QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHỮNG NGÔI CHÙA CỔ BÊN BỜ SÔNG DINH

VÕ TRIỀU DƯƠNG

kỳ 1

 

ĐÔI BỜ SÔNG DINH

Ninh Hoà chỉ có sông DINH là lớn nhất, lòng sông rộng nhưng dòng chảy ra biển ngắn, Theo Đại Nam Nhất Thống Chí-Khánh Hòa, sông này xưa gọi là sông VĨNH AN, VĨNH PHÚ, “ Sông Vĩnh Phú ở phía bắc huyện Tân Định (nay là huyện Ninh Hòa) 2 dặm (850 m), thuở trước tên là SÔNG VĨNH AN “. Sông DINH bắt nguồn từ núi Vọng Phu (cao 2051 m), núi ĐA ĐA (cao 1709 m) chảy ra cửa biển Hà Liên vịnh Nha Phu, dài độ 51 km tính từ núi Vọng Phu đến cửa Hà Liên.                  

Sông Dinh được kết hợp bởi hai nguồn chính là sông Cái và sông Lốt, thêm một nguồn phụ nữa là sông Đá :

- Nguồn thứ nhất gọi là sông CÁI, phát nguyên từ dãy núi Vọng Phu (thuộc tỉnh Đắc Lắc), dài độ 43 km chảy theo hướng bắc nam chừng 14 km, lại đổi theo hướng tây bắc – đông nam, chảy thêm 29 km nữa, qua cầu Dục Mỹ, băng qua địa phận các xã Ninh Xuân, Ninh Bình, Ninh Phụng, qua cầu Bến Gành rồi nhập vào sông Dinh vào một địa điểm gọi là Họng Ngã Ba. Trên thượng nguồn có Thác Bay, hồ EA KRONG ROU (nay là hồ thủy điện), hồ B. Ma Đùng, suối khoáng nóng Dục Mỹ. Tại địa phận xã Ninh Xuân có suối Trầu.

- Nguồn thứ hai là sông ĐÁ hay sông CÂY SAO, cũng có tên là sông ĐỒNG HƯƠNG,  sông TÂN LÂM, sông ĐỤC, dài độ 30 Km. Sông này phát nguyên từ núi Đa Đa (cao 1.709 m) chảy xuống Buôn Lác (thuộc xã Ninh Sim), qua cầu Cây Sao, cầu Ké, đập Điềm Tịnh, cầu sông Đục, nhập vào sông Dinh tại Họng Ngã Ba. Sông băng qua các cánh đồng thuộc các xã Ninh Thân, Ninh Phụng, do nước ruộng chảy ra, dòng nước đục quanh năm nên gọi là sông  ĐỤC.

- Nguồn thứ ba là sông LỐT hay sông ĐÁ BÀN, dài độ 37 km, phát nguyên từ dãy núi vùng Đá Bàn, gần tỉnh Phú Yên, chảy theo hướng bắc nam, chảy vào Hồ Đá Bàn. Đoạn sông này mang tên là sông ĐÁ BÀN, dài độ 14 km. Từ đây hạ lưu sông Đá Bàn được gọi là sông LỐT, dài độ 23 km vì ở đây cây rau lốt mọc rất nhiều. Sông chảy qua địa phận các xã Ninh An, Ninh Trung, Ninh Đông, Ninh Phụng rồi nhập vào sông Dinh tại Họng Ngã Ba. Trên thượng nguồn  sông Lốt tại vùng Hòa Sơn, xã Ninh An có Bến Miễu, Bến Cây Sung, thác Kênh Kênh, thác Dao, thác Cùi Chỏ.

Nơi ba con sông : sông Cái, sông Đá và sông Lốt gặp nhau tại Họng Ngã Ba ở cuối thôn Điềm Tịnh, xã Ninh Phụng, từ đây, sông mang tên là sông DINH, tiếp tục chảy qua Cầu Sắt, cầu Dinh ở thị trấn Ninh Hòa, Cầu Mới ở Cải Lộ Tuyến, cầu Chợ Nhỏ ở Ninh Phú, Ninh Giang, qua địa phận các xã Ninh Giang, Ninh Phú rồi ra cửa biển Hà Liên, đầm Nha Phu, dài độ 8 km. Cửa biển Hà Liên, thường gọi là cửa Bến Đò. Đoạn sông này tương đối sâu và rộng hơn, thuyền nhỏ của ngư dân có thể qua lại đánh bắt cá.

