QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Tác Giả

Võ Triều Dương

Tác Phẩm

* Chuyện Thầy Đồ Ninh Hòa

* Non nước xứ Đồng Hương 1, 2, 3

 * Hương sắc xuân xưa Ninh Hòa

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NON NƯỚC XỨ ĐỒNG HƯƠNG

(KỲ 1)

võ triỀu dương

(Võ Triều Dương, hội viên Hội VHNT Khánh Hòa. Ông hiện sống ở thôn Tân Tứ, xã Ninh Thượng, huyện Ninh Hòa; làm ruộng và viết biên khảo về văn hóa - lịch sử địa phương.)

 

Ảnh: Đồng lúa Ninh Hòa

Tại huyện Ninh Hòa có một câu ca dao rất nổi tiếng, được lưu truyền qua nhiều đời bằng điệu hát ru con khắp mọi làng quê:

“Muối Hòn Khói, ruộng Đồng Hương

Hòn Hèo mây bạc, suối nguồn Cửa Bô”.

Cả bốn địa danh Hòn Khói, Đồng Hương, Hòn Hèo, Cửa Bô dĩ nhiên phải có gì rất đặc biệt nên mới được đi vào ca dao Ninh Hòa ?

- Vâng ! Đặc biệt lắm. Mỗi địa danh đều kết tụ, phản ánh những dữ kiện lịch sử và tinh tuý của quê hương từ bao trăm năm. Hai địa danh Hòn Khói và Hòn Hèo lâu nay đã có nhiều người nghiên cứu biên khảo tỉ mỉ, duy Cửa Bô và Đồng Hương là chưa được ai quan tâm. Ở đề tài này tôi chỉ giới thiệu về xứ Đồng Hương, còn Cửa Bô xin hẹn một dịp khác.

I. ĐỊA THẾ VỊ TRÍ.

Đồng Hương gọi đúng theo tên nguyên thủy là Chiêm Dân Đồng Hương, một khu vực ở vùng sâu vùng xa nay là xã Ninh Thượng, nằm về hướng cực tây bắc huyẹn Ninh Hòa, cách trung tâm thị trấn khoảng hai chục cây số đường bộ, dựa lưng vào dãy núi Vọng Phu cao trên 2000 mét. Từ xa xưa nơi đây nổi tiếng về lúa gạo, hò giã gạo, cửa ngõ chính diện đi vào núi Vọng Phu tìm trầm kỳ, năm 1951 đã làm nên những chiến công chống Pháp hiển hách lẫy lừng, làm kinh hồn quân giặc và được ghi vào quân sử tỉnh Khánh Hòa.

Trải qua hằng ba, bốn thế kỷ trở về trước, mặc dù là một vùng ruộng đất hẻo lánh, ẩn khuất sâu nơi chốn núi rừng, thế nhưng Đồng Hương đã từng là nơi cộng sinh giữa các dân tộc Chiêm Thành – Êđê, Êđê – Kinh và ngày nay hiện có nhiều sắc dân Kinh, Hoa, Chăm, Mường của nhiều tỉnh trong cả nước quy tụ về đây sinh sống. Quả thật đất lành chim đậu, bến thuận thuyền về.

Khu vực Đồng Hương là một thung lũng nhỏ, chung quanh có đồi núi chập chùng vây bọc, với góc độ nhìn của các nhà quân sự thì Đồng Hương có thể xem là một “Hòn non bộ Điện Biên Phủ”, hay nói cách khác là một Điện Biên Phủ được thu nhỏ. Tổng diện tích tự nhiên nguyên thuỷ có trên 80 cây số vuông, tổng diện tích tự nhiên hiện nay là 73,2 cây số vuông. Giữa thung lũng có một dòng suối nhỏ phát nguồn trong dãy núi Vọng Phu, từ trên cao nó hùng dũng vượt qua nhiều sườn đồi vách núi cheo leo, can đảm bay nước xuống ầm ầm tạo ra nhiều thác nước mơ mộng hữu tình, nổi tiếng nhất là thác Bay Thượng đã làm say mê bao lòng người đi điệu tìm trầm ky. Qua nhiều thế kỷ ngày xưa rừng núi còn nguyên sinh, nước suối xanh biếc lững lờ uốn lượn, suốt bốn mùa chảy đổ ra sông Dinh Ninh Hòa, tưới mát cho hàng chục cánh đồng của nhiều làng xã.

