QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

C H U Y Ệ N  Đ Ấ T - N Ư Ớ C

Nguyễn Cường

 

Thủy điện Sơn La

 

Đa số độc giả chắc sẽ không khỏi nghĩ rằng nội dung của bài viết này sẽ bàn về chuyện gì lớn lắm đây (!?) Không, xin đừng đoán nhầm! Ngược lại, bài này viết về một chuyện rất nhỏ, nhỏ như bất cứ cái ao cá nào trong các làng xã ở VN. Nhưng đây mới thật sự là chuyện " Đất- Nước" theo đúng nghĩa của nó. 

Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang, bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu!

Nhớ lại câu ca dao học thời Tiểu học cho đến cả mấy chục năm sau, người viết vẫn còn cho là ai đó đã nói quá đáng, phóng đại sự việc và không thực tế! Nhưng bây giờ nhìn lại thấy các bảng giá đất bán cao ngất ngưỡng, trị giá hơn cả 1, 2 lượng vàng cho một mét vuông, mà cảm thấy "hổ thẹn" với tầm nhìn xa, sự dũng cảm và khôn khéo của tiền nhân, trong sự nghiệp “Gây Dựng và Gìn Giữ Đất-Nước”!

Không những đất liền đã vậy, ngay cả đất đá ở các hải đảo xa xôi cách đất liền cả hàng trăm cây số cũng có giá trị không nhỏ! Nếu không, tại sao có những cường quốc chịu tốn kém hàng tỷ đôla bằng cả triệu lượng vàng cho hải quân, để mong được chiếm đoạt và sở hữu một vùng đá đảo mà không ai muốn ở, nơi chỉ có "Chim ho, Cò gáy" (dĩ nhiên là có thêm mỏ dầu khí và một chút kiêu hãnh của đế quốc lớn!?)

Đất dù cho có quý hơn vàng thì giữ được cũng còn dễ hơn là giữ được nước! Lý do dễ hiểu là vì nước không ở yên một chỗ, mà còn có thể bốc hơi, thấm xuống đất hay cuối cùng cũng sẽ chảy ra biển. Bởi vậy nếu chỉ nói đến đất mà không nói về nước là thiếu công bằng! Chính cái tinh thần khoa học và kỹ thuật của phương Tây đã làm tăng giá trị của nước lên gấp trăm lần, có thể sánh vai ngang hàng với đất! Chẳng phải là ngẫu nhiên mà phương Tây đã dùng phương tiện nước là Hàng Hải để làm giàu và dùng tàu chiến trên nước để chinh phục cả thế giới (!?) Chưa nói đến những kỹ thuật về cách dùng nước như Đập thủy điện, Nhà máy thanh lọc nước,vv.

Những ông thầy phong thủy cũng có cái nhìn giống như vậy: Nơi nào có nước là có của cải tiền bạc. Tiên vô như nước, vv. là phương châm hay câu thần chú của mấy thầy Phong Thủy. Bỡi vậy hâu như tất cả các sòng bài lớn trên thế giới đều được các thầy phong thủy cố vấn cho xây ít nhât là một cái hồ phun nước ở ngay trước cửa ra vào. Dân Âu Mỹ không cần biết phong thủy là gì, nhưng nhà bán mà nằm bên bờ sông hay gân biển đều cao giá ngất ngưởng. Nhà nào giàu đều phải có hồ bơi, vv.

Nước Việt được tiền nhân dạy bảo cho là rừng vàng bể bạc, là quá đúng!. Việt nam ở đâu cũng có nước là giàu to, sao không biến nước thành tiền, biến đại dương thành một kho tàng quốc gia vô cùng tận, mà lại để cho những cơn lũ lụt hành hạ khổ sở gây ra chết chóc tai ương hàng năm (!?) Thật là vô lý. 

