QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

Bài cùng tác giả

- Mùa xuân bàn chuyện xin xăm Đức Thánh Trần

- Rượu Hồng Đào

- Lương Châu Từ và nỗi buồn chiến tranh

- Gió đã chuyển mùa

- Từ Đạt và Chu Nguyên Chương

- Cấu trúc hệ thống thờ tự trong đình làng Ninh Hòa ...

- Bến Phong Kiều và tiếng chuông Hàn San

- Cấu trúc thờ tự tại đền Trần Hưng Đạo

Bài liên quan

- Những tiếng hát yêu "Ơi con sông Dinh" - Dương Tấn Long

- Mùa xuân sang thênh thang phố vui ... - Dương Tấn Long

- Những nhạc sĩ lớn lên từ một dòng sông - Xuân Thành

- Nhớ Quê - Tấn Sơn

- Ơi Con Sông Dinh - Tấn Sơn

- Hồn Nhiên Như Lá - Hạ Vy

- Mưa Xanh - Hạ Vy

- Phố Huyện Chiều Em Nhớ - Lâm Thúy Vân

- Đêm Qua Đò Nhớ Trương Chi - Đông Quân

 

 

 

 

 

Dân ca vùng ven biển Khánh Hòa

Hình Phước Liên

Để tìm được sự riêng biệt của dân ca tỉnh Khánh Hòa là một việc khó, tìm được cái riêng của “Dân ca vùng ven biển Khánh Hòa” càng là việc khó hơn. Còn nhớ, vào khoảng năm 1988, trong một cuộc họp bàn để tìm hướng đi riêng cho Đoàn ca múa nhạc Dân tộc Pô Nagar – Khánh Hòa, nhà nghiên cứu Mịch Quang đã nói: “Muốn tìm ra được hướng đi riêng cho đoàn, trước hết phải trả lời cho được câu hỏi “Người Khánh Hòa, anh là ai?” Câu hỏi ấy đến nay với tôi vẫn còn là nỗi niềm canh cánh.

1.

Có hay không dân ca Khánh Hòa?

Lịch sử di dân thời mở cõi đã khẳng định nguồn gốc của người dân Khánh Hòa là dân đến từ các tỉnh Ngũ Quảng và sau này là các tỉnh Bình Định, Phú Yên. Trong Đồng Khánh Địa dư chí (1886 – 1888) cũng ghi vào thời bấy giờ Khánh Hòa có 2 phủ là Ninh Hòa, Diên Khánh và 4 huyện là: Quảng Phước, Tân Định, Vĩnh Xương, Phước Điền, trong đó chỉ mỗi Phước Điền là huyện đồng bằng, còn lại đều là huyện ven biển… Khảo sát những sắc phong còn lưu giữ tại các ngôi làng cổ ở Khánh Hòa, chúng ta sẽ thấy ngoài Thiên Y Thánh Mẫu thì Nam Hải Cự tộc Ngọc Lân Tôn Thần (gọi tắt là Ông Nam Hải) và Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị Thánh Nương (gọi tắt  Tứ vị Thánh nương) là các vị Thần có nhiều sắc phong nhất. Và ai cũng biết cả hai vị trên đều là các vị phúc thần của người dân xứ biển; theo huyền tích của người Chăm thì Pô Nagar cũng được sinh ra từ “áng mây và bọt biển”. Tất cả những điều trên đã cho thấy, con người và văn hóa Khánh Hòa luôn có sự gắn liền với biển.

Trên con đường thiên lý từ Bắc vô Nam, khách bộ hành sẽ phải vượt qua nhiều đèo dốc, trong đó Đèo Hải Vân được làm ranh giới phân chia Bắc Trung bộ với Nam Trung bộ. Thật vậy, chỉ cách một con đèo dài chừng 20 cây số mà khí hậu, tập quán và nhất là giọng nói của hai đầu đã khác rất xa. Cũng vậy, chỉ cách Đèo Cả mà giọng nói của người Khánh Hòa và các tỉnh trong vùng cũng có nhiều khác biệt? Mà giọng nói lại là yếu tố quan trọng để tạo nên nét khác biệt cho dân ca mỗi địa phương. Chẳng phải câu ca dao: “Ai đem con sáo sang sông/ Để cho con sáo sổ lồng bay xa?” khi hành trình qua các miền đã tạo ra các bài Lý con sáo Bắc, Lý con sáo Huế, Lý con sáo Quảng, Lý con sáo Nam bộ đó sao? Vậy thì, có hay không dân ca riêng của miền đất Khánh Hòa?

