản xuất và rồi chỉ còn trong ký ức của những người già.

Nong nia dùng trong giê lúa (Ảnh Internet)

Trong Vân Đài loại ngữ (sđd), Lê Quý Đôn có viết về cái nong : “ Tam tài đồ hội nói : Sái bàn là đồ đan bằng tre, có mắt, để phơi thóc, rộng độ 5 thước, có cạp, sâu độ 5 tấc, trong lòng phẳng rộng, tròn mà dài, dưới đáy có buộc hai thanh tre đen, thò 2 đầu ra độ một gang tay để bưng cho tiện. Khi trời nắng, đem thóc đổ vào đó để phơi. Xem hình dạng nó, thì chính là cái mà nước nhà gọi là “Bình đầu cơ” (cái nong) “ (trang 425). (5 thước ta hơn 2m)

Cái nia có đường kính từ 1,0 – 1,2m, nhỏ hơn cái nong. Người ta đan nia bằng tre cật. Trước tiên đan mê, đan xong,  người ta xén mê thật tròn, để vành vào và lận đứng, kẹp vành trong vành ngoài cho tròn trịa, dùng dây mây nức vành cho thật chặt. Cái nia rất tiện dụng trong mọi việc. Người ta dùng nia để sàng sảy trấu, hạt lép từ lúa, phơi được mọi thứ (khoai, đậu …), hứng thóc ở cối xay. Người ta còn dùng nia để đựng thịt làm cỗ, chia phần, đậy giếng nước. Trong những lễ cúng các bác, cô hồn người ta cũng dùng nia bày biện các lễ vật, đèn nhang lên trên đó để cúng. Nia bày lễ vật đặt dưới đất hay để lên trên ghế trụi (làm cái bàn giả) trên sân trước nhà.

Cái nong thì người ta có thể nằm ngồi trên đó được, nhưng người dân thì có tục kiêng cử ngồi hay dùng chân giậm vào trong nia. Đó là vì người dân quê muốn giữ sự thanh khiết vật đựng hạt ngọc trời ban cho và nia cũng là một vật dụng để bày cỗ cúng nữa.

Cái nia có “tuổi thọ” dài hơn cái nong, hiện nay trong nhiều nhà ở trong tỉnh, cái nia vẫn còn lưu dụng lại.

(Cái gác nong) Giá treo nong nia (Tranh Henri Orger)

 

2/ Cái thúng, cái mủng :

Cái thúng có 3 loại : thúng con, thúng cái thúng lường.

Thúng ngày trước được đan bằng nan tre cật chứ không đan bằng tre ruột như thúng làm ngày nay. Nan tre đan thúng cái và thúng con cùng một cỡ, vót đều, không có nan mỏng nan dày, khó đan. Riêng nan tre đan thúng lường phải to và dày hơn một chút. Vành miệng thúng có dây mây nức vành. Đường kính miệng thúng con là 0,45m, đựng được 1 giạ lúa (9kg). Đường kính miệng thúng cái là 0,55m, đựng được 2 giạ lúa (18kg). Đường kính thúng lường rộng hơn, đựng được 5 giạ lúa (45kg). Thúng con và thúng cái đựng lúa chỉ cần 1 người bưng, còn thúng lường đựng lúa phải cần 2 người khiêng. Do đó, hai bên ngoài vành thúng lường người ta cột vào mỗi bên một đoạn cây tròn để khi di chuyển, 2 người cầm đoạn cây đó khiêng thúng cho dễ. Thúng lường này chỉ có ở những nhà địa chủ sử dụng để khiêng được một số lượng nhiều lúa vào lẫm. Và sau này, loại thúng này cũng rất khó tìm thấy.

