QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CÁNG TRƯỜNG

Cáng Trường là tên 1 xóm, nguyên trước kia là thôn Vĩnh An, rồi đổi thành Vĩnh Phú, sau năm 1975 thành Thôn 6 Ninh Hoà, hiện nay là tổ dân phố 11 và 13 Phường Ninh Hiệp, nằm dọc theo 2 bên đường Trần Quý Cáp từ Cầu  Dinh đến qua khỏi Bưu Điện Ninh Hoà.

Xóm Cáng Trường (Vĩnh Phú) nhìn từ sông Dinh : Bưu điện NH với trụ ăng ten, thấy một phần đường Trần Quý Cáp (ảnh chụp khi khởi công xây dựng cầu Dinh 2)

Nguyên từ năm 1653, vùng đất Kauthara của người Chiêm Thành sáp nhập vào lãnh thổ nước ta  thành tỉnh Khánh Hoà. Để tiện việc thông tin liên lạc, chính quyền triều Nguyễn cứ khoảng 30 km, đặt những trạm dịch. Theo địa bạ triều Nguyễn, bản dịch Nguyễn Đình Đầu, phần Toàn Thạnh Xã, có ghi Dịch trạm Hoà Mỹ, diện tích 1 mẫu. Toàn Thạnh xã đổi thành Mỹ Thạnh xã, sau đó thành thôn Mỹ Hiệp .      

Như vậy Trạm dịch ở Ninh Hoà được đặt  tại thôn Mỹ Hiệp, địa điểm giữa chợ Mới Ninh Hoà và UBND Phường Ninh Hiệp, nơi đó có chiếc cầu nhỏ gọi tên là cầu Trạm. Đến khi người Pháp sang nước ta, khu vực trạm dịch Hoà Mỹ này được trưng dụng làm đồn lính G I. Từ đó Cầu Trạm đổi tên thành Cầu Đồn. (Hiện nay Cầu Đồn không còn nữa, vì cầu đã lấp san bằng thành ra đường Sông Cạn). Triều đình Nguyễn mới chọn bãi đất trống ở hướng bắc Cầu Dinh thuộc huyện Quảng Phước, cách trạm dịch cũ chừng 700m về hướng bắc  để làm trạm dịch Hoà Mỹ (thuộc thôn Vĩnh Phú, địa điểm trước Bưu điện Ninh Hoà bây giờ). Người xưa kể lại nơi đó có 3 cây sung rất to lớn che bóng mát khắp cả vùng. Trạm Dịch chính là ngôi nhà lớn lợp ngói  âm dương 5 gian, cột bằng những gỗ mun đen bóng dùng để cho nha dịch làm việc, và phía tây là 2 dãy nhà lợp tranh, chỗ ở của phu dịch và  dân chúng trú tạm khi đến  nơi này.

Nhiệm vụ của Trạm Dịch là chuyển đưa công văn, vận chuyển cống vật, tô thuế về Triều Đình, cung cấp ngựa thuyền cho quan quân đi công vụ, trạm nghỉ chân cho quan quân đi công tác. Đối với dân chúng, muốn đi lại, vận chuyển hàng hóa thì phải nhờ người khiêng vác. Từ đó ở khu vực quanh Trạm Dịch có một số anh em chuyên đi khiêng cáng mướn. Vào đầu thế kỷ 20, vì chưa có xe cộ, phương tiện đi lại của nhân dân chủ yếu là đi bộ, giàu có đi kiệu, cáng, có người khiêng. Cáng là một chiếc võng treo tòng teng trên đòn dài khoảng  3,5 mét có hai người khiêng. Giữa đòn khiêng có tấm tre đan hình bầu dục, mà người khiêng tìm lá cây dắt lên che nắng người nằm trên võng. Người đi cáng  phần đông là phụ nữ, người già và trẻ em nằm dài trên võng cho người khiêng đến nơi nào đó theo yêu cầu. Giá cả khiêng thoả thuận tuỳ theo đoạn đường xa hay gần. Từ đó mọi người quen gọi  ở đây là xóm Cáng, còn từ Trường có người nói ở đây có trường học Pháp Việt, trên nền nhà cũ của phủ Bình Hoà (trường tiểu học duy nhất của Phủ dạy đến lớp nhất, cuối khoá thi tốt nghiệp  vào tận Nha Trang thi lấy bằng Primaire). Trường đây có ý nghĩa bến bãi như bến Trường Sáp (Lạp trường), ở Ninh Bình là nơi để người dân tộc Tây nguyên đến  giao bán sáp ong. Trường muối (Diêm trường) chỗ kho muối ở Ninh Hoà. Trùng hợp ngẫu nhiên Cáng Trường được nói lái là Cường Tráng, anh em ở đây phải là những người có sức khoẻ  mới đảm nhận việc khiêng cáng được.

