QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Lễ Tục Xứ Đồng Hương

Nguyễn Man Nhiên & Võ Triều Dương

 

  • Lễ tục xứ Đồng Hương (kỳ 2)

  • Lễ tục xứ Đồng Hương (kỳ 1)

  •  

     

     

     

     (kỳ 3)

     

    - cúng Thanh Minh:

    Tiết Thanh Minh đến sau khi lập xuân 45 ngày, sau đông chí 105 ngày. Theo âm lịch, ngày này thường rơi vào những ngày đầu tháng 3. Nếu nó rơi vào ngày mồng 3 tháng 3 thì gọi đó là ngày Thanh Minh đích thực. Đây là dịp để người ta thăm nom, sửa sang phần mộ của gia tiên và người thân, sửa lễ tại nghĩa trang, cúng thần linh và mời vong linh về chứng giám cho tấm lòng thành của con cháu. Lễ này do làng tổ chức rất long trọng, có thầy lễ đứng ra điều hành nghi thức, bên phía làng cử vị chánh tế, nghi trượng là trống chiêng cờ xí. Ngày trước, làng nào cũng có phần ruộng tế tự để lấy lợi tức cúng thanh minh.

    Nghi lễ cúng tế các làng đều giống nhau. Buổi sáng, lớp trai trẻ đi vun đắp các mả vô chủ, buổi chiều diễn ra lễ cúng ngoài sân đình hay tại nhà làng. Việc trần thiết lễ cúng gồm một cái bàn ở giữa, chủ trì là 3 ông Tiêu Diện Đại Sĩ, Diệm Khẩu quỉ Vương và Già Na Đại Vương. Tuy phân thân làm 3 vị nhưng qui hiệp lại cũng chỉ là một.

    Nhiều người lầm tưởng lễ cúng thanh minh và lễ cúng tiễn cô hồn sau lễ cúng đình kỳ an là một. Thật ra có hai nghi lễ khác nhau, văn sớ cũng khác nhau.

    Lễ cúng thanh minh có văn sớ do thầy lễ điều hành. Bàn trên thỉnh mời ông Tiêu Diện Đại Sĩ cúng bằng ba con gà cồ, chiếu liệt có đủ đồ xào nấu. Chiếu trong thỉnh mời hai mẹ con bà Man Nương Nguyễn Thị Chúc và Nguyễn Lương, chiếu ngoài mời tất cả các vị cô hồn vô tự không ai cúng quảy mất mồ mất mả.

    Hai mẹ con bà Man Nương và Nguyễn Lương chỉ được coi là đầu đàn của đám cô hồn, chứ không phải thần linh ngang hàng với bậc hạ đẳng thần như ông Táo, ông Địa. Do đó trong văn sớ lúc nào hai mẹ con bà này cũng chỉ được mời chung với đám cô hồn vì cả hai mẹ con là người Đê-Mọi. Đám cô hồn có máu mặt coi thường hai mẹ con bà Man Nương nên ăn hiếp đám cô hồn già cả què dẹo. Bởi vậy lễ cúng thanh minh phải thỉnh ông Tiêu Diện Đại Sĩ giám đàn. Lũ cô hồn đầu gấu rất sợ ông Tiêu. Trong khi ăn, đám cô hồn già cả lương thiện nhờ có ông Tiêu che chở răn đe nên không bị cô hồn mặt rằn đầu gấu gạt đũa giựt chén.

    Sau đây là nghi lễ và văn sớ cúng thanh minh chung cho các làng ở Đồng Hương:

    Việt Nam quốc tuế thứ......nguyệt......nhật......thời...... Khánh Hòa tỉnh, Ninh Hòa huyện, Ninh Thượng xã.... …thôn. Chánh lế Nguyễn Văn A, tỉnh bản thôn viên chức lão hào lý dịch, binh dân gia cư ký ngụ nam phụ lão ấu đại tiểu đẳng cẩn dĩ hàm hâm tư thạnh kim ngân thanh chước thứ phẩm chi nghi. Cảm chiêu cáo vu:

    Diện Đại Sĩ, Diện Khẩu Qủy Vương, Già ma Đại Vương, cập bản cảnh vô tự thập loại âm hồn cô hồn nam nữ đại tiểu đẳng.

