QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

Bài cùng tác giả

- Rượu Hồng Đào

- Lương Châu Từ và nỗi buồn chiến tranh

- Gió đã chuyển mùa

- Từ Đạt và Chu Nguyên Chương

- Cấu trúc hệ thống thờ tự trong đình làng Ninh Hòa ...

- Bến Phong Kiều và tiếng chuông Hàn San

- Cấu trúc thờ tự tại đền Trần Hưng Đạo

Bài liên quan

- Những tiếng hát yêu "Ơi con sông Dinh" - Dương Tấn Long

- Mùa xuân sang thênh thang phố vui ... - Dương Tấn Long

- Những nhạc sĩ lớn lên từ một dòng sông - Xuân Thành

- Nhớ Quê - Tấn Sơn

- Ơi Con Sông Dinh - Tấn Sơn

- Hồn Nhiên Như Lá - Hạ Vy

- Mưa Xanh - Hạ Vy

- Phố Huyện Chiều Em Nhớ - Lâm Thúy Vân

- Đêm Qua Đò Nhớ Trương Chi - Đông Quân

 

 

 

 

 

MÙA XUÂN BÀN CHUYỆN

XIN XĂM ĐỨC THÁNH TRẦN

Hình Phước Liên

Xin xăm không phải là một tập tục riêng có của Khánh Hòa mà là một hoạt động mà tính tâm linh khá phổ biến ở nước ta. Vào những ngày đầu năm, lễ tết hoặc những lúc bản thân, gia đình có điều rắc rối hay khi do dự trước một quyết định nào đó thì nhiều người ở Khánh Hòa lại tìm đến các đền, chùa xin lấy một quẻ xăm để mong đoán được điều hung kiết.

Ở Khánh Hòa có nhiều nơi để xim xăm, nổi tiếng nhất là xăm Bà Thiên Y Thánh Mẫu tại Tháp Bà – Nha Trang, Am Chúa và các nơi thờ Mẫu; xăm Quan Thánh Đế Quân tại các chùa Ông của người Hoa, người Việt; xăm Thiên Hậu Thánh Mẫu tại các chùa Bà của người Hoa và xăm Đức Thánh Trần tại Đền Trần Hưng Đạo – Nha Trang. Nhân mùa xuân Quý Tỵ sắp đến, chúng tôi mạo muội viết đôi điều về “Tục xin xăm Đức Thánh Trần ở Khánh Hòa”  theo sự hiểu của mình để mua vui cùng bạn đọc.

Không như các hoạt động lễ bái dân gian khác, nghi thức xin xăm được diễn ra hết sức giản đơn. Dụng cụ thực hành nghi thức xin xăm gồm: Ống xăm, thẻ xăm, quẻ xăm… Ống xăm là một ống tre già được sơn son thếp vàng và dài chừng 2 tấc dùng để đựng các thẻ xăm. Thẻ xăm là miếng thẻ bài làm bằng nan tre già vót mỏng, dài hơn 2 tấc và rộng chừng 2 phân, trên thẻ có ghi số xăm với quẻ xăm từng người xin được. Quẻ xăm là nội dung ứng với lời mách bảo của đấng bề trên về điều mà người xin xăm muốn biết.

Ống xăm với những quẻ xăm

Để thực hành nghi thức, người xin xăm chỉ cần đứng trước bàn thờ (có thể có lễ vật hoặc không) và khấn vái để xin đấng bề trên mách bảo những điều mình muốn cầu xin. Sau đó, quỳ xuống nâng ống xăm lên ngang mày tiếp tục khấn vái và xốc đều ống xăm cho đến khi có một thẻ xăm rơi ra ngoài là hoàn thành xong việc xin xăm. Sau đó, người xin chỉ cần đọc những lời ứng trong quẻ xăm mà tự luận ra những điều hung cát cho mình. Như vậy, thoạt kỳ thủy xin xăm trong tâm thức của cộng đồng người Việt ở Khánh Hòa là một hoạt động tâm linh nhằm nối liền quá khứ hiển linh với thực tại đời thường; là nhu cầu giải bày tâm sự của mình cho đấng bề trên thấu hiểu và chia sẻ.