Hàng ngày anh em tụ tập dưới gốc cây sung bóng mát trước trạm Dịch chơi cờ, đánh me, xóc dĩa để chờ có khách đến thuê thì đi. Theo người xưa kể : Đi cáng phải “có nghề”. Nghề  đây là võ nghệ, Ninh Hoà xưa thú dữ có tiếng (cọp Ninh Hoà), chẳng đâu xa, chỉ cần đi ra khoảng 2, 3 km đến đèo Bánh Ít Hà Thanh đã gặp cọp, cho nên phải đi thành đoàn, người khiêng cáng trên tay cầm gậy dài khoảng 1,5 mét để chống  khi đi lên đèo, đồng thời  khi gặp thú dữ, thì hạ cáng xuống, cây gậy là vũ khí trong tay để tự vệ cho nên anh em phải “có nghề” là thế ấy. Giai thoại xưa kể chuyện Đả Miêu (Đá Cọp, do cử tên nên gọi là Miêu) rằng: Có người đàn bà đau bụng đẻ, cần phải qua truông núi Ổ Gà, trời đã xẩm tối  lại mưa lất phất, chủ nhà lạy lục van xin mãi, nên  có hai anh gan dạ  đồng ý khiêng đi, chủ nhà gánh đồ chạy lúp xúp theo sau. Qua gần hết truông, nỗi lo sợ kia đã biến thành sự thật, có “Ông Ba Mươi” ngồi xây lưng laị chận giữa đường. Đi qua thì khó, quay lại cũng không êm, cho nên một anh nhẹ nhàng bỏ cáng xuống, lén lại gần, rồi bất ngờ tung một đòn đá song phi, hai chân đạp mạnh vào lưng cọp. Cọp lăn tròn mấy vòng xuống dốc rồi bỏ chạy . Hai anh quay lại khiêng võng cũng chạy thục mạng, sản phụ  chỉ biết níu chặt võng phó mặc cho số trời. Qua khỏi truông đèo thì người đàn bà kia không biết vì sợ hãi quá nên đẻ được đứa con không cần tới nhà bà Mụ nữa. Trưa hôm sau đông đảo anh em tới chỗ “đạp Ông Ba Mươi”, thấy có dấu Cọp quay lại cào xé nát  đất đai và mấy thân cây  quanh vùng  cho đỡ tức giận. Có người nói nhờ trời mưa hơi đất bốc lên cho nên Cọp không ngửi thấy mùi người, nên người đến gần mà không biết. Hai anh cáng sợ tới già không dám đi lại đường đó nữa. Tương truyền xóm Cáng Trường được ông Tư Phong, gốc người Bình Định đến truyền võ Hổ, học để phòng thân chớ không phô trương, cọp biết được sẽ đón đường thử tài.

Còn nhiều chuyện khác, các anh trai xóm Cáng Trường tha hồ thêu dệt  trên đường đi xa, ra bắc vô nam với bao gian nan khổ cực, đôi vai chai sần hết khiêng cáng, kiệu. Trong đó có chuyện tình lãng mạn, giữa anh trai nghèo đi cáng cùng người con gái giàu có đi kiệu  thương nhau, kết cuộc mối tình chẳng ra sao, nên có câu hát :

Giàu như em  lên xe cùng kiệu

Khó như chàng cứ liệu mà đi

Thương chàng em chẳng ngại gì

Chỉ sợ cha mẹ so bì với thế gian .