    Viết cung duy:

    Tánh thuộc ngũ âm, các xưng thập loại, vi sĩ nông công thương, ngư tiều canh mục. Tiền kiếp vị tu, tăng du ni y thuật, cửu lưu hậu thân bất giới, dữ phù thọ tử hoa nương, dữ chí hành thương bại mại. Hoặc thiên tác nghiệt tử, vu đạo lộ sơn trung. Hoặc vi thủy hỏa mịch vu giang hà hải ngoại, mang mang hồn, lạc tuyền đài, tịch tịch phách qui âm giới. Hoặc tạm sơn yên cốt thân tao ác thú hổ lang. hoạc thiểm hải tầm châu, mệnh ngộ độc xà phong hệ. Hoặc bị kiên chấp nhuệ chi sĩ, bị quá chiến cung nổ sở thương. Hoặc thôi phong hảm trên chi nhân, vi thỉ thạch đao thương sở hại. Mang mang hồn phách vị tiêu, lẫm lẫm hình dung như tại.

    Tư nhân bản thôn thành tâm bố thí, hàn cấp y, cơ cấp thực tích khánh hữi dư. Nịch tư cực, nguy tư phùng thiện hành bất giải cầu chi tác ứng. Kim sóc vọng thanh minh lễ nhật, kinh khải chúc y tín thí. Nguyện cách lai hâm lai hưởng, chí thành chí phước, tự lai bảo thôn ấp nội, vĩnh tràng khang thái. Phục duy cẩn cáo.

    Tạm dịch phần mời các loại cô hồn:

    Tánh vốn năm âm, gọi là mười loại, ấy là sĩ nông công, thương ngư, tiều, canh mục. Kiếp trước chẳng tu như thầy tăng, ni cô, thầy thuốc, thầy bói, đồng cốt... cả chín lối; thân sau không giữ trót làm nghiệp gái buôn hương. Cùng với những kẻ buôn bán sạt nghiệp. Hoặc trời bắt chết oan nghiệt, ở nơi đường mòn, giữa núi. Hoặc gặp nạn nước lửa chết chìm ngoài sông sâu biển cả, bơ vơ hồn lạc suối vàng, mịt mờ hồn về âm cảnh. Hoặc núi sâu hang thẩm, thân gặp ác thú hổ lang. hoặc xuống biển mò châu, thân bị độc xà cắn chết. Hoặc mang gươm dáo nhọn, thân lính ra trận vị cung nõ tử thương. Hoặc lăn sã vào chốn trên tiền, bị tên đá đao thương giết chết. Mơ màng hồn phách chưa tàn, hiển hiện hình dung như thật.

    Hôm nay làng xã thành tâm bố thí, lạnh cấp áo, đói cho ăn các vật đầy đủ. Mọi sự an nguy thảy đều phò hộ cho, làng xã cầu xin việc gì cũng toại ý. Nay gặp lúc chánh tiết thanh minh, kính mời các cô hồn nhận đủ do quần thức ăn, cầu xin vui lòng nhận lấy, kể từ đây hãy phò trợ cho nhân dân toàn làng được khang thái.

    Rập đầu kính cáo.