 

Cái thúng (Tranh Henri Orger)           -            Cái dừng (Ảnh NVB)

 

Mủng  nhỏ hơn thúng, đường kính 0,40m, cao 0,25m, trẹt lòng, dùng nan tre cật vót nhỏ, đều, đan kín như thúng. Mủng dùng để xúc, bưng lúa gạo, để vào gióng (quang gánh) di chuyển gọn, nhẹ, hay dùng để đậy lên thúng như cái nắp.

3/ Cái dừng, cái sàng :

Dừng (có nơi gọi là giần) là một vật dụng đan bằng nan tre có lỗ nhỏ để làm cho gạo đã giã làm sạch cám. (Cám là chất bột màu vàng nâu do lớp vỏ mềm bao ngoài hạt gạo nát vụn ra khi xay giã, thường dùng làm thức ăn cho heo. Nếu gạo bám cám thì gọi là gạo lức). Tiếng miền Bắc và miền Nam gọi vật dụng này là cái giần, theo Tự điển chữ Nôm, giần được viết từ chữ Hán : chữ mộc    đứng trước chữ giản  . Cái giần cũng viết thành chữ Hán dần , đọc Nôm là dần, chỉ cái giần. Nói chung, tiếng địa phương miền Nam Trung Bộ có nơi gọi là giần, có nơi gọi là dừng. Đa số người dân trong tỉnh Khánh Hòa gọi là dừng.

Sàng cũng là một vật dụng đan bằng nan tre để làm cho gạo sạch trấu (vỏ hạt lúa) và tấm (những mảnh vỡ nhỏ của hạt gạo do xay, giã). Chữ sàng từ chữ Hán đọc là sàng có nghĩa là cái giường, sang chữ Nôm cũng đọc là sàng để chì cái sàng sàng gạo. Lê Quý Đôn trong Vân Đài loại ngữ (sđd) đã có ghi chép một tục lệ xưa : “Sách “Tạp ngũ hành thư” nói : “Cứ ngày mồng ba tháng giêng, người ta mua bốn cái sàng, treo bốn vách nhà để làm ăn cho lợi : làm ruộng, nuôi tằm được bội phần, tiền tài cứ tự nhiên vào” “ (trang 437).

Dừng sàng giống y nhau theo mẫu mã và cách đan, đường kính trung bình 0,45m – 0,50m, với vành tre nhỏ cạp chung quanh. Dừng khác sàng ở chỗ dùng nan tre để đan, dừng đan bằng sợi nan tre thẳng, chẻ vót đều, sợi nan nhỏ còn sàng đan bằng sợi nan tre chẻ vót lớn hơn. Lỗ của dừng nhỏ hơn lỗ sàng, chỉ cho tấm, vỏ trấu vụn, cám đi qua, giữ lại gạo. Còn lỗ sàng thưa hơn để cho hột gạo rơi xuống còn hạt lúa giữ lại trên sàng. Đan dừng và sàng người ta đan “long hai”, có nơi người ta đan “long mốt”.

Khi xưa, người muốn sử dụng dừng hay sàng để dừng hay sàng lúa gạo, trước hết phải tập luyện đôi tay cầm dừng và sàng trong nhiều ngày. Cầm các vật dụng này không phải bằng hết 5 ngón tay của mỗi bàn tay, mà chỉ cầm bằng 3 ngón: ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa. Người làm quen tay chỉ cần 2 ngón, ngón, ngón cái và ngón trỏ. Hai tay cử động thật dịu dàng để xoay tròn cái dừng, cái sàng.