Ra gần đến cửa biển, sông Dinh còn nhận thêm một chi lưu nữa, gọi là SUỐI DÕNG, phát nguyên từ thôn Hội Diêm, Ninh Sơn chảy dọc theo chân núi, theo hướng bắc nam, qua thôn Tân Kiều (thuộc xã Ninh Đa) rồi đổ vào sông Dinh. Sát cửa Hà Liên lại còn có suối nước ngọt từ trên dãy núi TIÊN DU xuống nhập vào sông Dinh.

Tên gọi sông DINH vì thời Chúa Nguyễn, dinh Thái Khang đóng bên bờ tả ngạn sông, tức bờ bắc của sông, gần khu vực Cầu Dinh thuộc thôn Vĩnh Phú, xã Ninh Hiệp, tức thị trấn Ninh Hòa hiện nay. Đây là nơi làm việc của quan Thái Thú dinh THÁI KHANG (sau này đổi thành dinh BÌNH KHANG, có quan Trấn Thủ). Sông chảy ngang qua dinh Thái Thú nên gọi là sông Dinh, Cầu Dinh, Chợ Dinh bên kia sông. Còn Phủ Đường Thái Khang, nơi làm việc của Tri Phủ đóng tại làng Phước Đa, xã Ninh Đa bây giờ.

Sông Dinh hình thành bởi ba nguồn nước, nên dân gian địa phương có mấy câu hát ru con:

Sông Dinh có ba ngọn nguồn

Nhớ em anh phải tìm đường thăm em

Ghé chợ Ninh Hoà mua một xâu nem

Một chai rượu đế, anh uống lỡ say mèm

Nên quên hết nhớ nhung.

Cuối phần thượng lưu sông Đá Bàn trở xuống, cách đây năm sáu mươi năm, lòng sông còn rộng không bị lấn chiếm, tạo thành nhiều bến nước cho cư dân hai bên bờ lội qua lại. Ngày xưa ven bờ mọc nhiều cây lốt (một loại cây rau giống lá trầu nhưng nhỏ hơn xào thịt bò toả ra hương vị thơm ngon, khi người Việt di cư đến thấy đó đặt làm tên sông). Phía bờ tây hữu ngạn sông Lốt là làng Phú Sơn, năm 1886 nơi này nghĩa quân Cần Vương trú đóng do tướng quân Bùi Đản lãnh đạo, đã huyết chiến với quân thực dân Pháp một trận rất oai hùng. Ngày nay tại làng Phú Sơn, Tân Ninh các cụ lão thành vẫn còn đọc lại hai câu vè:

... Có ông Bùi Đản anh hùng

Đánh Pháp một trận lẫy lừng ngàn thu.

Sông Lốt nối dài xuống sông Dinh, trước năm 1954 lấy làm ranh giới giữa hai huyện Ninh Hoà và Vạn Ninh. Hai bên bờ sông, khi người Việt di dân vào thời mở cõi (1653) họ lập nghiệp hai bên bờ, trải qua hằng nhiều đời, vào mùa nắng hạn nông nhàn, trai gái lứa tuổi thanh niên thường băng sông qua lại giao lưu hò hát. Họ gắn bó biết bao nhiêu tình cảm, thể hiện bằng những câu vè mược mà sâu lắng:

Tui lội qua dòng sông Lốt

Tai nghe tiếng giã gạo thùng thình

Biết ai là kẻ thương mình

Cho tôi gắn kết chút tình bên nay sông.

Hoặc lời cô gái làng Phú Lễ bên bờ tây sông Lốt, cất cao giọng hò thánh thót, khi thấy người bạn tình đang đứng bên kia bờ sông:

Em đứng phía tây bờ sông Lốt

Nói với bạn tình ở dưới tuốt Quang Đông

Tại vì cha mẹ nói không

Anh chờ em hẹn uổng công đôi đàng.

Nhưng thật ra đâu phải là vậy, chàng trai đã biết cô bạn gái bội tình, rồi nói trớ đổ thừa cho cha mẹ đó thôi. Chàng đứng bên này sông liền trách móc đắng cay, pha nỗi giận hờn hò đáp trả:

Bên dòng sông Lốt đã mấy trăng qua

Hồi nào bậu hứa với ta

Bây giờ bậu lại đi ra lấy chồng

Ta cắn ngón tay cho máu chảy ròng ròng

Đỏ gan thắm thịt vừa lòng bậu chưa.