    Ngoài bài văn sớ bằng chữ Nho, tại địa phương còn lưu truyền một bài phú độc vận bằng chữ Nôm để cúng tế:

    TẾ cô hỒn phú:

    Hỡi ôi! Kiếp người mười loại khắp mười phương

    Hồn phách mơ màng trải gió sương

    Binh lửa bao phen xương thịt nát

    Những mồ vô chủ mà thấy thương

    Nhớ các ân linh xưa:

    Vốn trang hào kiệt nhiều kẻ văn chương

    Hoặc thuở trước tăng nho lý bốc

    Nào người xưa công nghệ nông thương

    Hoặc mấy kẻ tài nhân thất vận

    Cùng những trang chiến sĩ sa trường

    Hoặc người đi biệt xứ vong thân

    Mồ mả lạc không ai cúng tưởng

    Hoặc kẻ chịu thân cô phận quả

    Khói hương tàn không chỗ dựa nương

    Nào những kẻ hoang du biệt cảnh

    Hoặc là người lữ khách vong hương

    Hoặc chốn lao tù hàm oan thọ hại

    Hoặc nơi dây quấn gặp nạn tai ương

    Hoặc những kẻ cơ hàn khổ sở sống nơi góc chợ

    Hoặc tàn tật bơ vơ vùi lấp bên đường

    Hoặc là kẻ trung phong trung dược

    Cùng những người tự ý treo rường

    Hoặc kẻ rủi ro trúng bia đổ ruột

    Hoặc người xấu số nát thịt tan xương

    Hoặc chết trôi trong dòng nước bạc

    Hoặc người cháy thui trong đám lửa hường

    Hoặc có kẻ hùm tha mất tích

    Cùng những người rắn cắn tử thương

    Hoặc mấy kẻ mê chốn lầu xanh

    Không thuốc trị phải đành thiệt mạng

    Ôi thôi! Kể chẳng hết cùng

    Biết bao người hàm oan nơi chín suối

    Nhớ sao cho hết!

     

    Đã lắm hồn uổng tử khắp mười phương

    May gặp lúc thanh minh chánh tiết

    Đồng hương thôn tảo mộ lệ thường

    Chẳng chi hơn tế dung lòng thành

    Xin giám chứng bình hoa nải quả

    Nâng lễ mọn kính dâng đạm bạc

    Xin chứng tri bát nước cầy hương

    Nguyện tâm linh tai thượng hưởng hân

    Giúp làng xã thêm nhiều thạnh vượng

    Nhờ sảng phách minh trung cảm cách

    Hộ toàn kiện nam phụ lão ấu đặng an khương

    Phục duy thượng hưởng!

    Sau khi tế xong là đốt vàng mã, vị chánh tế hô ba tiếng rồi vãi gạo muối bốn phương.

    - CÚNG BÀ HẬU THỔ (cúng đẤt): Xưa cứ đến ngày 18 tháng 3 âm lịch ở xứ Đồng Hương nhà nhà đều có lễ cúng Bà Hậu Thổ - còn gọi là cúng đất hay cúng lệ (khao thổ lệ tế). Nhà nào giàu có, cúng lớn thì thỉnh pháp sư tới làm lễ, nhà nghèo thì gia chủ tự cúng. Nếu cả làng cúng thì gọi là cầu an tống lệ, cứ 3 năm cúng một lần.

    Các cụ bô lão ở địa phương nói rằng, đất đai vùng này là của Bà Hoàng Thiên Hậu Thổ Diệu Tú Phu Nhơn người Chiêm Thành. Gia đình nào muốn làm ăn yên ổn thì hàng năm phải cúng Tá Thổ mướn đất của Bà để làm ăn. Theo Hán tự,   có nghĩa là vay mượn. Nội dung đơn tá thổ tức giấy vay mượn đất tùy theo sự cam kết giữa gia chủ với Bà Hậu Thổ và gia đình Chúa Ngung, Man Nương. Thời gian vay lâu thì tiền bạc (vàng mã) trả nhiều, lễ vật heo gà phải cúng lớn. Thời gian vay ngắn thì trả vàng mã lễ vật ít lại. Thường dân làng chỉ làm đơn vay 3 năm đáo lệ, khi đáo hạn phải làm đơn vay cúng lại trong dịp lễ cúng đất.