Theo các bậc trí giả ở lĩnh vực này thì những bài thơ gọi là Xăm chữ hoặc Tổng thi mang tính sấm truyền trong các quẻ xăm đều là lời giáng bút của các Thánh có từ hàng trăm năm trước, được chúng đệ tử ghi lại và lưu truyền cho đến ngày nay. Lúc đầu, mỗi quẻ xăm chỉ có một bài Tổng thi để giúp cho người cầu xin tự hiểu theo nguyên tắc “Hữu cảm tư thông, hữu cầu tắc ứng”. Thế nhưng, nội hàm những bài thơ ấy quá sức sâu xa và để hiểu ra thật không phải là chuyện dễ. Và để hiểu được những lời Tổng thi tất phải nhờ người có hiểu biết sâu rộng giải thích, dần dần hình thành nên bộ phận trung gian làm công việc diễn giải lời Thánh dạy - gọi là thầy bàn. Khảo sát lời bàn của các quẻ xăm ta dễ dàng nhận thấy hầu hết các lời bàn ấy đều được diễn giải theo chủ quan của người thầy bàn và chịu ảnh hưởng đậm nét khoa lý số và luôn có lời khuyên người ta phải biết làm lành lánh dữ, xem đó là phương pháp giải hạn, trừ tai hữu hiệu nhất. Qua thời gian, những lời bàn ấy được đúc kết lại thành văn bản và in chung cùng bài Tổng thi thành quẻ xăm như hiện nay.

* * *

So sánh với các bộ xăm hiện có tại Khánh Hòa như xăm Thiên Y thánh Mẫu, xăm Thiên Hậu Thánh Mẫu, xăm Quan Thánh Đế Quân thì xăm Đức Thánh Trần Hưng Đạo ít phổ biến hơn và chỉ được thực hiện tại đền Trần Hưng Đạo – Nha Trang. Song bộ xăm Đức Thánh Trần lại là bộ xăm được biên soạn kỹ lưỡng nhất.

Nếu như các bộ xăm khác chỉ có bài Tổng thi (Xăm chữ), bài dịch nghĩa xăm và lời bàn chung thì xăm Đức Thánh Trần lại được soạn chi tiết hơn nhiều. Cấu trúc nội dung quẻ xăm Đức Thánh Trần gồm:

- Triệu: Là đầu đề của quẻ xăm. Mỗi đầu đề là một thành ngữ cổ và qua đó khái quát toàn bộ ý nghĩa của quẻ xăm.

- Tổng thi: Được viết bằng chữ Hán ở thể thơ thất tuyệt; là nội dung chủ yếu của quẻ xăm. Bài tổng thi được viết rất hàm súc với nhiều điển tích, mỗi điển tích là một câu chuyện mà qua đó người xin xăm có thể tự suy ngẫm về điều mình muốn biết và tự rút ra những bài học, cách ứng sử cho riêng mình. Tổng thi chính là lời Thánh dạy ứng với sự cầu xin của từng đệ tử.

- Bản dịch Tổng thi: Cũng được viết ở thể thơ thất tuyệt và dịch rất sát nghĩa với bài tổng thi.

- Chú giải: Giải thích những điều mách bảo của quẻ xăm ứng với các mục: 1) Tự thân gia trạch (Về nhà cửa, gia đạo của bản thân). 2) Cầu quan, cầu tài (Về con đường quan chức, tài lộc). 3) Hôn nhân (Về đường tình duyên). 4) Lục giáp (Về đường con cái). 5) Phong thủy (Về chuyện xây nhà, xây mộ). 6) Quan tụng (Về việc kiện tụng). 7) Tật bệnh (Về sức khỏe, bệnh tật). 8) Hành nhân thất vật (Về người đi, người về; về những vật mất mát). 9) Lục súc điền tầm (Về chăn nuôi, canh tác).

09 mục trong chú giải là 09 vấn đề người xin xăm muốn biết, có khi là tất cả và cũng có thể chỉ một vài vấn đề.

- Tổng đoán thời vận: Tức lời bàn của quẻ xăm.

Về số lượng quẻ và cách phân loại quẻ xăm Đức Thánh Trần cũng có phần khác so với các bộ xăm khác. Xin làm một số so sánh nhỏ sau:

 

          Xăm Thiên Y Thánh Mẫu

         Xăm Đức Thánh Trần

Tổng số quẻ: 103.

Phân loại: 3 loại. Gồm:

1. Thượng thượng: 36 quẻ. Trong đó    có 3 quẻ số 101 (Đính khôi), 102 (Á  khôi),

103 (Đô khôi) là 3 quẻ đặc biệt.

