QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Lễ Tục Xứ Đồng Hương

Nguyễn Man Nhiên & Võ Triều Dương

 (kỳ 1)

Tại các làng quê ở Ninh Hòa (Khánh Hòa) có một câu hát ru con nổi tiếng được lưu truyền qua nhiều thế hệ:

“Muối Hòn Khói, ruộng Đồng Hương

Hòn Hèo mây bạc, suối nguồn Cửa Bô”.

 

 

Ngày xưa, Hòn Khói và xứ Đồng Hương là những địa danh rất nổi tiếng với đặc sản muối và lúa gạo. Tên nguyên thủy của xứ Đồng Hương là Chiêm Dân Đồng Hương, căn cứ theo những đơn ruộng viết tay vào các triều Lê Cảnh Hưng thứ 11 (1750), Thái Đức thứ 9 (1783)... mà cư dân địa phương còn lưu giữ. Đây là vùng đất ở mặt trên của xã Ninh Thượng (cũ), về hướng tây bắc Ninh Hòa, cách trung tâm thị xã khoảng 20 km.

Trước khi cắt bớt một phần đất để lập thêm xã mới Ninh Trung vào năm 1979, xã Ninh Thượng (cũ) là một vùng đất rộng lớn hơn nhiều, đông giáp xã Ninh Đông, tây giáp xã Ninh Sim, nam giáp xã Ninh Thân, bắc giáp dãy núi Tam Phong (có đỉnh Vọng Phu cao trên 2.000 m), tổng diện tích tự nhiên trên 100 km2, dân số gần cả vạn người, phân bố thành hai khu vực dân cư là xứ Đồng Hương (gồm 4 làng Tân Lâm, Đồng Thân, Nghi Xuân, Tân Tứ) và xứ Hộ Quảng Cư (gồm 4 làng Quảng Cư, Vĩnh Thạnh, Mông Phú, Tân Ninh). Thời ấy, người dân của các xã đồng bằng Ninh Hòa thường gọi chung cả vùng này là xứ Đồng Trên, nậu Đồng Trên hay ruộng Đồng Trên.

Trước năm 1954, hai khu vực Đồng Hương và Hộ Quảng Cư thuộc hai tổng, huyện khác nhau. Xứ Đồng Hương thuộc tổng Thượng, sau đổi ra Thân Thượng huyện Tân Định (nay là thị xã Ninh Hòa). Xứ Hộ Quảng Cư thuộc tổng Thượng, có lúc thuộc tổng Phước Khiêm rồi Phước Thiện thuộc huyện Quảng Phước (nay là huyện Vạn Ninh). Tuy thuộc hai tổng, huyện khác nhau nhưng thực ra chỉ ngăn cách bằng một dòng sông nhỏ, người dân hai vùng có quan hệ mật thiết với nhau từ bao đời nay. Sau này có ông Ngô Quới (tức Lễ) là một đại địa chủ giàu có, mua được hàm bát phẩm thiên hộ triều Tự Đức, có trách nhiệm thu thuế cả hai xứ Đồng Hương và Hộ rồi giao thẳng về tỉnh chứ không qua hệ thống huyện, thì ranh giới hành chánh giữa hai khu vực càng mờ nhạt trong lòng dân chúng. Sau năm 1954, cả hai khu vực này được sáp nhập thành xã Ninh Thượng (cũ). Đến năm 1979, do có sự thay đổi tách nhập về đơn vị hành chính nên diện tích của xã Ninh Thượng (mới) hiện nay bị thu hẹp.

Hàng năm, xứ Đồng Hương có nhiều lễ cúng như cúng đình cầu an (vào tiết xuân), cúng Thanh Minh, cúng bà Hậu Thổ (còn gọi là cúng đất hay cúng lệ vào ngày 18 tháng 3), cúng tết Đoan Ngọ (mùng 5 tháng 5), cúng thượng điền, cúng ruộng rẫy, đập mương, cúng vào núi tìm trầm kỳ, lễ sai đồng chữa bệnh... Đặc biệt tại làng Nghi Xuân thường lệ ba năm có lễ cúng tống ôn do thầy pháp đứng ra cử hành nghi thức.

- LỄ cúng đình:

Lễ cúng đình diễn ra từ đầu tháng 2 đến gần cuối tháng 3 âm lịch. Hầu hết các làng ở xứ Đồng Hương đều có nghi lễ giống nhau y theo bài bản từ xưa để lại, ngoại trừ làng Tân Tứ có khác ở chỗ bỏ nghi lễ cúng Xuân thủ và cúng tiền hiền, chỉ giữ lễ cúng cầu an.