    Bản khế ước Tá Thổ do pháp sư viết sẵn mang theo, khi đến phần làm giấy mượn đất, thì các thần như Bà Hậu Thổ, Hành Khẩn, Thổ Địa, gia đình Chúa Ngung, Man Nương lần lượt nhập vào anh xác đồng xưng danh hiệu, phần Cậu Hai Nguyễn Lương cứ đòi “ca lắc” (tiếng dân tộc tức uống rượu) liên tục. Pháp sư ngồi hoặc đứng đọc tờ khế ước này, sau đó yêu cầu tất cả 6 vị thần, chúa quái ấy ký tên lăn tay vào. Đến lượt ai được thầy pháp mời thì nhập vào xác mà ký nhận.

    Xong công đoạn này, pháp sư lấy tờ khế đặt lên bàn Chúa Ngung, bàn Hội Đồng rồi dâng lên bàn Bà Hậu Thổ, sau đó giao cho gia chủ đem cất kỹ. Đáo hạn 3 năm làm giấy lại sẽ đem ra lễ đàn đốt bỏ và nhận tiếp tờ khế mới.

    Ngày trước, lễ cúng đất diễn ra nhộn nhịp lắm. Tùy theo điều kiện kinh tế, nhà nào cũng sắm sửa lễ vật từ hai ba ngày trước để cúng Bà Hậu Thổ và các thần. Chủ yếu phải có gà cồ giò vừa biết gáy, với nhà nghèo ít nhất cũng phải 5 - 6 con, nhà giàu từ 15 đến 20 con. Phải có bộ tam sênh (que, hột, tợ), đồ xào nấu, giấy vàng mã v.v... Trong ngày này không ai mời ai, cúng rồi nhà nào nấy ăn.

    Khi cúng, người ta lập bàn thờ ngoài sân, không cúng trong nhà. Nhà nào có thủ kỳ thờ Hoàng thiên Hậu thổ thì cúng nơi này. Người nông dân xưa quan niệm, Trời là cha, Đất là mẹ, mà ông cha lại cao xa quá, chỉ có bà mẹ mới gần gũi chúng sanh. Để thờ mẹ, với nhà nghèo thì có cái trang Thổ Công trong nhà. Những nhà giàu còn làm cái thủ kỳ trước sân, bên trong thờ hai chữ “Như Tại”  hay“Thần Tại”, nguyên lấy ở câu trong sách Luận Ngữ: “Tế như tại tế thần như thần tại”, nghĩa là: Thờ thần thì phải tin rằng thần luôn có hiện diện tại đây. Trong thủ kỳ có yểm 4 phiến đá ở 4 góc và 4 thanh kiếm bằng tre. Lễ cúng thời ấy đa số đều do thầy pháp hay thầy cúng đứng chủ trì, bởi người dân quan niệm ông thầy vái kỹ hơn.

    Những nhà gần sông trong lễ cúng có lễ thả bè thí cô hồn chết nước tức đám ma da. Người ta lấy bẹ chuối hột làm thành chiếc bè (thuyền), lễ vật chất trên đó gồm thịt, chè xôi… Đến lúc tống bè, có người nâng chiếc bè lên vai chạy đến bờ sông, thả chiếc bè trôi theo giòng nước. Chỉ có đám trẻ chăn trâu bò mới dám bơi xuống sông vớt những phẩm vật này lên ăn, vì người ta tin rằng mục đồng có phẩm vị cao hơn cô hồn tà ma, nên chúng phải kiêng nể.