Một chàng trai khác đứng dưới bến sông, nghe được câu chuyện tình  lỗi hẹn giữa hai bên bờ sông Lốt, chàng ta cũng cất cao giọng hò trầm lắng, để vừa an ủi cho ai, mà cũng vừa nhắc nhở lòng thuỷ chung của ai:

Tri ngã giả vị ngã tâm ưu

Bất tri ngã giả vị ngã hà cầu ! *

Cái chuyện nhân tình không trước thì sau

Giả chi bịn rịn mà đau lòng chàng.

Cất tiếng kêu: - Bớ thục nữ là nàng

Thề bên Sông phải giữ đừng phụ phàng nghĩa xưa.

(* Nếu biết đến lòng ta rằng ta vẫn nhớ thương nàng (thì tốt), còn chẳng biết đến ta có lòng nhớ thương nàng, thì ta cần chi luyến tiếc đến đàng ấy làm gì !)

Tuy vậy chàng trai luỵ tình kia, vẫn còn bịn rịn chút tơ lòng, đứng bên nay sông Lốt, cố cất lên giọng hò mong níu kéo:

Bậu đi cho hết ba tầng

Phi thiên tẩu địa cũng không bằng bến xưa.

Rồi mãi về sau dọc hai bên bờ sông Lốt, còn biết bao nhiêu cuộc giao lưu nặng chất nghĩa tình gừng cay muối mặn. Hoặc có khi bội ước quên lời thề để chàng trai phải đứng bên bên sông than thở:          

Em đừng lòng mỏng dạ dày

Phỉnh ta hai lược, lược này là ba…

Tất cả những câu hò vè bên sông Lốt ấy, đã đóng góp vào kho tàng văn nghệ dân gian đất Ninh Hoà khá phong phú.

Sông Cái băng qua thị trấn Dục Mỹ rồi chảy vào sông Dinh. Chỉ ở phần hạ lưu sông Cái mới có làng xã hộ dân, còn từ trung lưu trở lên, cách đây vài ba trăm năm hai bên bờ sông không có dân cư sinh sống. Khu vực hai bên thế đất gồ ghề, liên hoàn với rừng núi âm u, thời đó là vương quốc của loài voi cọp.

Ven hai bên bờ sông Đá đoạn trung lưu đến hạ lưu, thuở ngàn năm xưa có hai phế tích lò gạch Hời, sản xuất gạch có người nói dùng gạch này để xây tháp Bà Pô Na Ga Nha Trang. Có nghĩa là ở thời ngàn năm xưa, phần hạ lưu sông Đá chảy vào sông Dinh đổ ra Vịnh Nha Phu, là một thuỷ đạo thuận tiện để người Chăm dùng ghe thuyền, chở gạch từ hai cơ sở sản xuất nói trên, đem vào xây Tháp Bà Nha Trang.

Rừng núi lúc này còn nguyên sinh, hằng năm thời tiết ít biến động bất thường, vào mùa mưa lụt lưu lượng trên các sông chảy xuống điều hoà. Sau mỗi mùa mưa lụt dòng nước còn đầy nửa sông trôi lửng lờ, đây là thời điểm thuận tiện cho cư dân và lái buôn, từ các nơi khác lui tới bằng ghe thuyền trên sông nước Ninh Hoà tấp nập. Dọc theo hai bên bờ sông Dinh, có nhiều bến neo đậu cho ghe thuyền xuôi ngược.

Phần hạ lưu sông Dinh giáp Vịnh Nha Phu có một bến đậu rất nổi tiếng xưa kia gọi là Bến Đò. Nơi đây hình thành chợ Bến Đò khá nhộn nhịp một thời. Bến đậu này là điểm cặp bến cho ghe bầu lớn của giới lái buôn các tỉnh Nam Ngãi Bình Phú và người Minh Hương cũng ghé tàu vào buôn bán lập nghiệp. Đến thời Pháp thuộc, Bến Đò vẫn được họ cặp bến tàu đồng.