Vào khoảng trước sau năm 1920 thì bắt đầu có xe kéo nhập vào Việt Nam. Xe kéo ban đầu  chỉ là cái thùng gỗ gắn lên trục ngang, có đôi vành xe bằng sắt, không nệm ngồi, không mui che. Hành khách ngồi trong thùng xe, người phu nhấc đôi càng kéo chạy về phía trước. Có xe kéo rồi thì nghề đi cáng lại ế ẩm, nằm chờ mãi dưới gốc sung  nhưng ít có người kêu đi, anh em xóm Cáng Trường lại phải chuyển nghề sang nghề xe kéo. Ít lâu sau xe kéo được cải tiến dần: có mui che mát, chổ ngồi được bọc nệm, bánh sắt được bọc ngoài  bằng cao su êm ái hơn. Đến khoảng năm 1930, loại bánh cao su được thay thế bằng bánh bơm hơi, dưới thùng có lắp thêm mấy tấm nhíp thì xe kéo là phương tiện êm ả thích hợp việc đi lại của tầng lớp trung lưu, còn nhà giàu có, quan lại vẫn còn đi kiệu có lọng  hoặc đi ngựa. Chạy xe kéo khổ lắm, dùng người thay ngựa kéo xe, người đời gọi với tên khinh bạc: cu li, hay phu xe. cho nên hồi đó có câu hát:

Gánh cực mà đổ lên non

Còng lưng mà chạy cực còn chạy theo.

Bán mặt cho đất vì nghèo,

Bán lưng cho nắng bọt bèo phu xe.

Qua thời kỳ xe kéo là tới xe ngựa (thổ mộ). Xe ngựa cũng gần giống như xe kéo nhưng lớn hơn nhiều, chở được nhiều người và hàng hoá, hai bánh bơm to và được kéo bằng ngựa. Phương tiện xe ngựa chạy nhanh nhất thời đó cho nên được nhân dân dùng để vận chuyển hàng hoá như lúa gạo  ở các vùng đồng quê, muối ở Hòn Khói  về huyện. Nhất là hàng ngày chở cá lên Chợ Dinh và các chợ xổm khác trong huyện để bán. Đi xe ngựa rất dồng xóc nhưng người lái xe lúc nào cũng nói êm êm, tay quất roi lên mui xe kêu tách tách, ngựa nghe tiếng êm êm  càng chạy nhanh hơn, chỉ có hành khách sợ hãi ôm  thành xe chặt khừ.  Đời xe ngựa có câu hát:

Nửa đời vó ngựa nghênh ngang

Đến khi đầu bạc vẫn không cửa nhà.

Xe ngựa nhiều có tiếng là Ông Mạch Nha (nhà sau Nhà Thương cũ, nay là phòng chẫn trị đông y), Ba Kén (nhà dưới Bưu Điện), Tư Hợi (nhà ở Trạm Hòa Mỹ cũ). Sau này  Ba Kén, Tư Hợi, và Năm Đưa phát triển lên thành xe hơi (ô tô) chở khách. Xóm xích lô ba gát nằm ở trước Nhà Thương cũ.

Xung quanh xóm Cáng bắt đầu từ Cầu Dinh có nhiều cơ xưởng: hãng Rượu Nhiêu Bá kế đến là Lầu Ông Hãng rồi  kho muối, trước mặt kho muối có bãi đất trống rộng dùng để voi ở các vùng Tây Nguyên xuống bốc muối. Ông Hãng là chức quan để người Pháp quản lý rượu và muối, hai thứ rất cần thiết cho đồng bào Tây Nguyên và nhân dân nói chung. Xuống phía dưới chút nữa là trạm dịch Hoà Mỹ, sau này Trạm dịch bị cháy, chuyển sang bên kia đường phía trước mặt  xây nhà Giây Thép (Bưu Điện Ninh Hoà ngày hôm nay). Sở dĩ gọi “nhà Dây Thép” là nơi đây dùng ký hiệu Morse để chuyển tin qua đường giây thép (điện thoại). Kế bên Trạm Dịch là trường tiểu học Pháp Việt, xây trên nền cũ Phủ Bình Hoà. Trường có tên là Pháp Việt là vì trường của người Pháp  lập trên đất Việt Nam. Trường dạy 3 lớp : Lớp Đồng Âú, Lớp Dự Bị, Lớp Sơ đẳng tức là lớp 1, lớp 2, lớp 3 ngày nay. Năm cuối lớp 3  thi bằng Sơ Đẳng Yếu Lược. Đến năm 1930  thì mở thêm 3 lớp cuối bậc Tiểu học là  là lớp Nhì nhỏ (Moyen 1e), năm thứ 2 là lớp Nhì Lớn (Moyen 2e) và lớp nhất, giống như lớp 4 chia làm 2 năm và lớp 5 ngày hôm nay. Cuối năm thi tốt nghiệp lấy bằng Primaire (Tiểu học).