    - Cúng Đoan NgỌ:

    Ngày xưa, ngoài các cụ đồ và một số người có học vấn, hầu hết chẳng mấy ai biết ý nghĩa của ngày Tết Đoan Ngọ. Trong ngày mùng 5 tháng 5, người dân có lệ đi biếu tặng cho thầy đồ, cho người đã gia ơn cho mình hay đi tặng lễ biếu sui gia nhà gái sắp cưới. Buổi sáng, đình, miễu mở cửa thắp hương chong đèn. Nhà nào cũng làm lễ cúng, cầu nguyện Trời Phật thánh thần và các đấng khuất mặt phò trì cho gia đình được bình an. Lễ vật thường là gà vịt, cá chình, xào nấu bầu bí mướp y như đám giỗ. Vì quan niệm ngày này như ngày Tết nên có nhà còn gói bánh tét xôi chè và đi lại tặng biếu cho nhau.

    - cúng tỐng ôn:

    Trong cả xứ Đồng Hương, chỉ có làng Nghi Xuân là có lễ cúng tống ôn. Lễ diễn ra 3 năm một lần vào tiết xuân hoặc tiết thu, được toàn dân làng hưởng ứng, tổ chức rất trang nghiêm, tốn kém. Phải thỉnh mời một vị đại pháp sư nổi tiếng cao đạo chủ trì buổi lễ.

    Lễ cúng kéo dài khoảng hai giờ đồng hồ. Vào lúc rạng sáng, ban hương lý và dân làng tề tựu đủ mặt. Địa điểm cúng tống ôn lập ngay tại Hòn Đá Vàng phía nam làng Nghi Xuân. Người làng Nghi Xuân tin rằng nếu ba năm không cúng lệ thì ma quái sẽ quậy phá xóm làng, phải mời pháp sư đến chủ lễ cúng cho chúng ăn rồi đuổi chúng đi.

    Đàn tràng và nghi thức được pháp sư đặt định như sau:

    Bàn giữa cao nhất là bàn Tứ vị Thánh Nương. Hai bàn trái và phải đặt lấn bên trước là tả Hành Khiển và hữu Cao Các. Bên ngoài bàn tả Hành Khiển có thêm hai bàn Hành Bệnh và Nội vong. Lại có thêm các bàn Bà Chúa Ngọc đặt trước bàn Cao Các.

    Phần pháp sư đứng trước bàn tả Hành Khiển.

    Bên dưới một vai mang cung tên, một vai vắt khăn ấn. Các học trò theo tập sự cầm thiết bảng và thanh long đao đứng phía sau trợ đàn cho thầy. Trong lễ đàn, thầy pháp không đọc tờ chúc số như vị tướng lễ cúng đình mà chỉ đọc thuộc lòng, khi thì hò hét, khi thì như tụng kinh.

    Lễ vật gồm có heo, gà, vịt và các loại vật phẩm, bánh trái, chè xôi, cơm canh xào nấu, nhiều hơn cả cúng Thanh minh.

    Đầu tiên pháp sư lấy ống tù và thổi ba hồi dài, rồi gõ mõ khai đàn (chiếc mõ chỉ to bằng ngón chân cái thường được thầy đeo lên vai). Hai bàn chân thầy không đứng thành chữ V mà lại đứng hình chữ đinh (giống như chữ T hoa), tức là gót chân phải chạm vào bàn chân trái thẳng góc 90 độ. Sau ba hồi khai mõ thì thầy đọc:

    Phục dĩ

    Lôi oanh điện xế, chấn khu trừ sát phạt chi oai, trảm yêu bạt qui hiển dũng mãnh cang cường chi tướng. Bàng la nhật nguyệt chiều diện càn khôn thùy địa trục nhi duy…

    Tạm dịch:

    Phục dĩ

    Sấm vang sét nổ trừ tà ma chém giết lấy oai, chém yêu giết quỉ mạnh bạo cang cường như tướng. Khắp trong nhật nguyệt soi sáng đất trời...