Khảo sát những bài dân ca đã và đang phổ biến trên đất Khánh Hòa, ta dễ dàng nhận thấy đấy cũng là những bài đã và đang phổ biến của cả vùng Nam Trung bộ. Song do giọng nói của người Khánh Hòa mềm và dịu hơn giọng nói các tỉnh trong vùng và do quá trình giao lưu với các tỉnh phía Nam nên dân ca của tỉnh Khánh Hòa đã có những điểm “đại đồng tiểu dị” với các tỉnh trong vùng. Mặt khác, với điều kiện địa lý khá đặc biệt của mình, nghề làm biển ở Khánh Hòa từ lâu đã phát triển khá mạnh so với các nghề khác, nên dân ca vùng ven biển ở Khánh Hòa cũng có nhiều nét độc đáo và phong phú hơn ở miệt đồng bằng.

Trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi chỉ xin phép được giới thiệu một số nét khái quát về dân ca vùng ven biển Khánh Hòa thông qua hai trò diễn dân gian trong lễ “Kỳ an tá thổ” và “ Lễ Hội Cầu ngư”.

2.

Từ Hát xà, Hát mộc…

Ở Vạn Ninh, Ninh Hòa ngày nay vẫn còn một số nơi giữ tục “cúng tá thổ”, còn gọi là lễ “Kỳ an tá thổ”. Lễ cúng được tổ chức vào ngày 18 tháng 3 âm lịch hàng – tức ngày Vía Bà Hậu Thổ. Nhưng vì sao lại phải “cúng mượn đất”? Theo các cụ lão thành thì đất này ngày xưa thuộc sự cai quản của các thần linh Chiêm Thành, vì vậy muốn được an ổn làm ăn thì phải “cúng mượn đất”. Trong lễ cúng ngoài các nghi thức chung thì còn có diễn tích trò Đàn xà – Trảm mộc hay còn gọi là Hát xà – Hát mộc. Trò diễn này ngoài các trình thức sân khấu hát bộ ra còn pha trộn nhiều hình thức văn hóa dân gian khác như Múa bóng, Múa siêu và ở cuối bổn tuồng còn có cả Hò bá trạo. Qua trò diễn, chúng ta chúng ta nhận thấy có một số làn điệu dân ca được đưa vào, trong đó có điệu Hò bá trạo và hệ thống “bài Thần chú” rất độc đáo. Theo nhạc sĩ Hình Phước Long cho biết, hệ thống các “bài Thần chú” trong Hát xà – Hát mộc gồm có: Chú Tề Thiên Đại Thánh, chú Hồ Ly, chú Thổ Địa, chú Ngụy Trưng…mỗi bài Thần chú có cách niệm riêng và không điệu nào giống điệu nào.

Chú Tề Thiên Đại Thánh được xây dựng trên cơ sở đan xen giữa thang âm điệu Bắc và điệu Nam hơi Oán tạo nên sự đỉnh đạt mà vẫn rất dịu dàng.

“ Tung hoành trong thế giới/ Lộng lạc giữa càn khôn

Chốn chốn thảy kinh hoàng/ Nơi nơi đều lạc phách.

Hóa sanh Thạch động/ Hoa quả Tiên sơn

Thủy Liêm động ba ngàn/ Nghĩa không vô tạo hóa…

Chú Hồ Ly Tinh xây dựng trên thang âm hơi Oán, lại hát ở tóc độ khoan thai nên rất ma mỵ.

Hiu hiu gió thổi đầu non

Trâm cài lược giắt môi son má hồng.

Thầy ơi! Thầy cậy nàng cùng

 Đến đây giúp sức anh hùng tương đương.

Cha nàng là vua Phạm Chương

 Mẹ nàng Đế Thích một phường yêu tinh…

Chú Thổ Địa phần đầu sử hơi Bắc nên đỉnh đạt, còn phần sau chuyển sang hơi Xuân nên rất tiên phong đạo cốt.

Hưng phục vọng Thổ Địa ling quang

Tính xưng tâm quảng thế bàng

Kỳ đệ tử tài cao, đức trọng

Kim đạo tử tâm thần đảo vận

Nguyện đàn tràng đại đức chứng tri

Đẩy xe lên cầu chín phương trời

Tám khung thiên ta bà thế giới…

Về khúc thức, các bài Thần chú đều chia làm hai phần: Phần đầu gọi là “Thỉnh”, nhịp điệu tự do, ngâm ngợi, thông thường chỉ gồm 2 – 4 câu; phần sau gọi là “Niệm” có tiết tấu và dài ngắn tùy theo nội dung lời thơ. Hầu hết các bài Thần chú trong Hát xà – Hát mộc đều được hát theo điệu Nam hơi Xuân, hoặc hơi Oán - một đặc sản của âm nhạc vùng đất phương Nam. Đáng tiếc, các bài chú trên đến nay chưa được phổ biến và có nguy cơ bị mai một rất cao.