Ở Ninh Hòa đi chính diện vào núi Vọng Phu tìm trầm kỳ bằng cửa ngõ Đồng Hương.Ngày xưa, câu lễ bái chúc sớ của giới đi điệu trước khi rời đất Đồng Hương, thì các cụ thường đọc ca tụng địa danh này :

Sơn hoàn thủy nhiễu, dục tú chung linh

(Nghĩa là: Núi bao quanh dòng nuớc uốn lượn / Tú khí rất đẹp cảnh trí linh thiêng).

Với cái nhìn của các nhà địa lí phong thủy, thì nơi đây phải có vài địa huyệt vượn khí anh linh. Bởi vậy hằng hai trăm năm về trước, xứ Đồng Hương rừng núi còn nguyên sinh mịt mù, đã có hàng chục ngôi cổ mộ bằng vữa vôi được chôn cất nơi đây. Thậm chí có ngôi cổ mộ rất lớn, nguyên cha của một vị thượng quan đời chúa Nguyễn an táng trên ngọn đồi gọi là lăng mộ ông Từ cách nay trên 250 năm. Điều đặc biệt hơn nữa có một ngôi cổ mộ, theo lối cấu trúc tôi đã phát hiện nhiều kẻ hở, ngôi mộ này rất khả nghi liên hệ mật thiết với triều đại Tây Sơn, hiện tọa lạc tại làng văn hoá Tân Tứ xã Ninh Thượng.

Các nhà phong thủy nhận định, xứ Đồng Hương mặt đông nam và mặt đông bắc đều có hai dãy núi chạy dài vây bọc chầu về phương đông, mặt chánh đông lại có một ngọn đồi sừng sững đứng trông lên, mặt tây Đồng Hương có các cụm đồi thấp như: Đồi Đỏ, Hòn Tre, Hòn Khô phủ phục tựa để án ngữ bảo vệ cả khu vực, các nhà phong thuỷ nhìn đó giống các ngôi bạch hổ. Một dòng suối phát nguyên từ dãy Vọng Phu hướng tây bắc chảy xuống thung lũng, như lưu chuyển phát sinh ra khí thiêng. Bởi vậy các nhà địa lý đã viết lại địa thế Đồng Hương bằng bốn câu thơ phong thuỷ được lưu truyền như sau:

Tốn cấn thanh long triều nhật nguyệt

Chấn tiền châu tước giám sơn biên

Đoài cung bạch hổ đê đầu phục

Càn phát chung linh hữu nhất tuyền.

(Nghĩa là : Hai cung cấn và tốn (đông bắc và đông nam) một cặp thanh long chầu vào nhật nguyệt – Cung chấn ( chánh đông ) có ngôi châu tước coi ngó lên khắp mọi chân núi – Cung đoài ( chánh tây ) có ngôi bạch hổ cuối đầu phục tùng – Cung càn (tây bắc ) phát ra một dòng suối linh thiêng).

Nói thì nói vậy , thế nhưng đã qua ba thế kỷ nào thấy vượng khí vua quan phát tích nơi đây! Phải chăng khoa phong thuỷ có nhiều chổ thiếu thực tế ?

II. LỊCH SỬ XỨ ĐỒNG HƯƠNG QUA CÁC THỜI KỲ.

1. Thời kỳ trước năm 1653.

Lâu nay người ta đều hiểu rằng xứ Đồng Hương là vùng núi rừng hẻo lánh, chướng khí lam sơn, dấu chân con người chỉ bước đến ngụ cư chừng trên hai trăm năm nay, còn trước đó chỉ là vương quốc của các loài voi cọp. Thế nhưng qua sự sưu tầm và phát hiện của tôi suốt nhiều năm nay, thì trước năm 1653 xứ Đồng Hương đã có người Chiêm Thành và người dân tộc Thượng Ê-đê cộng sinh.