Bãi đất trống của Trạm Dịch Hoà Mỹ dời qua bên kia đường làm trạm Bưu điện ngày hôm nay, người ta xây lên trường học dạy chữ Hán, trường Bình Hoà, nhân dân quen gọi là trường Tàu. Sau năm 1975, Trường Pháp Việt được làm nhà Truyền Thống, còn trường Bình Hoà  thành trường tiểu học số 1 Ninh Hoà

Vào khoảng các năm 1940, xe ô tô nhập vào Việt Nam, mọi người ở đây quen gọi là xe Đò. Xe lúc nào cũng cũ kỹ, luôn chạy quá tải, nhưng không đi  không được vì có phương tiện nào khác hơn ngoài loại xe này. Song  song với loại xe ô tô, có xe ba bánh, mà người ta quen gọi là xe Lam, tên đầy đủ : Lambretta. Xe này có một bánh trước và hai bánh sau chở khoảng 12 người, cần lái giống như xe máy ngày hôm nay, dùng  chạy đường gần. Để tăng tải trọng, người ta lắp thêm hai dãy ghế gỗ giữa thùng xe chở thêm khoảng 8 người nữa, bên ngoài có những móc sắt để móc gióng thúng chở hàng hoá  trên cả mui xe. Bước vào trong xe thật chật như nêm, nhưng tài xế bảo không sao, chạy dòng xóc một lát sẽ yên hết !

Để có chỗ bến xe đậu  đưa rước khách, Chính quyền thời đó cho giải toả khu gò mả bên cạnh  Bưu Điện hiện nay (thuộc tổ dân phố 11) làm bến  xe Ninh Hoà. Kể từ có bến xe  anh em lao động ở đây có thêm nghề mới, bốc vác gánh mướn mà bà con quen gọi là Bang Bù. Thăm hỏi những người lớn tuổi  nhưng không ai biết tại sao gọi tên là Bang Bù. Hàng ngày  có nhiều anh em tụ tập nghỉ mát chỗ Cây sung, chờ xe tới thì lao ra hành nghề bốc vác.  Khoảng 7 giờ sáng những chiếc xe Lam, nổ máy lạch bạch  chở cá từ biển Hòn Khói  lên,  những anh gánh muớn túc trực sẵn, đưa vai vô gánh một hơi chạy lên chợ Dinh, cách đó  khoảng 300 mét, “Chị Rỗi” cặp nách  chiếc giỏ xách lòi cán  dao to,  lúp xúp chạy theo vừa la “ép, ép” để cho mọi người tránh dạt vô lề, gánh cá lên cho sớm bán kịp phiên chợ, như xe cấp cứu hú còi báo động  giành đường ưu tiên.

Phương tiện giao thông cá nhân xe kéo đã đến lúc chấm dứt vì xe đạp (lúc đó gọi là xe máy, xe xích lô, ba gát ra đời.  Người giàu có mới  sắm nổi được chiếc xe đạp là sang lắm rồi.. Xe đạp không có máy nổ nhưng người chủ xe thời đó “nổ” ghê lắm, người dân nghèo nghe kể tên các phụ tùng xe đạp bằng tiếng Pháp như :  ngồi ở porte pargares (chỗ ngồi sau), hai chân đặt lên  pedaler (bàn đạp), có cour de chêine (bọc sên) bảo vệ…đã lác mắt, thán phục. Ai muốn thuê xe đạp thì có Sáu Cẩu xóm Cáng, giá 5 xu một ngày.