Số là trong một phóng sự nhỏ trên báo mạng Lao động (Kỳ diu 50.000 đp nước trên đt Thái-http://laodong.com.vn/Phong-su/Ky-dieu-50000-dap-nuoc-tren-dat-Thai/94145.bld) tác giả bài viết có nói về sáng kiến của vị Vua khả kính (Bhumibol Adulyade) Thái Lan "giữ được Nước" nhờ biết cách làm theo lòng dân, huy động nhân dân ở các miền thượng du, xây dựng được hơn 50 ngàn (50000) đập giữ nước lớn nhỏ, chỉ trong vòng 10 năm (2003-2012). Kết quả cho ra tốt đẹp không ngờ. Không những tránh được nạn lũ ống lũ quét làm chết người và bảo vệ được nạn sạt lở,  mất rừng đầu nguồn hay mất đất mất nước, mà còn tránh được hạn hán và giúp cho dân cư trong vùng có nước sinh hoạt hay canh tác. Thật là một công cho ra ba bốn cái lợi.

Đập sông Dinh - Ninh Hòa (xóm Rượu - Vĩnh Phú)

Điều đáng nói ở đây chính là những cái "Đập giữ nước" được xây lên không phải bằng xi măng cốt sắt hoành tráng cao vài chục mét, mà chỉ thô sơ làm bằng những hàng cọc gỗ chắn ngang dòng chảy, chiều cao thay đổi khoảng hơn nữa thước, bề ngang chừng vài mét! Đập này cách đập kế tiếp chừng vài chục hay vài trăm mét. Bởi vậy nên khối lượng nước được giữ lại sau những cái đập đó không lớn hơn cái ao làng là vậy! Quan trọng hơn hết là tuy người dân miền núi ít học, nhưng ai cũng có khả năng xây đập để giữ nước, nếu có được các chuyên gia chỉ dẫn sơ qua, với chính công sức của mình. Uớc tính trong vòng vài cây số vuông trên miền núi cao sẽ có chừng khoảng vài chục hay cả trăm đập hay ao hồ chứa nước.

Những con số tính toán ước lượng sau đây còn khẳng định cho thấy lợi hại của những cái đập thô sơ này:

* Nhờ giữ lại được một khối lượng lớn của nước mưa trên núi cao, nên có thể giảm hay tránh được hơn 50% lũ ống lũ quét gây ra thiệt hại nhân mạng và gia súc trong những khi mưa bão lớn. Khối lượng nước lũ giảm thì độ sâu và lực nước cuốn đi cũng giảm nhiều nên ít xảy ra nguy hiểm hơn cho người dân và gia súc hay tài sản nói chung, nếu lỡ gặp phải mùa mưa lũ lớn.  Đa số các ao hồ cũng còn là nguồn dự trữ, cung cấp thức ăn như cá cua hay ếch nhái cho người dân địa phương.    

* Trung bình nếu một cái đập như ao nhà có khối lượng nước nhỏ chừng 50-100 mét khối, tương đương với khoảng 100-300 số cây rừng giữ nước ở đầu nguồn, nếu không bị khai thác chặt phá đi. Như vậy thử tính 50000 đập nước nhỏ ở Thái lan cũng tương đương với 10 triệu cây rừng giữ nước, hay một diện tích rừng phòng hộ chừng 10000-20000 hécta đất rừng.

* Giảm nhẹ được những cơn lũ lụt ở miền hạ du hay đồng bằng, và chỉ cần giả sử 30% khối lượng nước ngọt nói trên được giữ lại cho mùa hè năm sau, cũng cung cấp được lượng nước tưới cho ít nhất là 1500-2000 hécta đất canh tác hay trồng trọt, kể cả nước để uống và sinh hoạt hàng ngày cho cư dân  miền núi. Nghệ thuật hơn, nếu chính quyền hay người dân bỏ thêm chút công của để đổ bê tông và đá tảng, làm thành những thác nước nhân tạo vừa làm đẹp cho thiên nhiên mà lại có thể dùng để chiêu khách du lịch đến thăm, nâng cao mức sống kinh tế cho người dân địa phương.

* Tùy theo địa hình và môi trường, một số vị trí có thể được quy hoạch và xây dựng thành hồ chứa nước (reservoir) lớn hơn, dùng để chạy máy thủy điện cỡ nhỏ cho vài ngàn hộ dân, hay cung cấp nước uống và sinh hoạt cho hàng chục ngàn cư dân thành thị dưới đồng bằng nếu có hệ thống thanh lọc nước. Hiện nay một số cư dân phải đào giếng và khai thác quá nhiều các mạch nước ngầm, nên thường bị ô nhiễm do các kim loại và chất thải chứa trong lòng đất.

