QUI KHUYEN HOC NINH HOA

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CÂU ĐỐ DÂN GIAN NINH HÒA

(kỳ 1)

magnify

Phong cảnh Ninh Hòa

Đỗ Độ

(hội viên Hội VHNT Khánh Hòa. Ông hiện sống tại thôn Tân Tứ, xã Ninh Thượng, huyện Ninh Hòa )

Câu đố là một trò chơi trí tuệ, đã có thời thịnh hành trong sinh hoạt hôi hè đình đám, cưới hỏi. Nhiều trường hợp quan xử kiện nhờ đoán được câu đố mà phá án, hoặc người có tài ứng đối câu đố mà không phải trả nợ, kén chọn vợ chồng... Câu đố chú trọng vào sự vật, mô tả khách quan bên ngoài.

Cách đây năm sáu mươi năm về trước, ai cũng thuộc nằm lòng vài ba câu đố để có dịp thi thố thử tài với nhau. Bà con thường đố nhau trong những giờ lao động sản xuất, những dịp giải trí nghỉ ngơi. Người đố nhau chỉ cần đọc lên, không cần phải biết hát, cho nên già trẻ lớn nhỏ ai cũng sử dụng được.

Câu đố được dùng phổ thông rộng rãi nhất và cũng hết sức bình dị nhất, phản ánh tinh thần ham học hỏi của dân ta. Hầu hết những câu đố sự vật đồ dùng hàng ngày, đôi khi mượn ngưòi để nhân hoá nói về đồ vật.

Bài viết này khảo về những câu đố đặc biệt, trước đây người dân Ninh Hòa thường dùng để đố nhau, trao đổi học hành, nâng cao kiến thức. Nhóm câu đố này gồm những câu đố chữ Nho, câu đố chữ quốc ngữ, có nội dung đề tài về địa lý, lịch sử của dân tộc.

I. Câu đỐ chỮ Nho:

Chữ Nho còn gọi chữ Thánh hiền, chữ Hán (người Ninh Hoà xưa vì kính trọng nên gọi trại âm là chữ Hớn). Trong thời gian dài hơn ngàn năm nước ta lệ thuộc vào Trung Quốc, văn tự cũng theo Trung quốc, nhưng ở Khánh Hoà nói chung, huyện Ninh Hoà nói riêng mới có 350 năm, vì thời gian trước đó đất này thuộc Chiêm Thành.

Trường phủ Bình Hoà được lập tại xã Bình Thành, huyện Tân Định (nay là thôn Bình Thành, xã Ninh Bình, huyện Ninh Hoà) từ đời vua Gia Long. Đến năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) trường được dời về xã Vĩnh Phú, huyện Tân Định. Như vậy thời đó cả một huyện chỉ có một trường để dạy học. Khánh Hoà vì ở xa kinh đô, xa trường thi, thiếu trường học, nên bậc đỗ đại khoa không có. Nhưng đa số dân đinh đều biết đọc biết viết chữ Nho, nhờ học theo phương pháp vè lục bát ráp chữ. Nhờ đó chữ Nho gần như được phổ cập ở khắp mọi làng quê xóm núi. Cách học chữ Nho bằng vè được hình thành rất sớm, có lẽ từ khi phủ Thái Khang được thành lập.

Để thuận lợi cho người học chữ Nho, nhất là những người nghèo khổ không có điều kiện đến nhà Thầy đồ để học, người ta đặt ra những câu đố chữ, có vần điệu thường theo thể thơ lục bát, dễ học thuộc lòng. Chữ Nho được viết theo thể thức tượng hình, cho nên câu đố cũng dùng theo phương pháp tượng hình, mô tả chữ viết theo hình dáng.

Sau đây là những câu đố chữ Nho :

Cô kia đội nón chờ ai

Chớ lấy chú Chệt mà hoài mất thân . (Chữ An )

Hình như con nhạn bay phi

Nhứt nhạn xấu nhứt nhạn phì

Mỗi niên tiến nhứt nguyệt

Mỗi nhứt nguyệt ngộ tam kỳ. (Chữ Bát)

Hỏi:

Hai ngang ba phết

Em biết không hết , em hỏi lại anh?