Ngày xưa ấy số dân di cư ở Ninh Hoà ở các tỉnh ngoài, lâu lâu mới có dịp về thăm lại quê cha đất tổ, hầu hết đều tập trung xuống Bến Đò để chờ theo thuyền buôn các lái, theo đường biển về quê. Đường bộ vượt sang đèo Cả, ít có người dám đi. Đường đã xa mà điều đáng ngại nhất là nạn cọp chận đường. Người đi xuống bến đò, đa số người đều háo hức, lật đật lử đử, đi thật sớm, quảy đôi nừng mây xuống ngồi đợi chờ đò. Nhưng cũng có một số ít người rề rà chậm bước. Để tả sự trái ngược nhau, đương thời đó có hình thành hai câu vè thuyền khẩu:

Lật đật cũng ngồi chờ ở Bến Đò

Lò mò cũng kịp xuống ngồi ghe.

Phần đầu nguồn sông Dinh là ngã ba nơi hội tụ của ba dòng sông chảy xuống. Tại khoảng ngã ba này khi xưa rất sâu và rộng, nổi tiếng có nhiều ma gia thường rình rập kéo chân người bơi lội gần đó. Bên mạn nam có một bãi cát trắng rộng lắm, ông Lê Quang Định có ghi lại trong sách Nhất Thống Dư Địa Chí, khi khảo tả đoạn đường thiên lý bắc nam qua Ninh Hoà, đi tẻ giữa làng Quang Đông, gần ngã ba sông. Bến ngã ba không phải là điểm ghe neo đậu buôn bán, mà là điểm trung chuyển đường bộ lên các làng xã gần đó. Hoặc sang ghe xuồng nhỏ bơi ngược dòng sông Lốt lên các làng xã phía trên xa kia. Chính ngày xưa các vị thiền sư từ các tỉnh ngoài, vô Ninh Hoà thành lập chùa ven theo hai bên bờ sông Lốt, thường đi theo thuỷ trình từ ngã Bến Đò lên đây.

Cửa biển Hòn Khói thuở ấy ít được ghe bàu các lái cặp bến. Từ Hòn Khói đi lên Ninh Hoà không phải đường sá thông suốt như ngày nay, mà bị ngăn cách năm bảy kênh rạch, phải qua lại bằng xuồng hay lội nước chứ không có cầu, lại thêm nạn cọp beo nữa. Sự trở ngại đi lại giữa Ninh Hoà và Hòn Khói, ngày nay trong dân gian Ninh Hoà nhất là trong chốn thiền môn, vẫn còn truyền khẩu câu chuyện có ông Hoà Thượng Huệ Giáo, phát nguyện đưa đò từ thiện nên ngài được gọi là Hoà Thượng Đò.

Sông nước đất Ninh Hoà vào thời xưa được khảo tả là như vậy.

NHỮNG NGÔI CHÙA CỔ BÊN BỜ SÔNG DINH

Khởi đầu các chúa Nguyễn cho nhiều đợt di dân vào vùng đất mới, thực thi quốc sách cài dân nơi biên cương, để ổn định mặt quân sự và chính trị. Việc di cư thời kỳ đó không phải tự nguyện, mà là sự bắt buộc của nhà chúa đất Nam Hà. Khả năng của chính quyền, không thể lo toan được hệ thống an sinh xã hội nơi vùng đất mới, như chăm lo học hành chữa bệnh cho dân. Từ đó ta có thể hiểu rằng, cộng đồng dân cư ở những thập niên đầu phải gặp nhiều khủng hoảng.

Bấy giờ các chúa Nguyễn liền trực nhớ lại vai trò rất cần thiết ở Phật giáo. Đó là nhờ các nhà sư dấn thân lặn lội vào vùng đất này, để lập chùa tu hành trong cộng đồng dân cư. Các vị sư giàu lòng từ bi sẽ lo tuyên uý việc độ sanh cho lê dân, như: an ủi, dạy học chữ nghĩa từ thiện, lấy thuốc trị bệnh… Tuy nhiên với số ít nhà sư xuất phát từ dòng Kệ Thiên Đồng (Tổ Đạo Giới Định Tông – Phương Quảng Chứng Viên Thông….) do Thiền Sư Siêu Bạch – Nguyên Thiều, từ Trung Hoa truyền sang được đào tạo ra tại đất Nam Hà, không đáp ứng đủ nhu cầu tuyên uý độ sinh ấy. Mà đâu phải nhà sư nào cũng năng nổ ra đi vào vùng đất mới.