2.Trung bình: 31 quẻ.

3. Hạ hạ: 36 quẻ.

Tổng số quẻ: 50.

Phân loại: 7 loại. Gồm:

1. Thượng quái: 01 quẻ.

2. Thượng thượng: 06 quẻ.

3. Đại cát: 13 quẻ.

4. Trung bình: 14 quẻ.

5. Trung hạ: 01 quẻ.

6. Hạ hạ: 14 quẻ.

7. Hạ quái: 01 quẻ.

Xem bảng so sánh trên, ta thấy số quẻ trong bộ xăm Đức Thánh Trần có số lượng ít và phân loại chi tiết hơn các bộ xăm khác. (Được biết bộ xăm Thiên Hậu Thánh Mẫu và Quan Thánh Đế Quân đều có 100 quẻ và phân làm 3 loại như bộ xăm Thiên Y Thánh Mẫu).

Điều đặc biệt và lý thú là ở phần “Triệu” của các quẻ xăm trong bộ xăm Đức Thánh Trần. Bởi vì, mỗi đầu đề của quẻ xăm hoặc là một câu thành ngữ cổ hoặc là một điển cố gắn liền với mẫu chuyện quen thuộc trong các bộ truyện Tam Quốc diễn nghĩa hay Đông Chu liệt quốc. Sau đó, bài tổng thi lại làm rõ thêm ý nghĩa của tên xăm. Vì vậy, xăm Đức Thánh Trần xem ra minh bạch hơn các bộ xăm khác. Tưởng cũng nên giới thiệu đầu đề, ý nghĩa và phân loại của 50 quẻ xăm trên để chúng ta tham khảo:

 

STT

      Tên quẻ (Triệu)

               Ý nghĩa

Phân loại quẻ

01

Hòa thân đương xuân

Mùa xuân thần thái ôn hòa

Đại cát

02

Tích thụ sinh hoa

Cây xưa nay lại trổ hoa

Đại cát

03

Vong dương bổ lao

Mất dê mới lo rào chuồng.

Trung bình

04

Hàn thiền ẩm lộ

Ve lạnh uống sương

Hạ hạ

05

Thu giang vọng nguyệt

Sông thu vọng nguyệt

Trung bình

06

Thừa phong phá lãng

Mượn gió lướt sóng

Thượng thượng

07

Bạt thập đắc ngũ

Làm mười được năm

Đại cát

08

Ngạ hổ phùng dương

Hổ đói gặp dê

Hạ hạ

09

Khô mộc vô chi

Cây khô trụi cành

Hạ hạ

10

Thục đạo kỳ khu

Đường Thục gập ghềnh, quanh co.

