QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

 

TẾT VIỆT XƯA VÀ NAY

TRONG ĐỜI SỐNG DÂN TỘC VIỆT

Ngô Văn Ban

 

 

1. Ý NGHĨA NGÀY TẾT

Trong một năm, người Việt ta ăn rất nhiều Tết truyền thống theo âm lịch kèm theo những lễ hội vui tươi, ý vị, sôi động trong đó có TẾT NGUYÊN ĐÁN là lớn hơn cả, nên thường gọi là TẾT CẢ

Chữ Hán, NGUYÊN có nghĩa là đầu, bắt đầu, ĐÁN có nghĩa là buổi sớm mai. NGUYÊN ĐÁN là buổi sớm mai của đầu năm. TẾT NGUYÊN ĐÁN là ngày đầu tiên của năm mới, vào ngày mồng một tháng giêng âm lịch. Còn chữ TẾT là nói tắt của hai từ LỄ TIẾT, TẾT là do TIẾT mà ra. ĂN TẾT là một phong tục có từ lâu đời của dân tộc Việt. ĂN TẾT là ĂN MẶC quần áo mới, đẹp, ĂN UỐNG những món ngon mà thường ngày chưa chắc có mà ăn, ĂN CHƠI, ĂN XÀI sang trọng, ít khi tiếc tiền, ĂN NÓI lịch sự hơn, chúc tụng nhiều hơn, tránh chửi mắng, lời nói tục, nếu không sẽ bị xui xẻo cả năm...    

2. Nước ta ăn Tết từ bao giờ thì chưa rõ. Nếu căn cứ vào tục ăn bánh chưng ngày Tết và truyền thuyết cha ông ta biết làm bánh chưng từ thời Hùng Vương, có người nói dân ta ăn Tết từ đó. Có tài liệu cho rằng ngày đó là ngày hội, là ngày họp mặt, ngày... giỗ, rồi cho là ngày Tết. v..v.. , nhưng thời đó, chưa có chữ viết, chưa có lịch  thì làm gì có ngày đầu năm, cuối năm, ngày lễ tiết, ngày Tết mà ăn Tết ? 

Sách sử của ta chép về Tết rất sơ lược, chỉ một vài chi tiết. Đại Việt sử ký toàn thư [1] có ghi chép từ đời Lê Đại Hành (980-1005), năm Nhâm Thìn (992) “Mùa xuân, tháng giêng, vua ngự điện Càn Nguyên xem đèn”. Sử còn chép đời vua Lý Nhân Tông (1066-1127), năm Bính Ngọ (1126) “Mùa xuân, tháng giêng, mở hội đèn Quảng Chiếu bày ngày đêm. Tha người có tội giam ở phủ Đô Hộ. Cấm dân chúng mùa xuân không được chặt cây. Tháng 2, ngày mồng 1, vua ngự điện Thiên An, xem các vương hầu đá cầu”. Thời nhà Trần, trong An-nam Chí Lược, Lê Tắc chép tương đối khá nhiều tục lệ ăn Tết thời nhà Trần : “Thường năm, trước Tết hai ngày, vua đi xe ngự dụng, các quan tùy tùng đều mặc triều phục hầu đạo tiền, tế điện Đế-Thích (một vị thần trong Phật giáo, làm chủ chư thiên ở ngoài thành Thăng-Long). Ngày 30 Tết, vua ngồi giữa cửa Đoan Củng, các bề tôi đến làm lễ, rồi xem con hát múa trăm lối. Tối lại, qua cung Động Nhân, hát bái yết Tiên Vương. Đêm ấy, đoàn thầy tu vào nội làm lễ Khu na (đuổi tà ma, quỷ mỵ) ở trong nội. Dân gian thì mở cửa, đốt pháo tre, cỗ bàn trà rượu cúng tổ “. (...). “Ngày Nguyên Đán, vào khoảng canh năm, vua ngồi trên điện Vĩnh Thọ, các tôn tử (con cháu nhà vua), các cận thần làm lễ hạ trước, rồi vào cung Trường Xuân, vọng bái các lăng tổ. Buổi sáng sớm, vua ngồi trên điện Thiên An, các phi tần sắp lớp ngồi, các quan trong nội (các hoạn quan) đứng lộn xộn trước điện đánh thổi các bài ca nhạc trước đại đình. Con cháu nhà vua và bề tôi sắp hàng bái hạ, ba lần rót rượu dâng lên. Xong, các tôn tử lên điện chầu và dự yến. Các quan nội thần ngồi ở tiểu điện phía Tây, các quan ngoại thần ngồi hai bên Tả Hữu Vu (nhà bên trái và bên phải nối vào chính điện), ăn tiệc đến trưa, lần lượt đi ra. Các thợ khéo làm một cái đài “Chúng tiên” hai tầng ở trước điện, một lúc thì cái đài ấy làm xong, vàng ngọc sáng chói. Vua ngồi ăn trên đài ấy, các quan làm lễ trước sau chín lạy, và chín tuần rượu rồi giải tán. Ngày mồng 2 Tết, các quan đều làm lễ riêng ở nhà. Ngày mồng 3 Tết, vua ngồi trên gác Đại Hưng xem các tôn tử và các quan nội cung đánh cầu, hễ bắt được mà không rơi xuống đất là thắng. Quả quả bóng lấy gấm mà làm, bằng nắm tay đứa bé, có tua đeo lòng thòng đến 20 sợi. Mồng 5 Tết, lễ Khai-hạ (hạ nêu, trở lại cuộc sống bình thường), ăn yến xong thì để quan và dân lễ các chùa miếu và du ngoạn các vườn hoa [2] .