Vùng này còn giữ tục lệ là ai được cử đứng chánh tế cầu an hay xuân thu, chiều ngày hôm trước phải tới đình sớm. Bắt đầu từ giờ này, ông chánh tế không được phép về nhà hay vào xóm, vì sợ ông “làm bậy” sẽ mất tinh khiết trước thần linh.

Các nghi lễ diễn ra như sau:

1. Lễ tỉnh sanh:

Tỉnh sanh là đem con vật toàn sắc giống đực hiện còn sống để trình diện trước thần linh rồi sau đó cắt tiết. Chữ tỉnh ở đây có nghĩa là toàn vẹn theo tiêu chuẩn, chữ sanh nghĩa là con vật đem ra cúng tế hiện còn sống.

Vị thần về chứng giám lễ Tỉnh sanh chỉ là hạng thần thừa sai - giống như viên huyện lệ mục của dương gian - chứ chưa phải quan tri huyện. Bàn  thần có đủ hương hoa, đèn quả, chai rượu và vài dĩa bánh ngọt, nghi trượng gồm cờ xí, chiêng trống…

Vị tướng lễ xướng:

- Chấp sự giả các tư kỳ sự (những ai có phận sự phải vào tư thế chuẩn bị)

- Khởi chinh cổ (khởi nhạc; mỗi thứ tiếp nhau đánh 3 hồi 9 tiếng)

- Chánh tế tựu vị (chánh tế đến đứng trước bàn thần)

- Nghệ quán tẩy sở (chuẩn bị rửa tay; vị chánh tế đến đứng bên thau nước có treo sẵn cái khăn)

- Quán tẩy (chánh tế rửa tay, với ý nghĩa phải tinh khiết)

- Thuế cân (chánh tế lấy khăn lau tay)

- Nghê hương án tiền (hãy trở lại trước bàn án)

- Quỳ (chánh tế quỳ gối)

- Phần hương (chánh tế cầm 3 cây hương khuỳnh hai tay đưa lên ngang tráng khấn)

- Thượng hương (cầm 3 cây nhang lên lư hương)

- Phủ phục hương (cúi đầu đứng lên)

- Bình thân (đứng lại cho nghiêm chỉnh)

- Nghênh thần cúc cung bái (đón chào thần kính cẩn lạy; vị tướng lễ xướng hưng bái 4 lần, vị chánh tế quỳ lạy rồi đứng lên 4 lần theo lời xưng tuần tự của vị tướng lễ)

- Hưng bình thân (đứng lên cho nghiêm trang)

- Quỳ (quỳ gối)

- Chước tửu (rót rượu một lần cho đầy)

- Phủ phục hưng (cúi đầu đứng lên)

- Bình thân (đứng cho nghiêm chỉnh)

- Nghệ tỉnh sanh sở (hãy chuẩn bị làm nghi lễ tỉnh sanh; người chấp đao cầm con dao thọc cổ heo đến đứng trước bàn thần bái 3 bái rồi đến bên con heo; chánh tế một tay bưng ly rượu trên bàn thần một tay cầm 3 lá vàng mã đến đứng bên con heo đang bị đè nằm ngửa trên cái tợ, mỏ chúc xuống. Vị chánh tế đốt 3 lá vàng mã trên cổ con heo rồi đổ ly rượu lên. Sau khi vàng mả cháy xong, vị tướng lễ hô:

- Tỉnh sanh (hãy làm nghi tỉnh sanh; tức thì anh chấp đao cầm con dao chọc vào cổ con heo cho ra hết tiết. Người ta tin rằng khi thọc cổ heo máu ra hết con vật chết liền là điềm tốt, còn ngược lại là điềm xấu)

- Phục vị (chánh tế trở lại bàn thần)

- Tạ thần cúc cung bái (tạ thần kính cẩn lạy)

(Vị tướng lễ hô xuống hưng bái 4 lần, chánh tế đứng lên lạy xuống 4 lần)

- Hưng bình thân (đứng lên ngay ngắn)

- Tỉnh sanh tế tất (xong lễ tỉnh sanh)

Suốt thời gian nghi lễ tỉnh sanh thì chiêng, trống và ban ngũ âm đánh liên tục. Sau khi đốt vàng mã cháy hết, nghe vị tướng lễ xướng lễ tất lúc này mới chấm dứt.