Hiện nay những di tích chai lọ, lu, hủ…vv của người Chiêm Thành được nông dân ngẫu nhiên phát hiện dưới đáy bàu nước, trong ụ mối...vv đã khẳng định điều này. Cụ thể như tại làng văn hóa Tân Lâm có ông Phan Thanh Nhàng vỡ ruộng bắt gặp một cái lu bằng sành đựng tro cao 16cm, miệng rộng 11cm (xem hình). Tại nhà ông Lương Kiện ở làng văn hóa Đồng Thân (Hậu thân của xứ Chiêm Dân Đồng Hương) phát hiện được một cái lu sành cao 43cm, miệng rộng 31cm (xem hình). Khu vực các làng ở Ninh Trang nông dân còn phát hiện những đồ thờ với dạng bình đựng vôi để ăn trầu (xem hình) của các ông Võ Trọng Bền, Lê Đình Hương…vv Nhìn qua hình dáng và những hoa văn trên các cổ vật này, đã chứng tỏ đây là những vật dụng và đồ thờ của người Chiêm Thành xưa kia, người Việt xứ Đàng Trong tuyệt nhiên không có mẫu mã và hoa văn trên vật dụng như vậy.

Ngoài ra trong các thập niên trở lại đây, thỉnh thoảng có vài ba lượt người Chăm Ninh Thuận ra xứ Đồng Hương, dò tìm những vết tích chi đó của tổ tiên họ xưa kia. Thế nhưng sau ba trăm năm chục năm vật đổi sao dời, thì làm sao còn lại những dấu vết của một thuở voi Chàm trầm mặc từng bước nặng nề.

Qua các tư liệu và dữ kiện ấy, ngày nay cho ta biết rằng xứ Chiêm Dân Đồng Hương không phải chỉ có người Việt đặt chân đến khai phá đầu tiên, mà trên ba thế kỷ rưỡi trở về trước nơi này đã có người Chăm lập cư sinh sống từ lâu.

Dọc theo chân dãy đồi chạy dài từ hướng bắc đến đông bắc phía sau làng văn hóa Tân Tứ, người nông dân vỡ ruộng đất phát hiện những chiếc quan tài chôn dưới đất hình ống cống, hay hình cái máng heo ăn bằng gỗ sao đã sờn mục các góc. Đây là hình dạng quan tài của người thượng Êđê, dùng để chôn người chết. Điều này càng khẳng định rằng hằng ba thế kỷ rưỡi trước, lúc người Việt chưa đến thì nơi đây hai tộc người Chiêm Thành và Êđê sinh sống gần nhau. Cuối thế kỷ thứ 19 giống người Êđê họ vẫn còn đóng trại lập cư rải rác sát chân núi phía bắc xứ Đồng Hương, nhưng khi người Việt lần lượt đến làm ăn, thì họ bỏ đi nơi khác. Ngày nay số dân tộc ít người Êđê ở xã Ninh Tây (Ninh Hòa) là có một phần hậu thân của lớp người Êđê xã Ninh Thượng cách đây nhiều thế kỷ quy tụ đến.

2. Thời kỳ sau năm 1653.

Khu vực Đồng Hương thuở xa xưa mặc dù nằm sâu trong rừng núi, thế nhưng đất đai màu mỡ đã được khai thác sẵn sàng rồi, cho nên khi người Chiêm Thành ra đi thì người Việt bước chân đến liền theo đó. Hàng trăm năm nay ở Ninh Hòa người ta chỉ gọi địa danh là xứ Đồng Hương, mặc dù tên riêng của một làng mà lại để chỉ chung cho cả khu vực xã Ninh Thượng trong thời đó. Cách mấy năm trước tôi đã sưu tầm phát hiện những tờ đơn ruộng tại nhà ông Đỗ Thuận ở làng Đồng Thân (Ninh Thượng), một tờ đơn đề năm Cảnh Hưng thứ 12 (1751). Và những tờ khác đề năm Thái Đức thứ 9 (1787), Gia Long thứ 12 (1813), Minh Mạng thứ 5 (1824). Trong các tờ đơn ruộng này, ghi tên làng là Chiêm Dân Đồng Hương xã (Xem hình). Thế nhưng tờ đơn ruộng đề năm Minh Mạng thứ 13 (1832) trở về sau thì không thấy hai từ Chiêm Dân nữa, mà chỉ thấy viết là Đồng Hương xã. Điều này chứng minh rằng cả khu vực làng Đồng Hương ban đầu có địa danh là Chiêm Dân Đồng Hương, khoảng sau triều Minh Mạng thứ 5 (1820 – 1840) tên làng xã được đổi ra là Đồng Hương. Từ đây ta có thể suy ra tại khu vực xã Ninh Thượng ngôi làng được thành lập đầu tiên là xã Chiêm Dân Đồng Hương, tiền thân của làng văn hóa Đồng Thân ngày nay. Bởi hai từ Chiêm Dân đã bỏ đi quá sớm (gần 2 thế kỷ) cho nên người Ninh Hòa nói chung và dân địa phương nói riêng không còn ai nghe đến địa danh đó. Căn cứ theo tờ đơn ruộng mua đi bán lại đề năm Cảnh Hưng thứ 12 (1751) cũng đủ thấy biết, liền sau năm 1653 người Việt đã hiện diện nơi đây.