Từ đó, có thể người Việt ta ăn Tết từ đời Lý Trần cho đến ngày nay.

3. Tết cũng như các lễ hội là sản phẩm của một cộng đồng dân tộc, của một nền văn hóa ở các nước trên thế giới. Có những yếu tố khác nhau nên các dân tộc trên thế giới có những lễ Tết, lễ hội khác nhau. Riêng người Việt ta có một nền văn hóa gốc nông nghiệp lúa nước thì Tết hay các lễ hội chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi yếu tố thời vụ trong sản xuất. Và các Tết của ta là theo âm lịch, mặc dù ta quen dùng dương lịch hơn hai ngàn năm nay. Quanh năm, đa số người dân “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” có lúa gạo đáp ứng nhu cầu vật chất thì phải có thời gian để họ nghỉ ngơi, ăn chơi, giải trí, trong khi chờ đợi lúa chín để thu hoạch. Chính khoảng thời gian nông nhàn đó là dịp thuận lợi tổ chức lễ hội, để vui chơi và quan trọng là thể hiện lòng biết ơn tổ tiên, tri ân những người đã dạy mình, giúp đỡ mình hay cúng tế những thế lực thiên nhiên cầu mong an lành, no ấm… Tết là dịp không những để người ta nghỉ ngơi, ngày tạ ơn mà còn là ngày đoàn tụ người sống lẫn người đã chết, là ngày làm mới vật chất, tinh thần, là ngày của hy vọng...