* VN nằm sát bờ biển nên có vũ lương rất cao do tiếp xúc nhiều và trực diện với hầu hết các trận bão biển (Hurricane) hàng năm. Hiện nay ở VN đang và sẽ xây dưng hàng chục hay cả trăm đập thủy điện lớn nhỏ. Nếu kết hợp với thêm chừng vài ngàn cái ao nhỏ để giữ nước lại bớt như trên, thì thật là một sự hợp tác vô cùng tốt đẹp, vùa tránh cho việc các đập thủy điện phải xả lũ gây lụt lội như các năm gần đây, vừa tự cung cấp nước trong mùa khô mà không phải chờ các đập thủy điện cho xả nước.

Như vậy có thể kết luận chắc chắn là: "Giữ được Nước" đồng nghĩa với giữ được tài nguyên thiên nhiên hay tài sản của quốc gia. Suy diễn cho rộng nghĩa ra thì nếu phung phí nước hay không biết cách dùng, để cho thất thoát hay mất nước, cũng là có lỗi với các thế hệ mai sau. Riêng VN chỉ sợ không giữ được nước hơn là sợ có dư thừa nước quá nhiều! Như thông tin cho biết hạn hán nặng có thể đang xảy ra cho miền Trung (trong năm 2013) do thiếu mưa. Tuy nhiên, nếu có một hệ thống gồm nhiều ao hồ giữ được nước trong những trận mưa lũ năm trước, những thiệt hại về hạn hán cũng có thể giảm thiểu được khá nhiều.

Hay ngược lại, cụ thể ví dụ như ở miền Tây Nam Bộ dù có địa hình không thích hợp cho việc xây dựng các Ao Hồ như miền Trung, nhưng qua một dự án đào kênh cho thoát nước lũ về hướng biển Tây cách đây hơn 10 năm, không những đã giúp cho việc tránh bớt lũ lụt, mà còn giúp rửa sạch cho cả trăm ngàn hécta đất bị nhiễm phèn ở những vùng ven biển Tây, giúp hơn 200.000 người dân thoát khỏi cảnh thiếu nước sinh hoạt hàng ngày.

Trong hơn hai thập niên qua, có nhiều hiện tượng trùng lập, bắt chước thi đua xây dựng hay đầu tư làm theo cùng một dự án hay sản phẩm nào đó. Cụ thể như các nhà máy Đường, Xi măng hay Bến cảng cho tàu thuyền, v.v. Kết quả cho thấy khi đạt tới mức "Cung" nhiều hơn "Cầu", chắc chắn sẽ cho ra năng xuất kém hiệu quả. Ngược lại, vấn đề giữ được nước, thì "Cầu" bao giờ cũng quá nhiều hơn "Cung". Nói cách khác, trên thế giới hiện nay và trong tương lai xa, nhu cầu về điện và nước cho hơn 7 tỷ con người và hơn 2 tỷ động vật cũng như cho nông nghiệp, bao giờ cũng cần nhiều hơn là nguồn cung cấp thực tế.

Tùy trường hợp nói chung, trung bình chỉ một số rất ít (<20%) lượng nước mưa lũ được giữ lại trên đất liền.  Còn lại đa số điều theo các con sông suối chảy ra biển trở lại theo luật Tuần Hoàn. Điểm chính yếu ở đây không phải là số lượng nước được giữ lại hay chảy ra biển, mà chính là phần đông tất cả khối nước "trời cho" đó đã được dùng cho lợi ích nào, trước khi cho chảy về lại đại dương.

Nhưng không phải thấy ai làm gì là phải bắt chước làm giống theo như vậy.

Miền Trung VN có đặc điểm về địa hình là núi cao, sông ngắn và bình nguyên hẹp, nên có rất nhiều ưu thế và lợi điểm để xây nhiều ao hồ chứa nước cỡ nhỏ hay vừa như đã nói trên, nhất là dùng cho việc khai thác các thủy điện nhỏ và trung bình. Riêng miền Nam thì trừ những trường hợp đặc biệt, không nên cho xây các đập thủy điện vì địa hình thường có độ dốc thấp nên phải dùng đến một khu vực rộng lớn hơn để làm hồ chứa, đưa đến việc xóa bỏ hàng ngàn hecta đất rừng nguyên sinh. 

