QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHỮNG ĐIỀU KIÊNG KỴ CỦA NGƯ DÂN VÙNG BIỂN ĐẢO KHÁNH HÒA

Biển không chỉ cung cấp nguồn thực phẩm dồi dào nuôi sống ngư dân vùng biển đảo Khánh Hòa mà còn là mối hiểm họa khôn lường. Ngư dân thường gặp phải những tai nạn chết người khi đi biển. Ngoài bão tố, sóng lớn làm chìm ghe thuyền, bị cá lớn, rắn độc biển tấn công, ngư dân còn phải đối phó với dịch bệnh ở các đảo hoang vu ngoài khơi, với những ngày đói khổ do không đi biển được …Họ cảm thấy bất lực trước biển cả bao la, đầy bất trắc, hiểm nghèo, không được dự báo trước, chỉ dựa vào một số kinh nghiệm đi biển của dân gian và từ đó, khi xã hội và khoa học chưa phát triển, họ quan niệm bị bất hạnh là do những thế lực của quỷ thần, tà ma ra tay sát hại. Vì vậy, trong cuộc sống của một ngư dân, họ thường tin vào những thế lực huyền bí mà thường xuyên cúng kiến, lập miếu thờ, cúng tế hàng năm những thần linh vô hình, hữu hình mà trước đây cha ông họ từng tế lễ để cầu mong sự an lành. Đó là Thành Hoàng (những vị Hiền Thần), đó là những linh vật ở biển hiền lành hay hung dữ được các triều vua ban sắc phong, đó là những thần linh vô hình, những hung thần ác quỷ do các thầy cúng, thầy pháp bày vẽ, đó là những người cùng nghề có đức độ đã chết vì nghề nghiệp, chết bất đắc kỳ tử ở các vùng đảo xa… Ngoài ra, họ còn phải tránh những lời nói, hành động hay kiêng một số điều được lưu truyền lại và tin rằng những điều đó có hại cho gia đình, bản thân, nghề nghiệp, nếu kiêng kỵ sẽ tránh được những xui xẻo, những bất hạnh.

Vì tôn thờ cá voi nên ngư dân vùng biển Nam Trung Bộ không đặt cá voi vào đối tượng đánh bắt. Đó cũng là một luật tục, ngư dân luôn phải tuân thủ. Vì tôn thờ cá voi như một vị thần nên nên gắn liền với sự kiêng kỵ, như ngư dân phải gọi cá voi là Ông, nếu là cá voi đực già, còn cá voi cái già thì gọi là Bà, cá voi đực nhỏ thì gọi là Cậu, cá voi cái nhỏ gọi là Cô. Ông ở ngoài khơi thì gọi Ông Khơi, Ông ở gần bờ thì gọi Ông Lộng. Ngư dân cũng gọi loài rùa lớn ở biển là Bà Tím, loại đẻn là Bà Lạch. Cá voi chết thì gọi là Ông lỵ hay lụy. Trong quá trình hành lễ Cầu Ngư, ngư dân không được ăn nói bất kính, cãi lộn, chửi mắng, không say rượu quấy phá. Những người được cử vào ban tế lễ cũng được chọn lọc kỹ : không có tang, đủ vợ chồng, gia đình êm ấm, ăn nên làm ra, vợ không có mang, bản thân không khuyết tật, trai giới trước ngày hành lễ ít nhất ba ngày. Trong khi lấy ngọc cốt, nếu có mùi hôi thối, ngư dân đi thỉnh về lăng không được có hành động khó chịu như nhổ nước bọt, nhăn mặt, nói lời than phiền ..

Trong tác phẩm Tục thờ cúng của ngư phủ Khánh Hòa [1], tác giả Lê Quang Nghiêm còn có ghi lại những điều kiêng kỵ trong sinh hoạt của ngư dân. Trước khi đi biển, tránh nói và tránh nghe những từ như con khỉ, con cọp, con rái hay tên gọi các loài cá, loài đẻn dữ. Khi bưng thúng đựng lưới hay dây câu, không được chui qua võng, dây phơi quần áo hay không cho ai bước qua thúng, để tránh sự ô uế. Khi mới ra ngõ đi biển, tránh gặp người đầu tiên là đàn bà, nhất là đàn bà có chửa. Khi rời bến ra khơi, trên đoạn đường khoảng 1km, tránh sự va chạm một ghe khác. Họ không bao giờ đi thăm đàn bà đẻ còn non tháng, sợ mắc phong long hay cho không cho đàn bà có kinh nguyệt bước lên thuyền. Họ không gọi đích danh những thần linh biển cả. Nếu vì xui xẻo do vi phạm những điều kiêng cử trên, không đánh bắt được nhiều cá, họ phải nhuộm lại lưới hay làm phép xông hơi, dọn rửa ghe thuyền và bày lễ vật giải trừ ...