4. ĂN TẾT

cần có những công việc chuẩn bị đón Tết coi như một phong tục  cổ truyền : Tháng Chạp giẫy cỏ, vun đắp mồ mả ông bà (Chạp mả), cả nhà chuẩn bị gói và nấu bánh tét, làm bánh mứt, chuẩn bị thịt gà, thịt heo, măng đậu, dưa món… , đèn vàng hương, đồ mã, hoa quả... May quần áo mới, hớt tóc, tắm tất niên, trả nợ, trả những đồ vật mượn... Dọn dẹp vệ sinh nhà cửa, giặt giũ mùng màn, thay bếp cũ, bình vôi... Bàn thờ tổ tiên được lau chùi sạch sẽ, đánh bóng đồ đồng, bày biện bông hoa trà quả… Trang trí nhà cửa, bày tranh Tết (tranh dân gian Đông Hồ, tranh Hàng Trống), câu đối viết vào giấy dán ngay lên cột... Nhiều nhà dựng cây nêu với lá cờ phướng dài ngoằng phất phơ trong gió Xuân nhè nhẹ. Trồng cây nêu để làm dấu hiệu là đất có chủ, ma quỷ không được dòm ngó quấy nhiễu. Chuẩn bị quà Tết coi như tục lệ, mang lễ vật đến nhà con trưởng, nhà từ đường, rể biếu nhạc gia, trò biếu Thầy, người nhà bệnh nhân biếu thầy lang bác sĩ, bà con bạn hữu biếu nhau, biếu cấp trên, biếu chủ nợ… Ở đình miếu, gia đình, cơ quan cúng Tất niên, rước Thánh Thần ông bà về ăn Tết. Sau lễ cúng, đèn hương thắp sáng suốt 3 ngày Tết. Ngày 23 tháng Chạp cúng đưa Ông Táo về Trời. Trước giao thừa phải lo xách đổ đầy nước trong các lu, vại, quét sân vườn, nhà cửa sạch sẽ, vì sang năm mới kiêng.

Các làng nghề trong tỉnh có những hoạt động phục vụ Tết như nghề đúc đồng, làm bánh tráng, làm bún, làm nón, làm bún, làm chiếu, làm nem chả, làm các loại bánh tết như bánh tét, bánh chưng, bánh thuẫn, bánh tổ... Các trang trại chăn nuôi cung cấp gà, heo, bò. Những vùng trồng rau, trồng hoa, trồng củ kiệu... để cung ứng nhu cầu tiêu dùng. Các xí nghiệp, công ty sản xuất nước uống, bánh kẹo, sản vật biển cũng rộn rịp không kém… Những người làng hàng mã, nhang đèn, vàng bạc sản xuất nhiều hơn ngày thường. Những phiên chợ Tết mở ra ở thành thị, nông thôn với những mặt hàng phục vụ cho Tết.

Tóm lại, những chuẩn bị cho Tết, coi như LÀM MỚI vật chất, ĂN UỐNG những món ăn, thức uống đặc biệt cho Tết, GÂY NHỮNG MỐI QUAN HỆ tốt đẹp trong họ hàng,, bạn bè, cấp trên …

5. TẾT NGUYÊN ĐÁN

bắt đầu từ lúc GIAO THỪA 交承 (cũ giao lại, mới tiếp lấy) tức giờ Tý (từ 23 giờ đến 1 giờ sáng) – Có lễ TRỪ TỊCH 除籍 (Trừ : trao lại chức quan, Tịch : ban đêm) – Lễ trừ tịch, theo Phan Kế Bính : “Tục ta tin rằng mỗi năm có ông hành khiển coi việc dân gian, hết năm thì thần nọ bàn giao công việc cho thần kia, cho nên cúng tế để tiễn ông cũ đón ông mới “ [3] (Hành Khiển là chức quan triều Trần. Tục : Thần coi việc dân gian trong 1 năm, có ông thiện ông ác, có 1 phụ tá là Phán quan). Lễ cúng giao thừa thường cúng ngoài sân (tin rằng đêm giao thừa, vị Hành Khiển cùng thiên binh bàn giao, đi thị sát dưới hạ giới, rất vội nên không kịp vào nhà, chỉ hưởng lễ vật vội vàng). Đình chùa văn miếu văn chỉ cũng cúng. Chiêng trống, pháo nổ vang rền (thời xa xưa). Nhà nào chiều 30 Tết, ngoài việc cúng đón ông Táo về bếp nhà, tất cả mọi việc chuẩn bị ăn Tết phải xong để đón giao thừa.

Đêm Giao Thừa cũng có người xuất hành năm mới, đi lễ chùa, đền để xin phù hộ, cầu may cho năm mới, xin xăm đoán quẻ. Có người đi hái lộc, xin chút lộc của Thần Phật ban cho năm mới, đưa về để ở bàn thờ cho đến khi khô

Những nhà Nho, những nhà khoa giáp, nhà văn nhà thơ khai bút đầu năm mong nhận được những điều tốt đẹp trong năm mới.