Đến đây lại phát sanh ra những nghi vấn khác cần phải nêu lên.

- Một là : Hai từ Chiêm Dân có ý nghĩa gì ?

Năm trước (2004) tôi nêu ra đã có người giải thích: Chiêm Dân là nông dân làm ruộng vụ lúa chiêm, vậy Chiêm Dân Đồng Hương là xứ Đồng Hương nông dân làm vụ lúa chiêm.

Riêng tôi xin đưa ra giả thuyết sau đây: Từ xưa mới lập phủ trấn đến trước những năm 1975, suốt trên ba trăm năm ở Ninh Hòa không có làm ruộng gọi là vụ lúa chiêm, mà tất cả vùng canh tác ăn nước trời đều gieo sạ giống lúa gòn. Do đó người Ninh Hòa gọi là vụ gòn để phân biệt với vụ lúa mùa ăn nước đập mươn. Nếu căn cứ vào giống và vụ lẽ ra phải đặt là “Gòn Dân Đồng Hương” mới phù hợp. Chữ Chiêm tự dạng viết trong các tờ đơn ruộng nói trên là chữ Chiêm (Thành). Hay là năm 1653 Cai Cơ Hùng Lộc Hầu kéo binh vào kinh lược bình định xứ Yaru (Ninh Hòa), vì địa bàn hẻo lánh biệt lập, số người Chiêm Thành sống nơi đây chẳng hề biết sự cố xảy ra nên cư trú tự nhiên. Sau khi họ biết rõ sự việc rồi, thì quân binh chúa Nguyễn canh giữ khắp nơi nên họ đành tạm thời ở lại làm ăn chung với người Việt, giống như một tập thể người Chăm hiện sống ở một huyện gần núi tỉnh Phú Yên. Về sau tình hình đã yên ổn, số người Chiêm Thành nơi đây từ từ di cư vào Ninh Thuận, dù ở ít, nhiều, mau lâu giữa hai dân tộc anh em Việt Chiêm đã gần gũi sinh sống hoà hợp, khi lập địa bộ đầu tiên căn cứ vào đó mà đặt địa danh là Chiêm Dân Đồng Hương chăng !

- Hai là : Từ Đồng Hương có nghĩa gì ?

Đây là một đề tài lâu nay được đem ra tranh luận trong những đám giỗ chạp, tiệc tùng của những người dân trong và ngoài xứ Đồng Hương. Tựu trung có hai ý kiến trái ngược nhau sau đây :

Ý kiến thứ nhất :

Ý kiến này giải thích rằng Đồng Hương là những người cùng quê quán rủ nhau vào đây sinh sống. Đặt tên làng là Đồng Hương lớp tiền bối có ý nói lại cho lớp con cháu đời sau thấy rằng những người bước chân đến đây cư ngụ lần đầu tiên đều là cùng chung quê quán.

Ý kiến thứ hai :

Ý kiến này giải thích trái lại và cho rằng , Đồng Hương là đồng ruộng có cây giáng hương, người xưa mới đến nhân lấy đó để đặt địa danh. Cũng như xã Ninh Hưng (Ninh Hòa) có vùng ruộng Đồng Lâu (vì có nhiều cây lâu) Đồng Nẩy (vì có đất ruộng sình lầy)…vv

Hai lối giải thích nghe qua đều có lý cả, tuy nhiên căn cứ vào các tờ đơn ruộng nói trên (xem hình), thì Đồng Hương chữ Hương không viết theo tự dạng và nghĩa là xóm làng, mà chữ Hương có tự dạng và nghĩa là mùi thơm. Riêng chữ Đồng cũng chẳng phải viết theo tự dạng Hán Nôm là đồng ruộng, mà lại Đồng có nghĩa là cùng chung (đồng chí).

Hai chữ Đồng Hương căn cứ theo bút tích cũ nó có nghĩa : cùng chung một mùi thơm, Đồng là Cùng, Hương là Thơm.

(Đón đọc tiếp kỳ 2)

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi về webmaster@ninhhoatoday.net