2. Cúng xuân thủ:

Tức là lễ cúng Xuân đầu năm, diễn ra vào lúc 1 giờ khuya. Đây là lễ cúng bà Thiên Y, nhưng cũng có vài làng ở  Ninh Hòa không cúng bà Thiên Y trong lễ này mà lại cúng bà Hậu Thổ. Nghi thức cúng Xuân thủ (trước) và nghi thức cúng thần kỳ an (sau) đều giống nhau, chỉ khác một số điểm trong nội dung tờ sớ được trình bày chi tiết sau đây:

Ban chấp sự trong lễ cúng Xuân thủ và cúng thần Kỳ an gồm: 1 vị chánh tế; 1 vị bồi tế; 1 vị đông hiến (đứng ở bàn thờ hữu ban); 1 vị tây hiến (đứng ở bàn thờ tả ban).

Lễ vật trần thiết như sau:

Con heo làm sạch sẽ cho nằm trên cái tợ, banh bốn chân dang rộng ra, mỏ heo ngước nhìn lên bàn thần. Trên lưng con heo để một dĩa thịt luộc chín. Dưới cái tợ đặt con heo có một cái chén đựng ít lông và máu heo. Khi gần hết lễ cúng nghe vị tướng lễ hô: thọ tạ, vị chánh tế ăn ngay dĩa thịt luộc chín trước bàn thần. Đây là thịt của thần linh trả công cho vị chánh tế có công sức quì lạy thần suốt cả giờ đồng hồ.

Chén đựng lông và máu trình chứng trước mặt thần rằng đây là lấy từ con heo còn sống chứ không phải heo chết. Khi nghe vị tướng lễ hô: Ế mao huyết, có nghĩa là đem chôn chén lông máu này, tức thì chén máu lông được đưa ra ngoài.

Trên chiếc chiếu liệt bên ngoài con heo đặt trong điện thần bày 3 dĩa lòng, 3 dĩa thịt phay, các thứ cháo cơm, xào xáo... để cúng các đẳng cô hồn. Trên bàn thần không cúng vật thực, chỉ có hoa quả và bánh ngọt. Bàn hội đồng chư thần đặt ngoài ngưỡng cửa cái cũng không có vật thực, chỉ chưng hoa quả rượu. Hương án hội đồng đặt ngay ngưỡng cửa cái thì thầy tướng lễ và vị chánh tế cùng ban ngũ âm ở ngoài hiên đình (gọi là cái dang đa). Ban ngũ âm ngồi ở chiếu phía tây, vị chánh tế đứng giữa hương án, vị tướng lễ đứng phía dưới hô xướng, nhưng khi đọc chúc sớ thì phải quì ở phía tây. Việc này có ý nghĩa: phía trái là phía quan trọng hơn bên phải, nên có câu: tả trọng hữu khinh. Khi đọc chúc sớ là thay mặt chánh tế khai báo cầu xin lên chư thần, việc quan trọng nên thầy lễ phải quì bên quan trọng.

Bên ngoài thì chiêng đặt ở trên, trống ở dưới, mõ cúng thầy đặt ngoài sân ngang chính điện thần. 4 lá cờ đuôi nheo có 4 người đứng hai bên cầm. Ở 2 miễu mục đồng tượng và Sơn lâm chúa tướng cũng có 2 vị đứng  hầu rượu và lạy bái suốt buổi lễ theo nghi thức của vị chánh tế bên trong. Ngoài sân gần bên chỗ để chiêng trống có để cái chậu đựng nước trên chiếc ghế và một cái khăn.

Ngày xưa trước năm 1945 làng nào cũng có người đi lính lệ ở dưới huyện đường, đến gần ngày lễ cúng đình vị lý trưởng phải làm tờ đơn đích thân đem xuống huyện đường, xin phép một người lính dân gốc của làng về trình diện trước mặt thần trong lễ cúng.

Làm chánh tế chọn người nào tuổi từ 50 trở lên, đủ vợ đủ chồng không có chồng chấp vợ nối, có tư cách đạo đức và năm đó không bị tang chế. Ngày xưa các làng ở xứ Đồng Hương ít dân, nếu năm đó chọn không ra người, hoặc là bị bệnh hoặc mắc tang chế, thì căn cứ ở câu “tam thập nhi lập” của đức Khổng Tử mà chọn anh nông dân 30 tuổi cũng có thể đứng làm chánh tế được.

Các làng ở xứ Đồng Hương không tế tam tịch mà chỉ tế tam hiến đơn giản (bởi thiếu dân không đủ chấp sự).