6. NGÀY ĐẦU NĂM MỚI :

Tục xuất hành đầu năm phải xem giờ, xem hướng – Tục xông đất / Xông nhà / Đạp đất cũng phải chọn người – Gia đình đi viếng mộ đầu xuân, đi lễ chùa, lễ đình, về nội, về ngoại, về từ đường, nhà thờ Họ... Sau đó, đi thăm bà con, chúc Tết ...Có tục mừng tuổi (lì xì), chúc thọ ông bà... Tết chuồng (Tết trâu bò), Tết giếng, Tết Ông Lò Bà Lò nghề làm đường mía... Ngày Tết là ngày vui chơi, tham gia các trò chơi Tết. Những trò chơi được bày ở ven đường hay trên bãi đất trống trong làng. Nào là xóc dĩa, đá gà, lục cục (bầu, cua, cá, cọp), chơi bài chòi, chơi lô tô, chơi xổ cổ nhân, xem hát bội, hát tuồng. Tiếng trống bài chòi, hát bội vang trong xóm làng gây cho không khí mùa Xuân thêm phần rộn rã, vui tươi. ĂN TẾT còn không quên ăn uống, nhậu nhẹt... Tết Việt còn có tục “Mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy” hay “Mồng một thì ở nhà cha / Mồng hai nhà vợ, mồng ba nhà thầy” .

Ngày mồng bốn hay mồng sáu là NGÀY HÓA VÀNG, cúng tiễn ông bà, đốt vàng mã … Đến mồng bảy thì hạ nêu, gọi là ngày Khai hạ, coi như hết Tết. Nhưng dân Việt ta ngày xưa còn chơi Tết... dài dài, trước khi bước vào vụ mùa : Tháng giêng ăn Tết ở nhà / Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè / Tháng tư đong đậu nấu chè / Ăn Tết Đoan Ngọ trở về tháng năm...

7. NHỮNG KIÊNG KỴ TRONG NGÀY TẾT :

Trong ngày Tết, người Việt có nhiều kiêng kỵ. Kiêng kỵ vì sợ, vì muốn an toàn, vì mong muốn tài lộc đến, không muốn những rủi ro, giông hay xui đến. Trong những điều kiêng kỵ, cũng có những lý giải về khoa học, về tâm lý nhằm mục đích là để bảo vệ con người, làm con người tin tưởng lạc quan, vui sống.

KIÊNG trong việc chưng hoa quả trên bàn thờ : kiêng chưng trái sầu riêng, chuối (cho rằng một năm chúi lúi), cam là khổ, lê, măng cụt… KIÊNG ĂN các món ăn trong ngày đầu năm mới: mực, thịt chó, thịt vịt, hột vịt lộn, bún… Dưa hầu bổ ra đỏ mới hên. Trái khổ qua không kiêng, vì “khổ” sẽ “qua” đi... Không đi xông đất nhà người khác nếu gia chủ không mời. Không mở tủ, quét nhà sợ tiền tài, phúc đức thoát ra khỏi nhà. Không xách nước giếng sợ động Thần Giếng sẽ làm nước giếng đục. Không hái trái cây trong vườn (sợ trẻ con trèo cây té ngã). Không mặc quần áo cũ, rách, áo quần đen, trắng sợ tang tóc, mặc áo mới màu sắc sặc sỡ  tạo sự phấn khởi, vui vẻ đón xuân. Có tang, có bầu không đi thăm viếng, chúc Tết sợ đem nỗi buồn, xui xẻo đến nhà người, có bầu đi lại lỡ gặp tai nạn, hư thai. Không được khóc lóc, đánh trẻ, sợ mất vui trong gia đình lẫn người khác trong ngày ngày đầu năm, đem điều không may đến. Không nói tục, nói điều chết chóc đau bệnh, đấu khẩu, chửi rủa… làm mất vui, sẽ có một năm không tốt. Không vay mượn, trả nợ sợ một năm túng thiếu. Không cho lửa (lửa là ĐỎ, màu may mắn, hạnh phúc, cho lửa sợ mất phúc). Kiêng làm vỡ các đồ vật (tử BỂ tạo nên ý nghĩ chia lìa, chia cắt… trong những mối quan hệ) ...