Cũng trong trò diễn Đàn xà – Trảm mộc, ở lớp cuối có múa Bá trạo mô tả cảnh con thuyền lướt sóng ra khơi trên nền nhạc là một điệu hò biển rất hoàn chỉnh.

“Phiêu phiêu hề nhất trạo ba (hò hỡi lơ!)

Khinh khinh hề tại lân ba,

Thừa phong hành phất phất (hố khoan hò khoan!)

Thừa phong hành phất  phất (hố khoan hò khoan!)

Quơi ... Trạo nhập giáng ca …”

Điệu Hò Bá trạo trên là một độc bản dân ca hiếm hoi được tìm thấy ở Khánh Hòa và cho đến nay chúng tôi cũng chưa phát hiện thấy điệu hò này được sử dụng ở các địa phương khác.

3.

…đến trò diễn Hò Bá trạo

Nếu Đàn xà – Trảm mộc là trò diễn của lễ “Kỳ an tá thổ” thì Hò Bá Trạo là trò diễn riêng có trong “Lễ hội cầu ngư”. Là trò diễn dân gian nên Hò Bá Trạo cũng hội đủ những đặc điểm và mang tính nguyên hợp rõ nét với hình thức biểu diễn tổng hợp gồm hát, múa, các trình thức diễn sân khấu. Đặc biệt, Hò Bá Trạo sử dụng rất nhiều làn điệu dân ca ở các thể loại như: Hò, Vè, Lý, Ngâm và cả các làn điệu được lấy từ sân khấu hát bội như: Thán, Bạch, Xướng, Nam Xuân, Nam Ai… trong đó, hệ thống Hò được khai thác nhiều nhất. 

Theo PGS. TS Đặng Văn Lung thì “Hò” được chia làm hai loại: Hò nghỉ ngơiHò lao động. Hò nghỉ ngơi là câu hò chỉ một người hò trong lúc không làm việc (hay tạm nghỉ việc). Hò lao động là loại hò tập thể có cấu trúc rất đặc trưng gồm: Vế xô: là phần hát đệm của tập thể, có lời hoặc chỉ là những âm mang tính chất tượng trưng, không có ý nghĩa cụ thể (hò khoan, hố hụi, hò hỡi lơ, hơ…ơ…ơ…); âm nhạc của vế xô thường ổn định và đảm nhiệm phần tiết tấu cho điệu hò. Vế kể: là phần giai điệu chính của điệu hò được hát lên theo lời của ca dao; âm nhạc của vế kể không cố định mà có biến chuyển tùy theo từng nội dung của lời ca. Vế xô và vế kể được cấu trúc đan xen nhau để tạo nên một điệu Hò hoàn chỉnh. Trong trò diễn Hò Bá Trạo hầu hết đều là Hò lao động và là lao động trên biển.

Khảo sát nhiều bổn tuồng Hò Bá Trạo đang được sử dụng tại Khánh Hòa, chúng ta có thể tìm lại những điệu hò sau đây:

- Hò bá trạo: Là điệu hò chính nên được lặp đi, lặp lại trong trò diễn nhiều lần. Và có lẽ vì vậy nên tên điệu hò cũng được lấy làm tên trò diễn. Hò bá trạo được xây dựng trên thang âm điệu Nam hơi Ai có khúc thức chặt chẽ gồm: Vế kể cho Tổng Mũi hoặc Tổng Lái hát và vế xô dành cho các Bạn chèo đệm. Tiết tấu của bài hát vừa phải, khỏe khoắn và đậm chất biển khơi. Hiện nay, bài hát này đã được đưa phổ biến khá rộng rãi trong phong trào văn nghệ quần chúng của tỉnh Khánh Hòa.

- Hò nhại: Là một điệu hò xây dựng trên thang âm điệu Nam hơi Oán đầy chất trữ tình, hát theo thể thơ lục bát với tốc độ chậm vừa. Hò Nhại có cấu trúc mở theo lối mô hình, độ dài tùy thuộc theo nội dung và mỗi chu kỳ gồm 2 câu lục bát do Tổng Mũi hát và Bạn chèo hát nhại lại câu bát:

Chu kỳ 1.