Từ Hà Nội cho đến kinh thành

Quan sầu dân thảm hỏi anh chữ gì ?

Đáp:

Hai ngang ba phết là chữ thất

Thất là thất thủ kinh đô

Quan sầu dân thảm vì mưu đồ ông quận Thâm! (Ông Quận chỉ ông Nguyễn Văn Tường?)

Ông Vua mọc gạc trên đầu

Hai mươi đứng dưới hầu ngậm miệng làm thinh. (Chữ Thiện)

Em là con gái còn son

Chưa chồng nhưng đã có con đừng gần. (Chữ Hảo)

Một vài câu đố trào phúng:

Đợi ai ba gái thập thò (Chữ Gian - gian nịnh)

Một gái rượn đực chận mò hai trai. (Chữ Điểu: xảo láo)

Dưới chân dãy núi ba non

Có ngàn lẻ tám lúa gòn đơm bông

Đứng dưới có gái chổng mông

Phía sau thằng quỷ ngứa lòng tòm tem. (Chữ Nguy: cao chót vót)

Trên đầu móng ló,

Trước tó chống xiên

Vai mang cung nghiêng

Chột ruột rơi lủm bủm lủm bủm. (Chữ Vi: làm; ẩn ý đứa nhỏ bị chột ruột)

II. Câu đỐ chỮ quỐc ngỮ:

Sang đầu thế kỷ thứ 20, Chính quyền bảo hộ Pháp cổ xuý cho việc học chữ quốc ngữ, vừa tiện lợi dễ học, và cũng muốn nước ta cắt đứt liên hệ, lệ thuộc vào Trung quốc, nên việc thay thế chữ quốc ngữ cho chữ Nho là cần thiết. Hồi đó nước ta, nhất là các tỉnh miền Trung có phong trào Duy Tân phát triển rất mạnh. Phong trào Duy Tân chủ trương nâng cao dân trí, phát triển chữ quốc ngữ, thành lập nhiều trường học, sau đó mới đứng lên giải phóng khỏi ách thực dân Pháp. Chủ trương học chữ quốc ngữ lại phù hợp với ý chính quyền bảo hộ Pháp, nên chính quyền còn tạo điều kiện cho học không có cấm đoán gì cả.

Ở Ninh Hoà thời đó có cụ Trần Quý Cáp là một trong 3 vị lãnh tụ phong trào Duy Tân, xuất thân là tiến sĩ Nho học, nhưng lại tinh thông luôn cả chữ quốc ngữ, được bổ làm Giáo Thọ huyện Tân Định (tên của Huyện Ninh Hoà ngày xưa), nên phong trào học chữ quốc ngữ được phát triển. Năm 1908, Cụ Trần Quý Cáp bị bắt ở Ninh Hoà, rồi đem xử chém ở Diên khánh, phong trào học chữ quốc ngữ không vì thế mà dừng lại.

Theo thống kê ghi trong cuốn “ L’Annam” của Nha Địa Dư Đông Dương, xuất bản năm1931, tại Khánh Hoà từ năm 1920 đến 1922 có 46 trường sơ học, dạy từ lớp năm đến lớp ba (bằng lớp một đến lớp ba bây giờ). Do thiếu trường để học, nên mọi người phải học lóm, học bằng hình thức vè câu đố chữ quốc ngữ.

Theo những người lớn tuổi kể lại, ở Ninh Hoà khoảng những năm 40 thế kỷ XX, ai muốn đi chợ phải qua cầu Bến Gành (nay thuộc xã Ninh Phụng), ở đó có đặt một trạm đố chữ quốc ngữ, ai trả lời được câu đố thì được đi chợ, nếu không phải quay về. Người bị đố thường là những nông dân, thanh niên còn trẻ. Các anh chị không qua được cầu, rau, cà, bầu, bí bị héo úa hết mà phải quay về, nên mắc cỡ lắm, về nhà cố gắng học tập, thế là câu đố chữ quốc ngữ ra đời đáp ứng được nhu cầu học tập của mọi người, nhất là những ai không có điều kiện đến lớp học. Đố chữ là mô hình xã hội hoá học tập thời đó .