    Tiếp theo pháp sư mời thỉnh hằng trăm vị thánh thần. Điều lạ là trong đó có mời 8 vị chúa Nguyễn như:

    - Thôi trung dực vận công thần hành hạ Thuận Hóa Quảng Nam đẳng xứ, thái úy Đoan quốc công gia dụ vượng thụy cung ý (Chúa Nguyễn Hoàng)

    - Đại đô thống trấn nam phương tổng quốc chính dực thuận Hiếu Văn Vương thụy minh …(thiếu mất 1 chữ) (Chúa Nguyễn Phúc Nguyên)

    - Đô nguyện súy tổng tể Thuận Hóa, Quảng Nam đẳng xứ, tổng quốc chính chiêu vương thụy hùng địch (Chúa Nguyễn Phúc Lan)

    - Đô nguyên súy, tổng quốc chính công cao hậu dũng triết vương thụy trang chính (Chúa Nguyễn Phúc Tần)

    - Đô nguyên súy, chưởng quốc bỉnh thiệu hưu khiêm thống lĩnh linh vương thụy khoan hồng (Chúa Nguyễn Phúc Thái)

    - Đô nguyên súy bỉnh quốc chính khoan từ nhân hậu y Hinh Vương thụy nghi tuyên đạt (Chúa Nguyễn Phúc Chu)

    - Đại đô thống tề quốc chính tuyên quang thiệu chưởng đính Ninh Vương thụy viết tịnh (Chúa Nguyễn Phúc Thụ)

    Tiếp theo là một số công thần của Chúa Nguyễn. Cuối cùng là thập loại cô hồn...

    Trong những bài kinh thường nói điển tích xưa, pháp sư hò hét dương oai diễu võ như vỗ khăn ấn, dương cung tên. Mỗi khi bước qua xàng lại thì pháp sư đi bộ đinh, đến lúc đuổi chúng quái thì bước theo bộ ất giống như chữ Z. Khi bắn cung thì pháp sư xuống bộ đinh tấn y như thế võ cổ truyền Bình Định. Mỗi vị pháp sư lại có một nghệ thuật riêng khi múa gươm, dương cung tên...

    Cuối cùng là lễ thả bè, diễn ra như sau:

    Trên những cái bè được làm bằng bẹ chuối, người ta bỏ vào trong đó thịt cá, xôi, chè, bánh trái v.v... Mỗi bè cắm hai ba lá cờ tứ sắc hình tam giác. Ban hương lý cử sáu bảy dân đinh bưng thả xuống suối Bàu Nai ở cuối làng. Trên đường đi, pháp sư sai hai để tử tập sự, mỗi người cầm cây thiết bản và thanh đao, vừa đi vừa múa với ý nghĩa xua đuổi đám cô hồn trên cạn đã ăn ban nãy đừng vào cướp giựt. Vật phẩm trong bè này là để bố thí cho đám ma gia ở dưới nước hay số đám cô hồn già yếu không đến đàn tràng được. Bè thả xuống suối trôi chưa được bao xa, có lẽ đám ma gia chưa kịp ăn thì đám chăn trâu bò liền đón lấy ăn hết.

    Lễ tạ pháp sư là gà, vịt, bánh, chuối, xôi và một số đồng tiền xu.

    Lễ cúng tống ôn ở làng Nghi Xuân duy trì hàng trăm năm, đến năm 1968 chiến tranh diễn ra quá ác liệt, dân chúng bỏ làng chạy tứ tán nên từ đó lễ cúng không còn giữ lệ nữa.

    - cúng thưỢng điỀn:

    Vào ngày 20 tháng Chạp âm lịch, sau vụ cày cấy xong. Lễ cúng đơn giản, không có nghi lễ văn sớ, chiêng trống cờ xí. Các hộ nhà nông tự bưng lễ vật lại, có gì cúng nấy. Sau lễ cúng, ông từ đình phân phát xôi bánh cho đám trẻ nhỏ bưng lễ vật; còn gà, vịt, hột vịt... ông để dành cho các người lớn tuổi một chập sau tề tựu lại uống rượu.