Tổng Mũi: Ớ.. ơ… ớ…

Tháng hai (mà) ngày cũng mười hai

 Phật Trời (là) xui khiến nào ai tỏ tường?

Bạn chèo (nhại):

 Phật Trời (là) xui khiến nào ai tỏ tường?

Chu kỳ 2.

Tổng Mũi: Ớ.. ơ… ớ…

Cho hay (mà) hiển hách anh linh

Sống năng (là) tế chúng, thác đành cứu dân

Bạn chèo (nhại): Sống năng (là) tế chúng, thác đành cứu dân…

Bài Hò Nhại có giai điệu tha thiết, phảng phất Hò đưa linh nhưng không u ám nên thường dùng ở các đoạn kể công đức Ông Nam Hải.

- Hò mái dặm: Được xây dựng trên thang âm điệu Nam hơi Oán. Điệu Hò mái dặm có nhịp vừa phải và khỏe khoắn, chia thành hai vế, vế kể dành cho Tổng Mũi hoặc Tổng Lái, về xô do Bạn chèo đảm trách. Đây cũng là làn điệu có cấu trúc theo mô hình và mỗi chu kỳ gồm 2 khổ thơ lục bát (tức 4 câu) được hát theo lối trống mái như sau:

Chu kỳ 1:

Tổng Lái: Bạn ta (mà) ơi hỡi bạn ta

Bạn chèo: Là hụ hò khoan!

Tổng Lái: Chèo sang mái một…

Bạn chèo: Là hụ hò khoan!

Tổng Lái: …rẽ ra hai hàng.

Bạn chèo: Là hụ hò khoan!

Tổng Lái: Lạch làng (mà) xin kỉnh đôi bài

Bạn chèo: Là hụ hò khoan!

Tổng Lái: Xa gần đều cũng…

Bạn chèo: Là ha…ơ…ha… ơ hụ hò khoan!

Tổng Lái: …nơi nơi kỉnh thành.

Chu kỳ 2:

Tổng Lái: Ớ…Thương người (mà) bể ái sa cơ

Bạn chèo: Là hụ hò khoan!

Nối giữa các chu kỳ là câu đưa hơi (ơ…ơ…), với câú trúc mô hình này cho phép bài Hò mái dặm có thể kéo dài tùy theo nội dung lời hát và do vậy rất phù hợp với lối hát kể chuyện. Trong các bổn tuồng Hò Bá Trạo ở Khánh Hòa làn điệu này được dùng trong lớp “Phụng nghinh hồi đình” để kể lể công đức Ông Nam Hải.

- Hò mái ngơi: Điệu hò này là câu hát của Tổng Thương và bạn chèo trong lớp “Phụng nghinh hồi đình”. Hò mái ngơi có nhịp điệu thong thả và giai điệu được xây dựng trên thang âm điệu Nam hơi Oán nên điệu hò tuy trong sáng nhưng vẫn thoáng buồn man mác. Cấu trúc cũng theo lối mô hình. Mỗi chu kỳ gồm một khổ thơ lục bát và phân làm hai lớp trống mái với các vế kể và xô như sau:

Chu kỳ 1:

Tổng Thương: Ớ…Linh đinh (mà) nước chảy giữa dòng

Bạn chèo: Là hò hố phai!

Tổng Thương: Nguyện cùng Trời Phật…

Bạn chèo: Là hò hố phai!

Tổng Thương: … qua miền bồng lai.

Bạn chèo: Ớ …Thùng hố thùng a… Hố phai!

Chu kỳ 2:

Tổng Thương: Ớ… Non cao (mà) thăm thẳm rộng dài

Bạn chèo: Là hò hố phai!

Tổng Thương: Rồng mây ôm ấp…

Bạn chèo: Là hò hố phai!

Tổng Thương: …cá nhàn đua bơi.

Bạn chèo: Ớ …Thùng hố thùng a… Hố phai!

Và cứ thế chu kỳ này dứt, lại kế tiếp chu kỳ sau một cách nhịp nhàng, sinh động.

- Vè tên cá: Trong dân ca, thông thường vè là những câu thơ 4, 5 chữ được một người hoặc nhóm người đọc lên theo một tiết tấu nhất định và ít có tính giai điệu. Nhưng bài Vè tên cá lại cấu trúc như điệu Hò lao động, nghĩa là có vế kể, vế xô đan xen nhau, có giai điệu tương đối rõ nét và cũng theo chu kỳ, nhưng mỗi chu kỳ có thể là 8 hay 10 câu thơ 4 chữ chứ không cố định. Bài Vè tên cá vì vậy cũng là một điệu hò đặc trưng của người xứ biển.