Thế thì Chúa Nguyễn Phúc Thái (1687 – 1691) phải thờ Thiền Sư Siêu Bạch – Nguyên Thiều, sang Tàu thỉnh tăng đoàn về Thuận Hoá khai đại giới đàn truyền bá phật pháp. Các Chúa, hoàng tộc, quan lại thi nhau đến giới đàn xin qui y xin làm đệ tử các vị sư, rồi tiếp tục qui y ở các đợt năm sau. Tựu trung lại có chúa Nguyễn Phúc Thái (1687 – 1691), Chúa Nguyễn Phúc Chu

(1691 – 1725) xưng đạo hiệu là Thiên Túng Đạo Nhân, Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738 – 1765) xưng đạo hiệu là Từ Tế Đạo Nhân.

Với những sự kiện hiếm có này đã làm cho tầng lớp tăng sĩ Nam Hà cảm động sâu sắc. Thực tế bên trong của sự việc khai đàn và qui y các chuá Nguyễn có lồng ghép bên trong cái chủ ý chính trị, chứ không phải là sự sùng đạo thuần uý. Ngược dòng lịch sử ta thấy có những ý hướng này đã từng diễn ra, như chuá Nguyễn Hoàng (1558 – 1613) bịa ra chuyện nằm mộng thấy bà nhà Trời, sau đó lập chùa Thiên Mụ để qui tụ nhân tâm. Chứ các chuá đã thấm nhuần tư tưởng Nho gia đậm đà sâu sắc, thì dễ dàng gì kéo nhau vào chùa qui y lễ lạy chư sư!

Bấy giờ chư vị thiền sư xuất phát từ 2 dòng kệ là Chúc Thánh (Minh Thiệt Pháp Toàn Chương – An Chơn Như Thị Đồng ….) và dòng kệ Thiên Đồng mới thật sự cảm động hăng hái ra đi vào dinh Thái Khang tu hành. Trong đó nhiệm vụ chính là tuyên uý hỗ trợ quần sinh. Sự dấn thân của các vị sư vừa để thù ân đến thầy Tổ, mà cũng để thù ân đến các chúa Nguyễn, đã có công ủng hộ đạo Phật, nhất là các chúa dám hạ mình từ ngôi cửu ngũ chí tôn, để qui y làm đệ tử các vị Hoà Thượng. Bao nỗi khổ cực trên đường hành cước, còn là trợ duyên cho việc tu chứng như lời Phật dạy trong kinh:

Khó khăn khổ cực là bạn lữ đồng hành hỗ trợ cho sự tu chứng.

Cuối cùng việc qui y làm đệ tử nhà chùa của Chúa Nguyễn, hoàng gia và quan lại đã đạt đến kết quả tốt. Giải thoát đâu cho riêng mình thì chưa thấy, chứ trước mắt dân cư nơi vùng đất mới Thái Khang (như đất Ninh Hoà) đã được giải thoát. Đó là giải thoát sự buồn nhớ quê cũ ngoài phương Bắc, các sư dạy học xoá mù tại các nhà chùa và hái cây lá thuốc chữa bệnh từ thiện cho mọi người… Cộng đồng cư dân được từ từ kiện toàn cải thiện về nhiều mặt, mà nhà chúa không phải bận tâm.

Như vậy các chúa Nguyễn chẳng phải lồng ghép ý hướng chánh trị bên trong sự vào chùa qui y thọ phái là gì! Chứ thực chất thời kỳ nào cũng vậy, đa số vua chúa và hầu hết quan lại chỉ sùng thượng Nho Giáo rất coi thường giới tăng sãi và không ưa Phật Giáo. Đơn cử như việc thầy trò ông Chu Văn An, Phạm Sư Mạnh đời Trần bài bát Phật Giáo kịch liệt. Ông Nguyễn Cư Trinh (1716 – 1767) còn đem ông sãi bà vãi ra để chế diễu chọc cười trong thi phẩm Sãi Vãi . Hoặc như ông Phạm Đình Toái triều Tự Đức đã dùng rất nhiều câu thơ bài xích Phật giáo trong tập Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca của ông v..v… Chỉ có những vua chúa nào được nương nhờ nơi cửa chùa để thành đạt, như vua Lý Thái Tổ, hay tự mình tu chứng để giác ngộ như các vua đầu nhà Trần, thì mới thực sự tin sùng đạo phật.

