QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

KÝ ỨC BẾN ĐÒ QUÊ HƯƠNG

Kính tặng

Những người chèo đò đưa người qua lại năm xưa nay kẻ còn người mất

Những người đã, đang giữ cầu gỗ năm xưa và hôm nay giúp nối hai bờ thông thương qua lại

Những bạn của tôi năm xưa qua đò đi học ở Nha Trang nay đã về hưu

 

Bên dòng sông Cái Nha Trang chảy qua làng Võ Cạnh, xã Vĩnh Trung quê tôi có hai bến đò có tên gọi hàng trăm năm nay : Bến đò Ông Bộ và bến đò Bình Cang.

Lúc còn nhỏ, Ba tôi thường dắt tôi đi theo qua thôn Phú Cấp, Phú Nẫm thuộc xã Diên Phú, huyện Diên Khánh để mua lá khô của cây thuốc lá. Thuốc lá ông mua về vấn tròn, thọc qua một lỗ tròn của cây gỗ, dùng rựa bén xắt ra, để vấn thành những điếu thuốc cho hàng quán má tôi bán lẻ. Đi qua hai thôn phải qua đò. Đò là chiếc ghe nhỏ do người lái đò tuổi trung niên chèo. Đi qua thôn Phú Cấp đi ghe ở bến đò Ông Bộ. Đi qua thôn Phú Nẫm, đi ghe ở bến đò Bình Cang. Lúc đầu đi ghe qua sông, tôi rất sợ. Tôi ngồi bên Ba tôi, hai tay ôm Ba tôi chặt cứng, chỉ sợ lọt xuống sông. Những lần sau, dạn dĩ hơn, tôi ngồi một mình trên tấm ván giữa lòng ghe, hai tay dang ra nắm ở mạn ghe, thậm chí còn lấy tay vọc nước. Ngồi trên ghe thật mát, gió thổi vù vù bên tai. Đó là những chuyến qua sông vào mùa hè, mùa mưa gió, Ba tôi bảo nước sông lớn, qua lại bằng ghe rất nguy hiểm.

Tên gọi hai bến đò, sau này tìm hiểu tôi mới rõ.

BẾN ĐÒ ÔNG BỘ qua thôn Phú Cấp, xã Diên Phú huyện Diên Khánh. Ông Bộ ở đây là để nói về Ông Cai Bạ (Cai Bộ) NGUYỄN VĂN NGỮ đã giúp dân làm nên bến đò này.

Bến đò ông Bộ

Ông NGUYỄN VĂN NGỮ sinh năm Ất Hợi (1755) dưới thời vua Lê Hiển Tông (1740-1786) tại thôn Cao Lao, xã Bắc Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, con Ông NGUYỄN HỶ và Bà HỒ THỊ THỂ. Ông NGUYỄN HỶ nguyên là Đội Trưởng trong quân đội thời xưa.

Vào thời Chúa Nguyễn ở Đàng Trong, ông NGUYỄN VĂN NGỮ giữ chức vụ CÂU KÊ, chuyên việc tra xét Sổ Bộ. Vào năm Gia Long thứ Nhất (1802), sách sử Nhà Nguyễn là quyển Đại Nam thực lục Chính biên Đệ nhất kỷ, quyển thứ 18 có ghi : “ Lấy Thư Ký Nguyễn Văn Ngữ làm Cai Bạ Bình Khang “. Dinh Bình Khang lúc đó là phần đất gồm tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Ninh Thuận ngày nay. Đến năm 1803, dinh Bình Khang đổi thành dinh Bình Hòa và năm 1808, dinh Bình Hòa đổi thàng trấn Bình Hòa. Năm Gia Long thứ 9 (1810), Ông lại được sắc phong làm CAI BẠ trấn Bình Hòa. Chức CAI BẠ (hay CAI BỘ) là chức quan đứng đầu trấn thời vua Gia Long, đến đời vua Minh Mạng đổi thành Bố Chánh. Chức quan Cai Bạ phụ trách việc quân, việc dân, việc kiện tụng, tiền lương, thuế vụ, điền thổ, hộ tịch … Sắc phong phong Ông làm CAI BỘ trấn Bình Hòa, tước Giảng Văn Hầu hiện nay vẫn còn được con cháu lưu giữ tại nhà thờ Họ Nguyễn Võ Cạnh.