Một thời gian sau đó, hãng rượu Nhiêu Bá đóng cửa, bán cho ông  Phạm Ngô (Tổng Chè), xây lên rạp hát Vĩnh Hiệp, Từ năm 1945, một nửa hãng rượu Nhiêu Bá và lầu ông Hãng xây thành nhà Lao Ninh Hoà, mà nhân dân quen gọi là nhà lao ông Cọt. Nơi đây giam cầm các chiến sĩ Cách Mạng cũng như người dân vô tội bị bắt sau những đợt càn quét của Pháp sau ngày tái chiếm lại Ninh Hoà. Tại sao lại gọi là ông Cọt hay Một Cọt ? Tại vì ông là xếp nhà lao, với cấp bậc Thiếu uý (Apirant) hay còn gọi quan Một, tên đầy đủ của lão  là Marcovick, gốc người Hunggary trong quân đội Lê Dương của Pháp. Lão có vợ người Việt Nam ở Ninh Hoà. Còn nhớ những năm đó tại xóm Cáng Trường có nhà lao Ông Một Cọt là địa ngục trần gian. Ở xa chỉ nhìn thấy dáng lão Cọt, người thấp đậm, tuổi độ năm mươi, thường mặc bộ quần áo “sọt” kiểu nhà binh của Pháp, tay luôn vung vẩy chiếc gậy, chân bước ngắn mà hấp tấp, dáng đi loi choi như cóc cọt nhảy, cho nên bà con mới gọi cái tên không được đẹp; “lão Cọt”. Thấy lão thì tránh xa ra, nếu không cũng bị bợp tai đá đít. Sở dĩ tàn ác với tù nhân là  lão cũng có thời gian bị người Nhật bắt làm tù binh, và được quân Anh giải thoát khi Pháp xâm chiếm Nam Bộ 23/9/1945. Lão trả thù không được người Nhật, quay sang hành hạ người Việt Nam (giận cá chém thớt).

Sau đây câu hát bài chòi:  Đánh Nhà Lao Một Cọt do bà Nguyễn Thị May, ở thôn Tân Tứ, Xã Ninh Thượng, Thị xã Ninh Hòa cung cấp:

Ninh Hòa ai lại có quên

Nhà lao Một Cọt là nơi hại người

Ở đây cửa ngục thứ mười

Hành hình ta đến nát nhừ thịt xương

Nhà lao Một Cọt tồn tại đến tháng 7/1954, đơn vị lính canh gát ở đây bị quân ta tiêu diệt, nhưng không tìm thấy lão Cọt, lão được thuyên chuyển nơi khác trước đó mấy hôm .

Sau năm 1954, nhà Lao Ông Cọt được phá bỏ, xây nhà thông tin quận Ninh Hoà, giữa nhà hát ông Tổng Chè và Chi Thông tin, mở đoạn đường thẳng ra  trụ sở thôn 6 cũ và đường lên Cầu Sắt, đất nhà kho chứa muối được xây nhà thương Ninh Hoà.

Sau năm 1975, nhà hát Vĩnh Hiệp được bán đấu giá  nhà dân cư. Khu vực chi Thông Tin  xây thành Công Ty Xổ Số, miếng đất trống (bãi voi dừng) xây thành Đài Truyền Thanh  huyện Ninh Hoà ngày hôm nay.

Theo tài liệu năm 1970, thôn Vĩnh Phú có diện tích 145,42 ha, dân số 2172 người.

Theo tài liệu điều tra dân số năm 2006, tổ dân phố 11 có 1.056 người, tổ dân phố 13 có 971 người. Như vậy xóm Cáng Trường gồm 2 tổ 11 và 13 là 2.027 người. Cuộc đời của dân Cáng Trường hôm nay đã thay đổi, không còn là dân chuyên vận chuyển, đa số đã chuyển thành người buôn bán kinh doanh. Mỗi lần nhắc đên xóm Cáng Trường xưa không khỏi liên tưởng đến những chàng trai cường tráng, một thời với đòn khiêng trên vai, ngang dọc khắp nơi, hiểm nguy gian khổ không sờn./.

Đỗ  Song