Trước khi bỏ lúa vào cối xay lúa, người ta phải sàng lúa trước để lọc sạn, khi thành gạo, nấu cơm đỡ đãi sạn. Sau khi xay, gạo còn lẫn với vỏ trấu và lúa sót lại. Việc tách trấu ra khỏi gạo, tùy theo số lượng gạo nhiều hay ít, tùy theo người giàu nghèo mà người ta dùng cái quạt dê lúa hay dùng cái máy quạt dê lúa. Thông thường thì người ta làm sạch trấu bằng cách sảy gạo. Trấu đã được sảy ra khỏi gạo thì còn một số hạt lúa lẫn vào trong gạo. Lúc này người ta dùng đến cái sàng. Sàng gạo là một động tác xoay tròn cái sàng, gạo bên trong cũng xoay tròn theo, những hạt lúa còn sót lại dần dần nổi lên trên, nhóm tụ lại giữa sàng, còn gạo thì lọt xuống nia. Do đó, cái sàng phải đan cho khéo, các lỗ sàng chỉ có hạt gạo lọt qua mà hạt lúa không lọt qua được. Tuy nhiên, cái sàng hoàn thiện, nhưng gặp người không biết sàng thì cũng khó tách lúa ra khỏi gạo, gạo có rơi xuống nhưng lúa không nổi lên và nhóm tụ lại. Nhìn người thành thạo sàng gạo như nhìn một vũ công đang biểu diễn một vũ điệu đẹp mắt. Cái sàng được chuyển động theo vòng tròn thật nhịp nhàng, uyển chuyển. Trên sàng thì gạo chuyển động xoay vòng mà tâm là nơi lúa thoát ra từ những hạt gạo nhóm tụ lại. Dưới sàng thì gạo rào rào rơi xuống nia. Người sàng gạo không chỉ sàng mà còn sảy và lắc cái sàng nữa để cho gạo rơi hết xuống nia. Như vậy, người ta không những chỉ có sàng, mà còn sảy và lắc nữa, nghĩa làm đủ mọi động tác để cho gạo rơi hết xuống nia, chỉ còn lại lúa trên sàng mà thôi. Ấy vậy mà vẫn còn những hột gạo trên sàng, để chỉ sự chọn lọc dù kỹ càng cũng không thể lọc hết những gì cần bỏ.

Làng quê huyện Ninh Hòa còn truyền tụng câu đố :

Hàng trăm cái lỗ - Vô số trẻ con - Đua chạy vòng tròn - Chen nhau chui xuống

đã cung cấp một tri thức cho trẻ về một vật dụng là cái sàng, với nhiều cái lỗ sàng, vô số hạt gạo chen nhau qua lỗ rớt xuống nia.

Công việc sàng gạo là một cực nhọc chứ không sung sướng gì qua lời than thở của một người làm mướn :

Làm mướn cực lắm ai ơi

Lại còn giã gạo cánh tay rụng rời

Ngó lên trăng đã lặn rồi

Lại còn sàng gạo chẳng lời thở than

Tuy nhiên nếu được xem người con gái sàng gạo thì những mệt mề biến mất : Mây rắc anh nức dừng sàng / Tay em sàng gạo, xinh càng thêm xinh.

Sau khi sàng sảy thì có hạt gạo, nhưng đó là gạo lức còn lẫn cám, cần có gạo thật trắng để nấu cơm ăn thì phải qua giai đoạn giã gạo bằng cốichày.

Giai đoạn cuối, người ta dùng cái dừng để loại tấm, cám và vỏ trấu còn lẫn trong gạo. Động tác dừng gạo, sảy gạo bằng cái dừng như động tác sàng gạo sảy gạo bằng cái sàng. Nhưng lần này hạt gạo ở trên dừng, tấm cám vỏ trấu vụn rơi xuống nia. Những hạt lúa còn sót lại dần dần nhóm lên mặt sẽ được nhặt bỏ đi.

             Người giần gạo (Tranh Henri Orger)       -     Sảy thóc gạo (Tranh Henri Orger)

Công việc sàng, giã, dừng gạo ngày nay có máy xay xát gạo thay thế, không thấy đàn bà cô gái nào ngồi sàng sảy gạo cho ta thưởng thức được một vũ điệu đẹp và rồi cái sàng, cái dừng cũng dần dần mai một như một số nông cụ khác.