Võ Khoa Châu tác giả cuốn sách Vạn Ninh,  Đất & Người [2] cũng có nêu ra một số những điều cấm kỵ trong nghề đánh bắt cá của ngư dân. Ngoài những điều kiêng kỵ kể trên, tác giả còn ghi chép những điều kiêng kỵ khác, như : - Ngư dân gọi cá bằng rau, các loại cá  như cá thu gọi là rau dài, cá bông cá bò, cá dưa gang gọi là rau tròn. - Không để dao làm cá rơi xuống biển. Nếu rủi ro phải làm một con dao khác bằng cây hoặc bằng giấy bìa, sơn vẽ giống như con dao thật, sau đó làm lễ vái tạ, ném con dao ấy xuống nước, phải lặn xuống tìm lại con dao đã làm rơi xuống nước. – Khi dùng cây ghim đan lưới không được nói  luồn qua luồn lại mà phải nói  bỏ qua bỏ lại, bỏ lên bỏ xuống . – Không ngồi khoanh tay trên thuyền. – Người có tang hay có vợ đang mang thai không bao giờ được là người đầu tiên vịn tay đẩy thuyền hoặc sương lưới. – Kiêng cữ nói tiếng cọp, khỉ phải gọi thì gọi ông Hổ, ông Hầu. – Nấu cơm không để được khê, khét hoặc cháy. – Không những không được lật nửa phần bên con cá đã ăn, mà còn không bao giờ được nói tiếng lật, ngụ ý kiêng cữ sự lật thuyền. – Không được ăn các loại rùa biển. – Cử không được ăn mít. Theo lệ truyền xưa, ăn mít thì sẽ bị nước biển chảy làm rách lưới, hoặc lưới bị bít đường nước, mất đường cá chạ … Ngoài ra, trong trường hợp hãn hữu thuyền mới chở những người có chửa và nếu có chuyện đẻ trên thuyền là chuyện xui xẻo.

Ngày nay, tuy khoa học công nghệ phát triển, trong cuộc sống tiến bộ, văn minh, nhưng vẫn còn một số ngư dân vẫn giữ những điều kiêng kỵ trên. Sống với biển, sống nhờ biển, ngư dân bao giờ cũng biết ứng xử với biển, với các vị thần linh, với những luật lệ làng chài, pháp luật nhà nước, tuân thủ những hướng dẫn của các cơ quan chức năng để bảo vệ sự an toàn trên biển, đánh bắt nhiều sản lượng, giữ gìn môi trường … , nhưng với những với một số kiêng kỵ được truyền lại từ xa xưa, họ vẫn còn thực hiện, vì dân vạn chài luôn cầu được sự an lành, đánh bắt nhiều sản vật của biển nhiều hơn, cung cấp nhiều tôm cá cho thị trường, bảo đảm được sự ấm no cho gia đình, làm giàu thêm cho đất nước.

NGÔ VĂN BAN

 


[1] Lê Quang Nghiêm, Tục thờ cúng của của ngư phủ Khánh Hòa, tác giả xb, Sài Gòn, 1970.

[2] Võ Khoa Châu, Vạn Ninh, đất & người, Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hòa xb, 2008

 

Bài cùng tác giả

>> Những điều kiêng kỵ của ngư dân vùng biển đảo Khánh Hòa

>> Lấy mật ong rừng

>> Tưởng niệm về một người Thầy - Nhà văn, Nhà giáo Võ Hồng

>> Món Rắn năm Tỵ

>> Chuyện Rắn năm Tỵ

>> Tết Việt xưa và nay trong đời sống dân tộc Việt

>> Người xưa chơi xuân qua tranh khắc của Henri Oger đầu thế kỷ 20

>> Ký ức bến đò quê hương

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 7)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 6)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 5)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 4)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 3)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 2)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 1)

>> Hình ảnh rồng trong đời sống dân tộc Việt

>> Cá vượt vũ môn hóa rồng

>> Tết của một thời ấu thơ

>> Vè Các Lái ngang qua huyện Ninh Hòa

>> Miếu và miễu ở Khánh Hòa (kỳ 2)

>> Miếu và miễu ở Khánh Hoà (kỳ 1)

>> Dinh Trấn Biên Nha Trang dưới thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong có hay không ?

>> Việc giáo dục chữ Lễ trong gia đình và nhà trường

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ Bắc tới Nam (kỳ 2)

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ bắc tới nam (kỳ 1)

>> Thịt mèo

>> Chuyện mèo năm Mão qua câu ca tiếng nói người Việt

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 2)

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 1)

>> Những trường học tại Nha Trang xưa và nay

>> Chất biển trong con cá vịnh Nha Trang

>> Con cọp qua cái nhìn dân gian Việt Nam

>> Món cọp năm Dần

>> Về Diên Khánh ăn bánh ướt

>> Cọp Khánh Hòa

>> Thầy Đồ Cóc

>> Đất Khánh người Hòa

>> Món ngon Năm Sửu

>> Con trâu trong văn học các dân tộc VN

>> Món ngon năm chuột

>> Chuyện chuột năm Tý

>> Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

>> Vịt lội Ninh Hòa

*** Nghề làm bánh tráng ở Xóm Rượu Ninh Hòa:

>> Kỳ 1, kỳ 2, Kỳ 3

*** Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang,

     việc giỗ của người Việt:

>> Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, kỳ 11, kỳ 12