Trong thời gian làm quan, Ông về làng Võ Cạnh (lúc đó là xã, thuộc phủ Diên Khánh, nay thuộc xã Vĩnh Trung, TP Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa) xây dựng làng, giúp dân lập chợ, bến đò, trường học, đình làng … gây dựng dòng họ Nguyễn ngày càng phát triển cho đến ngày nay. Nhân dân trong làng đầy lòng kính trọng, mến mộ Ông, coi Ông như Hậu Hiền của làng. Do đó, sau này, các công trình trong làng do Ông giúp tạo nên đều được kèm theo từ ÔNG BỘ, theo chức danh CAI BỘ của Ông, lưu truyền cho mãi đến ngày nay qua gần 200 năm, như : Cầu Ông Bộ, Đình Ông Bộ, bến đò Ông Bộ, trường Ông Bộ, chợ Ông Bộ … các công trình này nằm trên đường 23 Tháng 10 hiện nay, trở thành một địa danh quen thuộc : chợ Ông Bộ, Đình Ông Bộ, Cầu Ông Bộ, Trường Ông Bộ…

Ông mất vào ngày 19 tháng Bảy năm Nhâm Thân (1812), 58 tuổi, đó là tuổi thọ của ngày xưa. Họ Nguyễn Võ Cạnh từ xưa đã chọn ngày 19 tháng Bảy âm lịch này làm ngày GIỖ HỌ tại Nhà Thờ Họ Nguyễn Võ Cạnh..

Mộ của Ông xây bằng vôi trộn sỏi, cát, mật chắc chắn, hình dáng như con voi phục, nằm khiêm tốn giữa cánh đồng lồng lộng gió ở xã Diên Sơn, huyện Diên Khánh hiện nay. Mặt bằng xung quanh mộ, bị ruộng đồng lấn chiếm, nên rất chật hẹp. Con cháu sau này có dựng mộ bia, ghi rõ tên tuổi Ông cho khỏi bị lạc. Năm 2009, con cháu tộc Nguyễn đã góp công góp của tôn tạo lại ngôi mộ, mở rộng diện tích đất xung quanh, xây mái vòm, xây lan can, làm đường đi vào khu mộ ... thật khang trang, uy nghiêm, đẹp đẽ, xứng đáng nơi yên nghỉ của một danh thần triều Nguyễn, suốt đời lo cho dân cho nước. Ông là thủy tổ của gia đình bên Ngoại của tôi.

Còn bến đò Bình Cang, vì nằm sau nhà thờ Thiên chúa giáo Bình Cang nên lấy tên đó. Nhà thờ Bình Cang của họ đạo Võ Cang, xây dựng từ thế kỷ 17, là một trong vài nhà thờ cổ trong tỉnh. Mới đây, nhà thờ cũ đã được phá đi và xây dựng lại nhà thờ mới, hình ảnh nhà thờ cổ xưa không còn nữa. Nhà thờ hiện nay thuộc thôn VÕ CANG. Trước những năm 60, thôn này từ thôn VÕ CẠNH tách ra. Phía dưới nhà thờ, năm 1922, nhà khảo cổ người Pháp đã tìm được tấm bia bằng đá, có khổ lớn, chữ khắc trên bia là chữ Phạn Sanskrit, và họ gọi là BIA VÕ CẠNH

Cầu gỗ bắc qua bến đò Bình Cang

Tại bến đò Bình Cang, sang thôn Phú Nẫm thuộc xã Diên Phú, huyện Diên Khánh. Đò chỉ hoạt động trong mùa nắng, mùa mưa gió thì đò ít đưa khách qua lại. Sau này, có người đứng ra làm chiếc cầu gỗ thu phí người đi bộ, xe đạp, xe gắn máy qua lại. Đến mùa nước lớn, họ dỡ cầu đem về, hết mùa nước lớn, đem bắc lại. Mùa nước lũ trên nguồn chảy về rất hung dữ, nếu cầu không dỡ kịp sẽ bị giòng nước cuốn trôi.