Người giã gạo và người giần gạo

(Hình trích trong Connaissance du Việt Nam )

 

4/ Cái rổ, cái rá :

Cái rổ đan bằng tre với nan to, đan long hai, có lỗ thưa khi dùng rửa các vật đựng, nước có thể theo lỗ chảy xuống để các vật dụng được khô ráo. Rổ có đường kính 0,50m, cao 0,25m, phần đáy hơi nhỏ lại. Rổ còn dùng để đựng các vật thô như rác, lá cây, rau, khoai bắp sắn đậu … đặt tại chỗ hoặc bưng di chuyển từ nơi này đến nơi khác

 

Đan rổ (Tranh Henri Orger)

Cái rá, không ra thúng mà cũng không ra rổ, rộng chừng 30 đến 40 phân, hơi trẹt lòng, nan nhỏ mà dày, vẫn có những khe hở nhưng không để vật chứa trong đó không lọt ra ngoài, thường dùng để vo gạo.

  

Cái sàng và cái rá (Ảnh NVB)

 Tục ngữ ta có câu rổ rá cạp lại nghĩa đen là rổ rá dùng lâu bị bung vành sổ nẹp ở trên, phải “cạp” lại dùng như mới. Cạp là buộc cái nẹp lại trên rổ rá cho chắc. Câu trên còn ngụ ý hai người, hoặc ly dị vợ chồng, hoặc vợ chồng chết, lấy nhau, còn gọi là tục huyền.

5/ Cái rổ sảo :            

Rổ sảo được đan bằng tre với những sợi nan hơi dày và to hơn nan đan thúng, nhưng nan vót hơi mỏng 2 mép để dễ đan và dễ cho các vật rơi xuống. Cái rổ sảo đan long mốt, đường kính khoảng 0,5m, có lỗ nhỏ hơn ngón tay áp út. Vành rổ làm bằng mảnh tre đực, nức sợi dây mây chắc chắn. Rổ sảo dùng để sảy lúa để loại bỏ lá rác, sảy sắn lát đã khô, các lát nhỏ rơi xuống, lát to còn lại trên rổ … Nhà nông nào cũng có cái rổ sảo để dùng.

 

NGÔ VĂN BAN  - VÕ TRIỀU DƯƠNG

 

(Xem tiếp kỳ 7)

Bài cùng tác giả

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 5)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 4)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 3)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 2)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 1)

>> Hình ảnh rồng trong đời sống dân tộc Việt

>> Cá vượt vũ môn hóa rồng

>> Tết của một thời ấu thơ

>> Vè Các Lái ngang qua huyện Ninh Hòa

>> Miếu và miễu ở Khánh Hòa (kỳ 2)

>> Miếu và miễu ở Khánh Hoà (kỳ 1)

>> Dinh Trấn Biên Nha Trang dưới thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong có hay không ?

>> Việc giáo dục chữ Lễ trong gia đình và nhà trường

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ Bắc tới Nam (kỳ 2)

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ bắc tới nam (kỳ 1)

>> Thịt mèo

>> Chuyện mèo năm Mão qua câu ca tiếng nói người Việt

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 2)

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 1)

>> Những trường học tại Nha Trang xưa và nay

>> Chất biển trong con cá vịnh Nha Trang

>> Con cọp qua cái nhìn dân gian Việt Nam

>> Món cọp năm Dần

>> Về Diên Khánh ăn bánh ướt

>> Cọp Khánh Hòa

>> Thầy Đồ Cóc

>> Đất Khánh người Hòa

>> Món ngon Năm Sửu

>> Con trâu trong văn học các dân tộc VN

>> Món ngon năm chuột

>> Chuyện chuột năm Tý

>> Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

>> Vịt lội Ninh Hòa

*** Nghề làm bánh tráng ở Xóm Rượu Ninh Hòa:

>> Kỳ 1, kỳ 2, Kỳ 3

*** Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang,

     việc giỗ của người Việt:

>> Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, kỳ 11, kỳ 12