Hạ hạ

11

Tháo đao chế cẩm

Cắt gấm may áo

Thượng quái

12

Họa xà thiêm túc

Vẽ rắn thêm chân

Hạ hạ

13

Tích cốc phòng cơ

Trữ thóc phòng đói

Đại cát

14

Lạo tận đàm thanh

Lọc hết, nước đầm lại xanh

Trung bình

15

Tế vũ phi hoa

Mưa nhẹ vẫn làm rụng hoa

Hạ hạ

16

Thừa dư tế nhân

Cưỡi xe giúp người

Thượng thượng

17

Trường hạ vi kỳ

Chơi cờ suốt ngày hè

Trung bình

18

Tái Ông thất mã

Tái Ông mất ngựa

Trung bình

19

Chỉ ngưu vi mã

Chỉ trâu rằng ngựa

Trung bình

20

Tàng châu đãi giá

Giữ ngọc đợi giá

Thượng thượng

21

Thiên tương cát nhân

Trời giúp người lành

Đại cát

22

Bạch bích vi hà

Ngọc trắng có vết

Trung bình

23

Ma chứ thành kim

Mài sắt nên kim

Trung bình

24

Tịch dương tại sơn

Trời chiều gác núi

Hạ hạ

25

Du ngư hí hà

Cá giỡn hồ sen

Trung bình

26

Long hổ đấu kỳ

Rồng cọp đua tài

Thượng thượng

27

Lậu tận chung minh

Chuông báo canh tàn

Hạ hạ

28

Lăng cốc biến thiên

Gò hang biến đối

Hạ hạ

29

Đăng hoa báo hỹ

Đèn hoa báo tin vui

Đại cát

30

Ôn cố tri tân

Ôn cũ biết mới

Trung bình

31

Phong vũ quy châu

Thuyền về trong mưa gió

Hạ hạ

32

Nhất lộ phúc tinh

Một đường sao phúc

Đại cát

33

Ngoan kim dược dã

Vàng chảy ra ngoài lò đúc

Trung bình

34

Lão bạng sinh châu

Trai già sinh ngọc

Đại cát

35

Khô trúc sinh duẩn

Tre khô mọc măng

Đại cát

36

Long đông tùng bách

Tùng bách xanh tốt vào mùa đông

Thượng thượng

37

Lưu thủy lạc hoa

Nước chảy hoa trôi

Hạ hạ

38

Đông sơn điệu đàn

Non Đông dạo đàn

Trung bình

39

Khử thảo trừ căn

Nhổ cổ đào rễ

Hạ hạ

40

Khí kê tầm vụ

Bỏ gà tìm cò

Hạ quái

41

Xuất cốc thiên kiều

Bỏ hang dời đến chỗ có cây cao

Đại cát

42

Đắc thố vong đề

Được thỏ quên thuổng

Hạ hạ

43

Khúc đột tỷ tân

Rời ống khói xa củi

Đại cát

44

Cận duyệt viễn lai

Gần đẹp lòng, xa tìm lại

Đại cát

45

Cô nhạn xuất đàn

Nhạn lẻ lìa đàn

Trung hạ

46

Đăng cao tự ty

Lên cao phải khởi đầu từ thấp

Trung bình

47

Đắc Lũng vọng Thục

Được đất Lũng lại mong đất Thục

Thượng thượng

48

Trụy phấn phiêu hương

Rã phấn bay hương

Hạ hạ

49

Tha hương ngộ cố

Đất khách gặp cố nhân

Đại cát

50

Tá trợ họa trù

Mượn đũa bày mưu

Trung bình

 

Qua bảng tổng hợp trên, phần nào chúng ta có thể hình dung được tổng quan về bộ xăm Đức Thánh Trần Hưng Đạo. Ý nghĩa nội dung và sự phân loại tốt xấu trong mỗi quẻ xăm đã đành là vậy, song hầu như qua lời bàn thì tất cả đều mang tính tương đối – nhất là các quẻ xăm loại trung bình và loại tốt, ý chừng như muốn ngăn ngừa sự ỷ lại của người xin được quẻ xăm tốt và động viên những người xin phải quẻ xăm xấu hày bình tâm, kiên trì vượt qua khổ nạn. Ở đây tư tưởng “Đức năng thắng số” tiềm ẩn và chi phối tất cả và điều ấy cũng nhất quán với tinh thần chủ đạo của lời dạy Trần Thánh Đại Vương Chính Kinh Văn – một bộ kinh nhật tụng của chúng đệ tử Đức Thánh Trần.

Viết đến đây lòng bỗng băn khoăn, vì sao trong bộ xăm Đức Thánh Trần lại chọn quẻ “Tháo đao chế cẩm” – cầm dao cắt tấm vải gấm để may áo – là quẻ Thượng quái, tức quẻ tốt nhất trong 50 quẻ xăm Đức Thánh Trần và quẻ “Khí kê tầm vụ” - bỏ gà tìm cò -  là quẻ Hạ quái, tức quẻ xấu nhất 50 quẻ xăm Đức Thánh Trần. Lật lại bộ xăm và thấy lời bàn như sau:

Tháo đao chế cẩm: “…là quẻ rất tốt. Tuy nhiên, phải chính tay mình may cắt thì áo mới thành; như thế là mình đã tạo đồ trang sức cho mình. Về mưu vọng thì nửa phải trong vào mình, nửa trông vào bạn tri âm, hai đàng hợp một mới mong hoàn toàn…”

Khí kê tầm vụ: “…Quẻ này ứng với Triệu ‘Bỏ gà tìm cò’, là chỉ sự ‘bỏ mồi bắt bóng’, bỏ cái nắm trong tay đi tìm cái bông lông ở ngoài trời, chỉ là mơ tưởng hảo huyền không đi đến đâu.”

Lời giải thích về 2 quẻ tốt và xấu nhất của bộ xăm Đức Thánh Trần, lẽ nào không để cho ta suy nghĩ về triết lý nhân sinh mà người xưa gửi gắm?

Nha Trang, cuối đông 2012- Nhâm thìn

HPL