Tất cả những ngôi chùa cổ mà đại đa số nằm dọc theo hai bên bờ sông lớn nhỏ tại Ninh Hoà, thời đó ngôi chùa được coi như ngôi nhà chung của mỗi khu vực làng xã. Vừa để người dân đến lễ bái gởi gấm phần tâm linh, còn vừa là nơi các vị tăng sư Hoà Thượng dạy học từ thiện cho dân nghèo. Tất cả chư vị trụ trì các ngôi chùa đều biết chữ nghĩa đọc không viết thạo, dạy chữ nghĩa vừa để truyền đạo mà cũng vừa để khai trí hoá cho quần sanh. Thời đó dân chúng đều nghèo khổ, mấy ai có dư tiền bạc của cải để cho con đến nhà thầy đồ học chữ, thì ngôi chùa được coi như ngôi trường làng.

Hằng hai thế kỷ trước tại Ninh Hoà hầu như làng xã nào cũng có chùa, lập theo ven bờ sông hay bờ bàu có đường đi lại bằng ghe xuồng. Ngày nay một số làng không có chùa nhưng còn lại những tục danh như gò Chùa, Bàu Chùa, Bãi Chùa…. là bằng chứng. Có một điều cũng làm cho người ngày nay đặt nghi vấn, là tại sao đại đa số các ngôi chùa cổ nổi tiếng, đều thành lập dọc theo hai bên bờ sông Lốt và sông Dinh, còn dọc theo sông Cái chạy ngược lên thị trấn Dục Mỹ chẳng thấy ngôi chùa cổ nào. Phải chăng các vị sư thời đó tin theo khoa phong thuỷ địa lý của Tàu?

Thật ra không phải như thế, trong nhà Phật không tin theo khoa dị đoạn này. Việc lập chùa dọc theo sông Lốt và sông Dinh, vừa tiện đi lại bằng ghe xuồng mà cũng gần nơi khu vự dân cư. Hai thế kỷ về trước từ phần trung lưu chỉ có chùa Sắc Tứ Phổ Hoá làng Bình Thành mà thôi. Hơn thế kỷ rưỡi trở về trước ngôi Chùa này được dời vào giữa làng.

Trước khi khảo cứu qua những ngôi cổ tự đọc bờ sông, chúng tôi xin trình bày vài điểm chính xuất xứ chung của các vị tăng sư Hoà Thượng thời kỳ đó.

Kể từ năm 1653 đến ba thập niên sau, khoảng thời gian này không thấy dấu tích Phật Giáo tại đất Ninh Hoà. Giới tăng sĩ lúc này ít lắm chỉ quanh quẩn qui tụ tại đất Thuận Hoá mà thôi. Nếu hiện diện tại Quảng Nam Bình Định của các dòng phái Tào Động, Trúc Lâm, Thảo Đường thì cũng chỉ có ít lắm, không đủ nhân sự để đi theo các đoàn di cư. Các Chúa Nguyễn thấy vai trò cần thiết của Phật Giáo đang lúc này, nên mới thỉnh sư khai đàn để sau đó đào tạo ra tăng sĩ như đã nói ở các trang trước.

Xét thấy tấm lòng sùng thượng Phật Giáo (?) của các Chúa Nguyễn nên sau khi giới đàn hoàn mãn vào khoảng năm 1687, thì các vị Hoà Thượng chia nhau đi vào các tỉnh phía nam ngay. Đi trực tiếp vào Ninh Hoà thời ấy có các vị Hoà Thượng như Minh Phụng, Minh Lượng kế thế Lâm Tế Tông đời thứ 34, Thiệt Địa đời thứ 35. Tiếp theo liền các lớp sau có hàng chữ Tế như Tế Hiển, Tế Dưỡng, Tế Phong… Cùng đời thứ 36. Tất cả những vị từ đời thứ 34-35-36 này đều thuộc dòng kệ Thiên Đồng. Lại có những vị sư thuộc dòng kệ Chúc Thánh kế thế Lâm Tế Tông đời thứ 35-36 như Thiệt Thể, Đạo Minh… cũng đồng thời đi vào Ninh Hoà. Rồi từ đó trở về sau đến cuối đời Chúa Định Vương, chư sư đi vào hoá đạo tại Ninh Hoà đông đảo. Chùa chiền được thành lập, chuông đồng được đúc ra nhiều, đến triều Tây Sơn có lệnh chuông đồng bị tịch thu đúc vũ khí, một số khác được khiêng giấu dưới bàu, sông sâu. Đến nay chỉ tìm được 1 quả đại đồng chung đúc năm 1763.

VTD

Đón xem tiếp kỳ 2