Từ bến đò này, những người buôn nông sản từ thôn Phú Cấp, Phú Nẫm, qua đò ở bến đò Bình Cang, gánh ra đường 23 tháng 10 hiện nay, xe ngựa chực sẵn chở nông sản xuống chợ Đầm Nha Trang. Và cũng tại bến đò này, có những người bạn của tôi ở Phú Cấp, Phú Nẫm đạp xe đi học, qua đò, rồi đạp xe, đi ngang qua nhà tôi, về nội thành thị xã Nha Trang hồi đó để đến trường học. Sau này họ là bác sĩ, kỹ sư, nhà giáo … và ngày nay đã về hưu. Gặp lại nhau, bao giờ chúng tôi cũng không quên nhắc lại những ngày qua đò đi học ấy…

Trước đây, có hiện tượng có bên bồi bên lở của dòng sông chảy uốn khúc. Bến đó Bình Cang phía bên Nhà thờ thì được bồi nên bên bờ có một bãi cát trong mùa nắng. Phía bên kia bến thì dòng nước soi lở đất nên có những vực sâu. Lợi dụng vực sâu nước chảy mạnh, người ta đặt những guồng xe nước. Nay vì tình trạng hút

cát của một số người làm nước dâng ngập cả hai bên, không còn bãi cát nữa, dù là mùa nắng.

Giờ đã 70 năm, đứng bên bến đò, tôi không khỏi nhớ lại những ngày còn nhỏ, tuổi chín mười, cùng ba tôi đi qua những chuyến đò, nhớ những ngày tắm sông vào những buổi trưa hè nóng nực, nhớ bãi cát nay không còn nữa, nơi tôi nằm tắm nắng khi tắm sông, nơi tôi đứng câu những con cá bống sông về kho tiêu …

Đứng ở bến đò hôm nay, không thể quên được những câu hát của các bà mẹ ru con. Những bài hát ru có liên quan đến bến đò không thể không gây những tâm trạng, những nỗi buồn của sự mất mát, chia lìa, xa cách, chờ đợi, thất vọng ... :

Anh đến giàn hoa, hoa đến thì thì hoa phải nở
Anh đến bến đò, đò đầy thì đò phải sang sông
Đến duyên em, cha mẹ gả thì em phải lấy chồng
Đừng trách nhau chi lắm nữa, để cực lòng nhau thêm!

Đò đưa đến bến đò ngừng
Anh thương em thuở trước, sao nửa chừng lại thôi ?

Cây đa cũ, bến đò xưa
Người thương có nghĩa, nắng mưa ta vẫn chờ.

Mình về bên ấy hôm nay
Thăm nhà thăm cửa mấy ngày mình sang
Nói cho ta biết rõ ràng
Để ta ra bến đò ngang đón mình.

Phận gái bến nước mười hai
Gặp nơi trong đục, may ai nấy nhờ.

Cây đa bến cũ đò đưa
Người thương có nghĩa nắng mưa vẫn chờ.

Cây đa bến cũ, hình bóng con đò
Thiết tha còn nhớ câu hò
Cây đa bến cũ con đò năm xưa

NHỚ GUỒNG XE NƯỚC BÊN SÔNG

Nơi bến đò Bình Cang, phía bên bờ xã Diên Phú, ngày xa xưa có một guồng xe nước, nép mình bên lũy tre xanh, ngày đêm kẽo kẹt đưa nước vào những cánh đồng ở trên cao.