Nghi lễ cúng tế xuân thủ như sau:

Vị tướng lễ khuỳnh tay ngang trán xuống:

- Củ sát tế vật (hãy kiểm lại lễ vật có đầy đủ hay chưa)

- Ế mao huyết (hãy đem chôn chén lông và máu heo)

- Chấp sự giả các tư kỳ sư (khi nghe hô câu này tất cả các vị chấp sự vào đứng trình diện bái thần rồi lui ra. Ban đầu các vị chánh tế, đông hiến, tây hiến, kế đến ông lo việc hương đăng rót rượu, hai người đánh chiêng và trống mặc áo dài khăn đen hẳn hoi hai tay nâng dùi chiêng mõ lên ngang trán bái ba bái. Cuối cùng anh chấp đao ăn mặc sạch sẽ bình thường, ngang lưng thắc giải vải đèn hay sợi dây chuôi thả lòng thòng bên hông, cầm con dao thọc cổ heo đứng bái ba bái).

- Đông hiến tây hiến các tựu vị (đông hiến và tây hiến đến vị trí của  mình)

- Bồi tế tựu vị (bồi tế đứng vào vị trí phía tây, sau khi chánh tế tựu vị thì lui ra chờ thay thế nếu cần)

- Chánh tế tựu vị (chánh tế vào vị trí)

- Nghệ quán tẩy sở (chuẩn bị rửa tay, vị chánh tế đến đứng bên chậu trước chờ lệnh)

- Quán tẩy (rửa tay)

- Thuế cân (lau tay)

- Nghệ hương án tiền (trở lại đứng trước hương án)

- Quỳ (quì xuống)

- Phần hương (từ bên trong đưa ra ba cây nhang đã đốt cháy, vị chánh tế hai tay đón lấy khuỳnh đưa lên ngang trán khấn vái)

- Thượng hương (người hương đăng đưa hai tay tiếp lấy hương cắm vào độc lư)

- Phủ phục hưng (cúi đầu đứng lên)

- Bình thân (đứng nghiêm chỉnh)

- Nghênh thần cúc cung bái (chào đón thần kính cẩn lạy; vị tướng lễ xướng hô 4 lượt, vị chánh tế đứng lên, quỳ xuống lạy 4 lạy)

- Hưng bình thân (đứng lên nghiêm chỉnh)

- Hành sơ hiến lễ (lễ dâng rượu lần đầu)

- Quỳ (quì xuống)

- Chước tửu (rót rượu)

- Phủ phục hưng (cúi đầu đứng lên)

- Bình thân (đứng nghiêm chỉnh)

- Nghệ chuyển chúc vị (chuẩn bị chuyển tờ chúc)

- Chuyển chúc (đưa tờ chúc ra; người hương đăng hai tay trịnh trọng đưa tờ chúc ra cho vị chánh tế)

- Quỳ (chánh tế quỳ xuống hai tay nâng tờ chúc lên ngang trán)

- Giai quì (thầy lễ tự ra lệnh cho mình quỳ lên phía trên)

- Đọc chúc (vị tướng lễ đọc tờ chúc).

Khi đọc tờ chúc đến phần xướng danh hiệu chư thần thì chiêng trống đờn kèn ngưng ngang, chỉ còn tiếng trống cơm của ban ngũ âm điểm cho vị tướng lễ xướng đọc xong danh hiệu các vị thần thì trống chiêng đánh tiếp. Đọc chúc xong, vị tướng lễ trao tờ chúc cho vị hương đăng chuyển đặt lên bàn thờ hội đồng chư thần, rồi đứng lên trở về vị trí cũ và xướng:

- Phủ phục hưng (chánh tế cúi đầu đứng lên; hai lần hương bái)

- Hưng bình thân (đứng lên ngay ngắn)

- Hành á sơ hiến lễ (chuẩn bị dâng rượu lần hai)

- Quỳ (chánh tế quì)

- Chước tửu (rót rượu)

- Phủ phục hưng (cúi đầu đứng lên)

- Bình thân (đứng lại nghiêm chỉnh)

- Hành chung hiến lễ (chuẩn bị rót rượu lần cuối)

- Quỳ (chánh tế quì)

- Chước tửu (rót rượu)

- Phủ phục hưng (cúi đầu đứng lên)

- Bình thân (đứng lại nghiêm chỉnh)

Vị tướng lễ đi vô trong điện thần đứng cạnh con heo hướng lên bàn thần hô to: Từ phước tộ, nghĩa là: lộc của thần ban ra cho vị chánh tế đây. Đoạn ra đứng lại chỗ cũ xướng:

- Nghệ ẩm phước vị (chuẩn bị uống rượu do thần ban cho vị chánh tế)

- Quỳ (chánh tế quỳ xuống)