8. TẾT Ở VÙNG ĐẤT KHÁNH HÒA :

Khánh Hòa là vùng đất mới, cư dân vào mang theo phong tục tập quán vùng ngoài. Vào vùng đất mới có khó khăn nên bỏ bớt, lượt bớt. Do đó, phong tục Tết, ăn Tết, vui chơi Tết của người dân trong tỉnh có nhiều điểm khác nhau ở các vùng ngoài. Khác nhau ở chơi các loại hoa, khác nhau ở món ăn, khác nhau cúng lễ ở nhà và đình chùa. Khác nhau ở các trò chơi xuân ...

Tết ở Khánh Hòa hôm nay không còn như xưa vì có sự giao lưu con người, phong tục cả nước. Hòa vào cuộc sống chung như vậy, ta khó có thể tìm ra những nét đặc trưng của nền văn hóa Tết Khánh Hòa. Có những phong tục xưa nay không còn nữa. Tuy nhiên nhà nào còn nấu bánh tét đêm giao thừa thì đó là điều đem đến cho ta sự ấm áp, sum hợp, đầy tình cảm. Việc đi lễ đình lễ chùa, nhà thờ, lễ ở Tháp Bà, việc đi chúc chúc Tết nhau... nay cũng còn. Nhưng so với ngày xưa, ăn Tết ngày nay sang trọng hơn, tương đối đầy đủ, vui chơi giải trí nhiều hình thức, hiện đại hơn so với ngày xưa. Nhìn lại ông bà ta ngày xưa ăn Tết, thấy mà thương ...

N.V.B


 

[1] Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch của Hoàng Văn Lâu, Tập 1, nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, trg. 227, 1126.

[2] Lê Tắc, An Nam chí lược, bản dịch của Ủy ban Phiên dịch Sử liệu Việt Nam Viện Đại Học Huế, Viện Đại Học Huế xb, 1961, trg.46.

[3] Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục,

 

Bài cùng tác giả

>> Món Rắn năm Tỵ

>> Chuyện Rắn năm Tỵ

>> Tết Việt xưa và nay trong đời sống dân tộc Việt

>> Người xưa chơi xuân qua tranh khắc của Henri Oger đầu thế kỷ 20

>> Ký ức bến đò quê hương

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 7)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 6)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 5)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 4)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 3)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 2)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 1)

>> Hình ảnh rồng trong đời sống dân tộc Việt

>> Cá vượt vũ môn hóa rồng

>> Tết của một thời ấu thơ

>> Vè Các Lái ngang qua huyện Ninh Hòa

>> Miếu và miễu ở Khánh Hòa (kỳ 2)

>> Miếu và miễu ở Khánh Hoà (kỳ 1)

>> Dinh Trấn Biên Nha Trang dưới thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong có hay không ?

>> Việc giáo dục chữ Lễ trong gia đình và nhà trường

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ Bắc tới Nam (kỳ 2)

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ bắc tới nam (kỳ 1)

>> Thịt mèo

>> Chuyện mèo năm Mão qua câu ca tiếng nói người Việt

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 2)

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 1)

>> Những trường học tại Nha Trang xưa và nay

>> Chất biển trong con cá vịnh Nha Trang

>> Con cọp qua cái nhìn dân gian Việt Nam

>> Món cọp năm Dần

>> Về Diên Khánh ăn bánh ướt

>> Cọp Khánh Hòa

>> Thầy Đồ Cóc

>> Đất Khánh người Hòa

>> Món ngon Năm Sửu

>> Con trâu trong văn học các dân tộc VN

>> Món ngon năm chuột

>> Chuyện chuột năm Tý

>> Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

>> Vịt lội Ninh Hòa

*** Nghề làm bánh tráng ở Xóm Rượu Ninh Hòa:

>> Kỳ 1, kỳ 2, Kỳ 3

*** Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang,

     việc giỗ của người Việt:

>> Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, kỳ 11, kỳ 12