    - cúng ruỘng rẪy:

    Khi bắp lúa sắp sửa thu hoạch, người dân nấu chè xôi gánh vô tận ruộng rẫy để cúng cô hồn các bác. Ngày xưa, người Đồng Hương quan niệm rằng ma Hời và ma Đê thường quanh quẩn trong bìa núi, đám này khi còn sống cũng như chết khi ăn thì dùng tay để bốc, do đó chè xôi chỉ múc bới ra trên miếng lá rừng hay bẹ chuối. Ngày nay văn minh hơn, các lễ vật này đựng trong tô dĩa chén và có cả đũa muỗng. Lễ cúng này không đốt vàng mả bởi thời nhân nghĩ rằng ma Đê ma Hời không biết dùng tiền Việt.

    - cúng đẬp mương:

    Lễ cúng này cũng chỉ đơn giản, tuy nhiên lễ vật thịnh soạn hơn, gồm gà, vịt, có khi cúng đầu heo, “que hột tợ” tức bộ tam sên gồm cua biển hai con, hột vịt ba trứng, một cục thịt ba chỉ. Bộ tam sên cúng cho hai mẹ con Bà Man Nương Nguyễn Thị Thúc và Nguyễn Lương để nhậu rượu và có cả thuốc hút nữa. Một con gà cúng bàn ông Cọp chúa, một con gà hay đầu heo cúng Tiền hiền đập mương. Một con gà hoặc vịt cúng Bà Thủy Quan. Dưới chiếu liệt cúng cô hồn các bác, lễ vật làm y như đám giỗ, có chén đũa đàng hoàng. Lễ này có đốt vàng mã. Sau khi cúng xong mọi người gọi nhau ăn nhậu tại chỗ.

    - cúng trưỚc khi vào Núi tìm trẦm kỲ:

    Xứ Đồng Hương quanh năm đều có lễ cúng, bởi vì đây là cửa ngõ chính đi vào núi Vọng Phu. Lễ cúng thường đặt gần bờ suối. Người ta dùng cây rừng làm thành ba cái bàn. Bàn ở giữa cao hơn để cúng Bà Thiên Y A Na, bàn bên trái thấp hơn cúng Cọp chúa, bàn bên phải cúng mẹ con bà Man Nương Nguyễn Thị Thúc và Nguyễn Lương (xem ra hai mẹ con Bà này là được ăn nhậu nhiều nhất), chiếu liệt cúng liệt đẳng cô hồn ma da, ma hú, ma rú, ma đồng, ma Hời, ma chợ, ma mọi, ma rợ v.v...

    Các thứ đồ nghề như rựa, rìu, dủm, gùi địu để giữa, mọi người thành tâm lễ bái, cầu xin bà Thiên Y cho trúng của, chư vị thần linh phù hộ độ trì. Trong lời vái thường có câu: “Sơn hoàn thủy nhiễu dục tú chung linh” ca tụng cuộc đất xứ Đồng Hương.

    Lễ vật là gà, vịt... giống như lễ cúng đập mương.

    - LỄ sai đỒng chỮa bỆnh:

    Ngày xưa mỗi khi người dân bị bệnh, họ được thầy pháp cho uống lá thuốc, nếu không hết mà bệnh nặng thêm thì chỉ còn cách cúng bái cầu thần linh hộ trì. Bệnh càng kéo dài thì người ta tin rằng do bị ma quỉ thần linh quở phạt, chỉ còn cách nhờ các vị pháp sư sai đồng để truy ra căn nguyên mà điều trị.

    Phàm bệnh nhân đến với thầy pháp, lúc nào thầy cũng nói do quỉ thần quở phạt, như Bà Bảy Bình Vôi, Chúa Lộc, Chúa Mối, Bà Man Nương và đám tay chân bộ hạ quỉ vương v.v... Những vị được cầu lên hỏi thăm căn nguyên là cậu Hai Nguyễn Lương, Phó trấn biên tỉnh Phú Yên (dưới quyền trấn thủ Lương Văn Chánh) là ông Đô Dương và Quan Công.