Điều quan trọng ở đây không phải là nên làm hay không, số lượng nhiều hay ít, mà chính là làm như thế nào đề bảo đảm vừa cho ra hiệu suất cao mà lại an tòan cho người dân xử dụng. Điều cần ghi nhớ là có một số ít vùng do đặc tính về cấu tạo địa chất phức tạp (Đất đá loại trầm tích yếu và dễ bị phong hóa), thì không nên sử dụng để làm hồ chứa nước lớn cho thủy điện. Còn lại hầu hết các loại đất đá nào cũng đều có thể dùng được cho các ao hồ kích cỡ nhỏ và trung bình. 

Sau đây là một số các đề nghị cụ thể:

 - Các chuyên gia đi khảo sát thực địa, lập bàn phúc trình đề nghị những địa điểm cần thực hiện với thể loại nào như: Ao, Hồ hay Đập, lớn nhỏ như thế nào, lợi hại  tốt xấu ra sao để sắp đặt theo ưu tiên chọn lựa. Vật liệu chính được sử dụng có thể là tre, gỗ, cây hay đất đá có sẵn tại địa phương.

 - Các chuyên viên hay kỹ sư tư vấn thiết kế hồ sơ dùng các tiêu chí chung dành cho Ao, Hồ hay Đập, lớn hay nhỏ với kích thước dùng làm tiêu chuẩn có sẵn từ bản vẽ thiết kế chung cho cả toàn vùng. Dĩ nhiên là một số các tiêu chí hay chuẩn thiết kế cho mỗi loại Ao Hồ tùy theo kích cỡ cần phải được nghiên cứu bài bản và chấp thuận trước bởi các chuyên gia. 

 - Chính quyền cùng người dân địa phương hợp tác thi công với sự hướng dẫn của các chuyên gia tư vấn. Nhà nước cần hỗ trợ kinh phí tối thiểu là 50% trong việc xây dựng. Sau cùng thì người dân sẽ được trao quyền xử dụng và khai thác lợi nhuận, làm luôn công việc bảo trì hay sửa chữa.

Hy vọng trong tương lai, dân Việt sẽ không còn phải ta thán chuyện "Trời hành cơn lụt mỗi năm" hay "Đất cày lên sỏi đá", mà sẽ hát vang lời ca:"Trời giúp cho nước hàng năm!"

God & Budda bless Viêt Nam!

 

Nguyễn Cường

California -1/2013

 

Bài cùng tác giả

>> Thủy điện Sông Tranh 2 - Giải pháp tối ưu

>> Thủy điện sông Tranh 2 - Sự cố và nguyên nhân

>> Chuyện số mệnh

>> Chiến tranh Rô bô trong tương lai

>> Ngược chiều với Joe - Vietenglish

>> Bác sĩ lái "xe điên"

>> Biển Đông nhìn từ người Việt

>> Động đất, Ô nhiễm địa cầu - Hiệu ứng nhà kính

>> Nhân định thắng thiên !

>> Thế nào là "sơn cùng thủy tận" ?

>> Trí tuệ Việt Nam (kỳ 2)

>> Trí tuệ Việt Nam (kỳ 1)

>> Phản biện bài viết về vịnh Vân Phong trên ninhhoatoday.net

>> 9 cách để Nha Trang trở thành điểm hẹn quốc tế

>> Khủng hoảng hay chiến tranh

>> Khoa bảng, Trí thức và Nhân tài Đất Việt : Kỳ 1,  kỳ 2

>> Bức Tâm Thư

>> Ngôn ngữ và Trí Tuệ : Kỳ 1,  kỳ 2

>> Nguồn gốc của Âm Lịch và Tử vi : Kỳ 1,  Kỳ 2,  Kỳ 3

>> Sông Núi và Địa Linh Nhân Kiệt

>> Bàn về 2 chữ giáo dục

>> Đuốc thiêng Thế vận hội

>> Khám phá mới về dịch lý và ngũ hành : kỳ 1 kỳ 2,  Kỳ 3