Nghe vẻ nghe ve…(Hụ hò khoan!)/ …nghe vè tôi hát…(Hụ hò khoan!)

Hết tiền hết bạc…(Hụ hò khoan!)/ …là con cá cờ (Hụ hò khoan!)

Đúng lại mà chờ…(Hụ hò khoan!)/…là con cá đợi (Hụ hò khoan!)

Phương xa ông tới…(Hụ hò khoan!)/ …là con cá dài (Hụ hò khoan!)

Vác cuốc đào khoai…(Hụ hò khoan!)/ …là con đỏ củ (Hụ hò khoan!)

Tòng tam tòng ngũ…(Hụ hò khoan!)/… là cái con cá sòng (Hụ hò khoan!)

 Bụng ở không xong …(Hụ hò khoan!)/ …là con cá nóc (Hụ hò khoan!)

Đêm khuya trằn trọc …(Hụ hò khoan!)/ …là con hoàng xa (Hụ hò khoan!)

Mắng mẹ chửi cha…(Hụ hò khoan!)/ …đó là thằng cá dại (Hụ hò khoan!)

 (Hụ hò khoan a…ớ Hụ hò khoan!)

Ngoài ra, trong trò diễn Hò Bá Trạo ở Khánh Hòa còn có điệu Hò lấy neo, Hò đưa Ông, Hò hỡi lơ, Hò đẩy thuyền, Lý tát nước, Hát đò đưa…mà trong khuôn khổ bài viết này chúng tôi xin phép không đi sâu hơn.

Những điệu Hò biển mà chúng tôi vừa nêu trên đây đều có chung đặc điểm là cấu trúc theo lối mô hình, đặc biệt đều được xây dựng trên thang âm điệu Nam hơi Oán – một đặc trưng âm nhạc riêng có của miền đất phương Nam. Do tính chất của thang âm, điệu thức nên những bài Hò biển ở Khánh Hòa dù có khỏe khoắn vẫn giữ được sự mềm mại, tình cảm chứ không mạnh mẽ như các bài Hò giựt chì, Hò giã vôi, Hò hụi…của miền Trung. Điều ấy càng cho thấy khuynh hướng nghiêng về phương Nam của dân ca Khánh Hòa.

Mặt khác, Hò lao động thường có nội dung chủ yếu là tâm tình, đối đáp được hát lên trong lúc làm việc, nhưng những điệu Hò trong trò diễn Hò Bá Trạo lại được dùng để kể chuyện đấy là điều chúng tôi chưa từng gặp. Vì vậy cũng có thể xem những điệu “Hò kể chuyện” như là một “đặc sản” góp phần tạo nên những nét riêng của dân ca Khánh Hòa trong tổng thể chung của dân ca vùng Nam Trung bộ.

Tiểu kết:

Chỉ mới thâm nhập chưa đầy đủ vào hai trò diễn dân gian Đàn xà – Trảm mộcHò Bá Trạo, chúng ta đã phát hiện ra khá nhiều bài dân ca độc đáo, điều đó cho thấy trữ lượng dân ca ở Khánh Hòa còn rất dồi dào. Những làn điệu ấy đã và đang còn được lưu giữ nhờ vào những tín ngưỡng dân gian. Lễ hội Cầu ngư ở Khánh Hòa ngày nay đã được khôi phục lại, được phát huy trong đời sống đương đại nên trò diễn Hò Bá Trạo và những điệu dân ca cũng được bảo tồn, phát huy theo. Riêng việc bảo tồn, phát huy trò diễn Đàn xà – Trảm mộc thì quả là điều khó khăn, vì tục “cúng tá thổ” ngày nay tuy vẫn còn nhưng chỉ được tổ chức ở gia đình chứ không còn được cúng tại đình, miếu của làng như ngày xưa nữa. Khi không gian văn hóa không còn thì trò diễn Đàn xà – Trảm mộc liệu có còn cơ sở khách quan để tồn tại?

Trò diễn Đàn xà – Trảm mộc và những làn điệu dân ca đặc hữu của nó đang có nguy cơ mất đi và cái trữ lượng dân ca dồi dào đang lưu giữ trong ký ức của những người già ở Khánh Hòa chắc chắn cũng sẽ mất dần cùng với thời gian. Còn chúng ta, những người yêu quý các làn điệu dân ca của quê nhà phải làm gì, hay cũng chỉ ngậm ngùi và thở dài nuối tiếc?

                                                  Nha Trang, ngày 01/11/2012

 Hình Phước Liên