Nông dân, lợi dụng chỗ vũng sâu, nước chảy mạnh của con sông, chế tạo ra xe nước, tên chữ là thủy xa. Tên gọi thủy xa có từ lâu đời, từ thế kỷ thứ 16. Sách Khâm định Việt sử Thông giám cương mục có chép: “ Quí Hợi, năm thứ 6 (1503) (đời vua Lê Hiến Tông), tháng Giêng, mùa xuân. Hạn hán. Hạ sắc lệnh chuẩn bị xe lấy nước (thủy xa) để bảo vệ việc làm ruộng”. Mãi đến 200 năm sau, năm Kỷ Mão (1759), đời vua Lê Hiển Tông, thủy xa được nhắc lại : “… hạn hán. Ban bố cách thức chế xe nước, bắt dân y theo cách thức ấy chế tạo để lấy nước tưới vào ruộng “. Tuy sử không giải thích rõ ràng, cụ thể cách thức chế tạo xe nước như thế nào, nhưng từ xưa, người dân nước ta cũng đã biết cách sáng chế ra một công cụ dẫn nước sông, từ mặt nước ở dưới thấp của sông lên ruộng vườn trên cao ở bên bờ sông. Nguyên vật liệu chế tạo xe nước có sẵn: tre, gỗ, song mây, dầu rái…. Vành bánh xe có đường kính to, nhỏ tùy vào sự tính toán, sao cho đường kính bánh xe lớn hơn chiều cao của khoảng cách  từ mặt nước lên tới mặt ruông và bánh xe phải được ngập dưới nước mức độ cần thiết để tốc độ nước chảy và áp lực nước đủ sức cho bánh xe quay. Trục bánh xe là một khúc gỗ tròn, nan hoa là những cây tre lớn, cột từ trục lên vành bánh. Trên vành bánh, đặt những ống tre hay ống bương với độ nghiêng chừng 15 độ. Trong lòng vành bánh xe, gài vào những nan hoa là những tấm vỉ đan bằng tre có quết dầu rái lên cho tấm vỉ cứng chắc. Nước sông chảy, đẩy tấm vỉ ngâm dước nước, làm bánh xe tự động quay. Tấm vỉ này trồi lên mặt nước thì tấm vỉ sau nhận sức đẩy của nước, cứ thế mà làm cho bánh xe quay suốt ngày đêm, không tốn một sức lực nào của con người, không tốn một giọt xăng, một dòng điện. Khi bánh xe quay, những ống tre vục vào nước, lấy nước đưa lên cao, rót vào máng, rồi quay xuống, tiếp tục lấy nước đưa lên. Cứ thế, hết ống này đến ống khác, nước được đưa lên liên tục. Máng cũng đan bằng tre, trét lên dầu rái cho kín. Nước có thể dẫn đi vài cây số, vào ruộng, vào vườn, cho cây lá xanh tươi… Thực ra, từ lâu, dân tộc ít người ở các vùng núi đã làm ra những guồng xe nước đó bên những dòng suối chảy mạnh mà họ gọi là cọn. Xe nước ở đồng bằng do tư nhân tạo dựng và quản lý. Những cánh đồng ăn nước xe nước, đóng công lúa cho chủ xe nước và chủ xe nước đóng thuế cho nhà nước. Xe nước chỉ hoạt động trong mùa nắng, khi sông cạn cũng là lúc vụ mùa thu hoạch xong. Xe nước ngưng hoạt động vào mùa mưa lũ, chủ xe nước tháo gở đem về nhà, tu bổ guồng xe, chuẩn bị cho vụ mùa mới. Ngày nay, những bến đò không còn, cả những guồng xe nước cũng vắng bóng dọc theo sông, gây cho người qua lại trên sông những tiếc nhớ. Việc dẫn nước vào ruộng vườn ngày nay đã có những phương tiện hiện đại hơn, lượng nước dẫn vào ruộng vườn nhiều hơn, xa hơn, nhưng những hình ảnh của những guồng xe nước ven sông vẫn là hình ảnh của quê hương yêu dấu, khó phai mờ trong tâm trí con người luôn gắn bó với dòng sông, với quê hương.

NHỚ THÚ TẮM SÔNG

Nhà tôi cách biển 7-8 cây số, nên việc đi tắm biển thật hiếm. Thời con nhỏ, tôi chỉ biết có tắm sông. Tôi thường tắm tại bến đò Bình Cang. Bên hữu ngạn là bãi cát, tức là bên bồi của con sông. Mùa nắng, nước cạn, có những bãi cát trồi lên giữa sông như những đảo cát, và có thể bơi lội qua bên kia bờ sông dễ dàng. Nhưng đến mùa mưa lũ, dòng chảy xiết, nước đục ngầu tràn lên bãi cát, mấp mé bờ. Và hàng năm, năm nào nước sông cũng tràn bờ, gây lụt lội cho xóm làng. Có năm, hai ba trận lụt lớn nhỏ tràn đến.