- Ẩm phước (hãy uống đi. Vị tướng lễ hai tay bưng ly rượu ngay trên bàn hội đồng chư thần đưa cho chánh tế, chánh tế đón nhận bái một cái và uống cạn)

- Thọ tộ (ăn tô thịt. Vị hương đăng đưa tô thịt có kèm theo một đôi đũa, vị chánh tế hai tay đón lấy bái một cái rồi gắp ăn tượng trưng vài ba miếng. Thịt kho tộ phải là miếng thịt cắt ở vai trái con heo luộc chín, chứ không phải thịt nào cũng được)

- Phủ phục hưng (cúi đầu đứng lên)

- Bình thân (đứng lại nghiêm chỉnh. Vị tướng lễ xướng hưng bái hai lần)

- Hưng bình thân (đứng lên)

- Thối cước (hay thối chủng) (vị chánh tế lui bước đứng qua một bên)

- Phần hiến (đến lượt làng xã lạy thần)

Sau khi dân làng tiếp nối nhau lạy thần xong, vị tướng lễ xướng:

- Phục vị (vị chánh tế trở lại vị trí cũ)

- Tạ thần cúc cung bái (kính cẩn lạy tạ ơn thần; vị tướng lễ xướng hưng bái bốn lần cho chánh tế lạy)

- Hưng bình thân (đứng lên nghiêm chỉnh)

- Phần chúc (đốt sớ và vàng mã, chờ cháy hết thì xuống)

- Lễ tất (xong buổi lễ, chiêng trống và ban ngũ âm xổ dùi)

 

(xem tiếp kỳ 2)

 

 

Bài viết chung

 

>> Trò chơi dân gian xã Ninh Phụng (kỳ cuối) - Võ Triều Dương & N M Nhiên

>> Trò chơi dân gian xã Ninh Phụng (kỳ 3) - Võ Triều Dương & N M Nhiên

>> Trò chơi dân gian xã Ninh Phụng (kỳ 2) - Võ Triều Dương & N M Nhiên

>> Trò chơi dân gian xã Ninh Phụng (kỳ 1) - Võ Triều Dương & N M Nhiên

>> Chất khôi hài trong vè học chữ Pháp

>> Văn hóa ẩm thực của người dân Ninh Phụng (kỳ 2) - Võ Triều Dương & N M Nhiên

>> Văn hóa ẩm thực của người dân Ninh Phụng (kỳ 1) - Võ Triều Dương & N M Nhiên

>> Rượu nếp Bách Nhật - Đặc sản Ninh Hòa - Võ Triều Dương

>> Hương sắc xuân xưa Ninh Hòa

>> Non nước xứ Đồng Hương (kỳ 1)

>> Non nước xứ Đồng Hương (kỳ 2)

>> Non nước xứ Đồng Hương (kỳ 3)

>> Chuyện Thầy Đồ Ninh Hòa

>> Múa Lục Cúng Hoa Đăng Ninh Hòa - N M Nhiên & Võ Triều Dương

 

 

Nguyễn Man Nhiên

 

>> Ngày xuân tản mạn về bonsai và cây kiểng

>> Văn miếu Diên Khánh

>> Rồng Việt

>> Thú chơi tranh Tết dân gian

>> Lỗ Lường - lễ tục độc đáo ở hòn Đỏ - Ninh Hòa

>> Tên làng xã Khánh Hòa hồi đầu thế kỷ 19 qua sưu tập địa bạ triều Nguyễn

>> Nha Trang xuống Chụt bao xa...

>> Nem Ninh Hòa (kỳ 2)

>> Nem Ninh Hòa (kỳ 1)

>> Ăn giỗ đi trước

>> Mỹ nghệ vỏ hải sản ở Nha Trang

>> Ngày xuân nhớ lại một số tục cổ, nếp xưa

>> Thiền sư Tế Hiển, chùa Thiên Bửu Thượng

>> Các đời quan trấn thủ ở Khánh Hòa xưa

>> Món ngon trên đời

>> Về địa danh Vịnh Vân Phong

>> Múa Lục Cúng Hoa Đăng Ninh Hòa

>> Chiều chiều mây phủ Đá Bia

>> Nếp xưa, Tết Việt

>> Ngày xuân đọc lại "Xứ Trầm Hương" ...

>> Địa danh gốc Chăm ở Khánh Hòa

>> Đi tìm di tích Dinh xưa

>> Phụ lục: Những câu hò giã gạo Ninh Hòa (kỳ 2)

>> Phụ lục: Những câu hò giã gạo Ninh Hoà (kỳ 1)

>> Hò Giã gạo - Dân ca Ninh Hoà