    Nghi lễ cúng tạ (giống như tiền chuộc mạng), tùy theo nhà giàu hay nghèo mà “quỉ thần” đòi. Nếu anh đồng giả quỉ thần đòi lễ nhiều quá thì thầy pháp xin giảm bớt. Hoặc như anh đồng ngồi lắc lư giả đò không chịu thì thầy pháp bắt ấn dọa mời Tề Thiên Đại thánh hay Quan Công về tiêu diệt.

    Gia chủ đặt lễ cho thầy pháp là gà, vịt, xôi, bánh, chuối, rượu, trà… Nếu nhà giàu thì trả thêm tiền bạc./.

     

    Nguyễn Man Nhiên & Võ Triều Dương

     

     

     

    Bài viết chung

     

    >> Trò chơi dân gian xã Ninh Phụng (kỳ cuối) - Võ Triều Dương & N M Nhiên

    >> Trò chơi dân gian xã Ninh Phụng (kỳ 3) - Võ Triều Dương & N M Nhiên

    >> Trò chơi dân gian xã Ninh Phụng (kỳ 2) - Võ Triều Dương & N M Nhiên

    >> Trò chơi dân gian xã Ninh Phụng (kỳ 1) - Võ Triều Dương & N M Nhiên

    >> Chất khôi hài trong vè học chữ Pháp

    >> Văn hóa ẩm thực của người dân Ninh Phụng (kỳ 2) - Võ Triều Dương & N M Nhiên

    >> Văn hóa ẩm thực của người dân Ninh Phụng (kỳ 1) - Võ Triều Dương & N M Nhiên

    >> Rượu nếp Bách Nhật - Đặc sản Ninh Hòa - Võ Triều Dương

    >> Hương sắc xuân xưa Ninh Hòa

    >> Non nước xứ Đồng Hương (kỳ 1)

    >> Non nước xứ Đồng Hương (kỳ 2)

    >> Non nước xứ Đồng Hương (kỳ 3)

    >> Chuyện Thầy Đồ Ninh Hòa

    >> Múa Lục Cúng Hoa Đăng Ninh Hòa - N M Nhiên & Võ Triều Dương

     

     

    Nguyễn Man Nhiên

     

    >> Ngày xuân tản mạn về bonsai và cây kiểng

    >> Văn miếu Diên Khánh

    >> Rồng Việt

    >> Thú chơi tranh Tết dân gian

    >> Lỗ Lường - lễ tục độc đáo ở hòn Đỏ - Ninh Hòa

    >> Tên làng xã Khánh Hòa hồi đầu thế kỷ 19 qua sưu tập địa bạ triều Nguyễn

    >> Nha Trang xuống Chụt bao xa...

    >> Nem Ninh Hòa (kỳ 2)

    >> Nem Ninh Hòa (kỳ 1)

    >> Ăn giỗ đi trước

    >> Mỹ nghệ vỏ hải sản ở Nha Trang

    >> Ngày xuân nhớ lại một số tục cổ, nếp xưa

    >> Thiền sư Tế Hiển, chùa Thiên Bửu Thượng

    >> Các đời quan trấn thủ ở Khánh Hòa xưa

    >> Món ngon trên đời

    >> Về địa danh Vịnh Vân Phong

    >> Múa Lục Cúng Hoa Đăng Ninh Hòa

    >> Chiều chiều mây phủ Đá Bia

    >> Nếp xưa, Tết Việt

    >> Ngày xuân đọc lại "Xứ Trầm Hương" ...

    >> Địa danh gốc Chăm ở Khánh Hòa

    >> Đi tìm di tích Dinh xưa

    >> Phụ lục: Những câu hò giã gạo Ninh Hòa (kỳ 2)

    >> Phụ lục: Những câu hò giã gạo Ninh Hoà (kỳ 1)

    >> Hò Giã gạo - Dân ca Ninh Hoà