Tắm sông, chỉ tắm vào mùa hè, trời nắng nóng, nước sông trôi lững lờ, mát rợi. Mùa mưa, nước sông dâng cao, chảy mạnh, nước sông đục, nên không ai tắm. Tắm sông, thường tắm giấc trưa, lúc nhiệt độ nóng lên cao mới mát, mới thú. Tắm sông, chẳng cần đồ tắm như tắm biển. Người lớn, đàn ông chỉ cần chiếc quần đùi, đàn bà bận cả áo quần xuống ngâm nước, còn trẻ con không áo quần gì cũng được. Nhớ những ngày ba tôi cởi trần chỉ mặc chiếc quần đùi, tôi thì mặc quần đùi áo thun, được ba tôi chở bằng xe đạp ra sông tắm. Trời nắng nóng, ngâm mình, vùng vẫy dưới làn nước mát lạnh, không gì sảng khoái hơn. Nhất là sau khi tắm nửa chừng, lên bãi cát, nằm dưới bóng mát của bụi tre, ngắm bầu trời trong xanh không một gợn mây, tận hưởng những luồng gió mát rượi bao phủ thân mình, tai nghe chim hót trong bụi tre ... thật tĩnh lặng, thật êm đềm ... Hay nhắm mắt lại, thư giãn, bên tiếng rì rào, kẽo kẹt của guồng xe nước bên kia sông, tiếng xào xạc của bụi tre ven sông … Đầu óc thật nhẹ nhàng, bao phiền muộn âu lo của cuộc sống theo những luồng gió mát rợi cuốn đi đâu hết…

Người lớn cấm trẻ con chúng tôi tắm gần những bụi tre, vì ở đây nước sâu, có chỗ có những vòng xoáy, có thể hút chúng tôi xuống vực thẳm. Người lớn cũng cấm chúng tôi tắm gần guồng xe nước, hay chơi nghịch, bám vào tấm vỉ phên trên guồng, ngồi đó cho guồng xe nước cuốn lên cao theo vòng quay của nó, lên tới đỉnh, rồi lại quay xuống … kiểu như chơi trò đu quay hiện nay. Ngồi trên guồng nước, thật dễ chóng mặt, có thể té vào guồng, chết người như chơi… Hình như hàng năm, đều có người chết đuối ở sông, mà phần lớn là trẻ con. Người lớn cho rằng do “ma gia” níu kéo xuống sông. Họ còn bảo, hàng năm phải có người chết để thay thế những vong hồn bị giam giữ dưới đáy sông có cơ hội giải thoát. Những câu chuyện như thế làm lũ trẻ con chúng tôi sợ hãi, không bao giờ dám đi tắm một mình, phải có người lớn đi theo. Tôi cũng đã có lần xem gia đình có người chết bày bàn thờ bên sông cúng bái. Đồ lễ cúng thường rải xuống sông sau khi cúng.

NHỚ THÚ CÂU CÁ SÔNG

Sông Cái có nhiều cá ngon, như cá chẽm, cá hồng, cá hanh, cá đối, cá bống, cua đinh … Đánh bắt cá trên sông, người ta thường dùng chài, lưới, vó hay câu. Hồi nhỏ tôi thường câu cá bống ở bến đò Bình Cang. Ba tôi tạo cho tôi một chiếc cần câu đặc biệt. Đầu sợi dây câu, ba tôi cột vài sợi cước và mỗi đầu sợi cước cột vào một lưỡi câu. Như thế cần câu cá bống của tôi có nhiều lưỡi câu để móc mồi trùn vào. Đứng trên bãi cát mấp mé bờ nước, tôi thả câu xuống nước, cá bống bu lại, tôi chỉ việc quất dây câu lên bờ. Có vài con cá bống ngâm mồi chưa kịp nuốt thì đã bị giật lên bờ, giẫy đành đạch, tôi chỉ việc lượm bỏ vào lon sữa bò. Có con, không kịp vào bờ, rớt xuống sông. Cá đựng hơn nửa lon là có thể kho tiêu ăn được một bữa cơm ngon lành. Đó là thú vui hồi nhỏ thêm thú tắm sông mà ngày nay các con cái tôi và cả tôi nữa, khó tìm lại được.

Cá bống câu về, có thể kho tiêu được một bữa ăn. Cá bống sông kho tiêu không những là món ăn khoái khẩu của tôi hồi nhỏ mà còn là nỗi vui thích khi

hưởng thành quả của mình sau một buổi dang nắng câu cá ở sông. Cá bống tôi câu chỉ nhỏ bằng ngón tay út, mình tròn, láng bóng, màu đất có những vân, vết màu đen. Đem cá câu được về nhà khoe với má tôi, bà rất vui với niềm vui của con. Với một nhúm cá tôi câu về, má tôi bỏ cá vào rổ tre, dùng tay chà xát cho vảy cá bong ra, rồi bà cắt đầu rút ruột, sau đó rửa thật sạch, để ráo. Bà bỏ cá vào chiếc nồi đất nhỏ, ướp cá với nước màu, một chút muối, một chút nước mắm rồi thêm đường, bột ngọt, hành củ thái nhỏ vào, bà để một thời gian cho cá thấm. Sau đó, bà đặt trả cá kho trên bếp than hồng với nhiệt độ vừa phải nhưng cũng làm cho cá và gia vị thấm đều. Bà cầm chiếc nồi đất lên xốc lên vài cái, bà bảo cho cá thấm, chín đều. Bà chỉ bỏ tiêu vào khi cá đang sôi, như thế tiêu mới dậy mùi thơm và thấm vào từng con cá. Khi thấy nước cạn, bà rưới độ chừng một muỗng canh mỡ heo và tóp mỡ vào nồi rồi nhanh tay nhấc ra khỏi bếp, lúc đó nồi cá vẫn sôi sùng sục và thơm lừng mùi tiêu hành, hấp dẫn vô cùng, làm dịch vị tôi tiết ra không ngừng và đói bụng nữa, Cơm nóng, ăn với cá bống kho tiêu, chấm rau lang luộc, thật đậm đà hương vị dân dã quê hương, mà mãi sau này, khi lớn lên, ba má tôi mất, tôi không còn hưởng được cái hương vị và cái thú đi câu đó nữa.

N.V.B

Bài cùng tác giả

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 7)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 6)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 5)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 4)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 3)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 2)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 1)

>> Hình ảnh rồng trong đời sống dân tộc Việt

>> Cá vượt vũ môn hóa rồng

>> Tết của một thời ấu thơ

>> Vè Các Lái ngang qua huyện Ninh Hòa

>> Miếu và miễu ở Khánh Hòa (kỳ 2)

>> Miếu và miễu ở Khánh Hoà (kỳ 1)

>> Dinh Trấn Biên Nha Trang dưới thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong có hay không ?

>> Việc giáo dục chữ Lễ trong gia đình và nhà trường

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ Bắc tới Nam (kỳ 2)

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ bắc tới nam (kỳ 1)

>> Thịt mèo

>> Chuyện mèo năm Mão qua câu ca tiếng nói người Việt

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 2)

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 1)

>> Những trường học tại Nha Trang xưa và nay

>> Chất biển trong con cá vịnh Nha Trang

>> Con cọp qua cái nhìn dân gian Việt Nam

>> Món cọp năm Dần

>> Về Diên Khánh ăn bánh ướt

>> Cọp Khánh Hòa

>> Thầy Đồ Cóc

>> Đất Khánh người Hòa

>> Món ngon Năm Sửu

>> Con trâu trong văn học các dân tộc VN

>> Món ngon năm chuột

>> Chuyện chuột năm Tý

>> Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

>> Vịt lội Ninh Hòa

*** Nghề làm bánh tráng ở Xóm Rượu Ninh Hòa:

>> Kỳ 1, kỳ 2, Kỳ 3

*** Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang,

     việc giỗ của người Việt:

>> Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, kỳ 11, kỳ 12