1. Câu đỐ chỮ cái :

Cũng giống như câu đố chữ Hán, phần đố những chữ cái diễn tả theo hình dáng của chữ, ví dụ chữ o tròn như quả trứng gà. Những câu đố như vậy thật không khó theo như bây giờ nhận xét, nhưng lúc giao thời giữa hai nền văn hoá đông tây, giữa chữ quốc ngữ và chữ Hán, được như vậy thật là sự cố gắng của mọi người .

Sau đây là những câu đố:

Hai người đứng bắt tay nhau

Chạm trán chạm đầu mà chẳng chạm chưn. (Chữ A)

Bắc thang coi hát phường chèo

Hỏi thang một nấc mà leo nỗi gì? (Chữ H)

Có cây mà chẳng có cành

Có trái cam sành lơ lửng trên không. (Chữ I)

Cái ly để giữa bàn tròn

Hèn lâu coi lại cũng còn như xưa. (Chữ Y)

Ví dầu anh phải vỏ dưa

Khi thấy vỏ dừa thì đã hãi kinh. (Câu này đố ý: Chữ Ê)

2. Câu đỐ nguyên tỪ:

Học xong các chữ cái, chuyển sang ráp vần, vần xuôi rồi vần ngược, tiến trình học tập chữ quốc ngữ như thế, cho nên câu đố cũng theo việc học tập của mọi người. Cũng có nhiều nhà Nho thời đó lên tiếng phản bác chế nhạo học chi chữ Tây chữ U, đánh vần trẹo cả miệng (vần ngược rất khó đánh vần), chứ Hán Nôm ta, dùng cả ngàn năm có sao đâu!

Dù có chê bai, phong trào học chữ quốc ngữ cũng phát triển nhất là trong giới thanh niên. Phần câu đố nguyên từ, không theo phép tượng hình, mà hình thức có nhiều thay đổi phong phú hơn, thường là dùng lối chiết tự, phân từ ấy ra thành nhiều phần, ghép lại thành câu đố.

Vẫn là những câu mở đầu quen thuộc:

Tiếng đồn anh hay chữ

Cho em hỏi thử một vài câu:

Đầu bò mà gắn đuôi heo

Ai mà thấy nó lăn queo tức thì. (Chữ Beo)

Hai anh làm một chiếc ghe

Ở trên có sắc thè lè bụng ra. (Chữ Nghén: Ở giữa có ghe, hai bên có hai anh là hai chữ “N”, nếu thêm dấu sắc là chữ nghén.)

Em là màu của lá non

Bỏ đầu đi sẽ lớn khôn nhất nhà

Chia đôi nửa dưới lìa ra

Nửa trên còn lại chẳng là gần nhau . (Chữ Xanh bỏ chữ X thành chữ anh, chia đôi phần đầu thành chữ Xa)

Tôi thường dùng để đựng

Làm bằng giấy bằng gai

Thêm sắc thành ác thú

Hoặc thông tin trong ngoài

Nếu không may bị ngã

Là lúc trời ra tai

Rồi đến khi đeo nặng

Can đảm chẳng nhường ai. (Chữ Bao thêm dấu sắc thành báo, thêm dấu ngã thành chữ bão, thêm dấu nặng thành bạo)

Tôi là thứ nước để chan ,

Từ khi thêm sắc bay tràn cung mây

Hỏi ai chả thích nơi này

Mang hoa của lá trên cây nhờ huyền. (Chữ Canh)

Thân mình óng mượt như tơ

Nếu thêm dấu sắc là giờ nửa đêm

Huyền vào là chồng đè lên

Hỏi ai giàu có lắm tiền bằng tôi

Nặng thì phải lánh đi thôi

Suy bì hơn thiệt với người sao nên. (Chữ Ti)

Tôi là một giống bò ngang

Nếu thêm dấu hỏi bạc vàng trong tay

Mất u dấu sắc đến ngay

Sinh vật dưới nước hàng ngày lội bơi

Huyền từ đâu bỗng tới nơi

Trở thành quả đỏ ăn thời hơi chua. (Chữ Cua)

Tôi là vũng nước khá sâu

Có sắc trên đầu ai cũng cần tôi. (Chữ Ao)

Xưa tôi làm bạn với than

Thêm huyền thành chú bé ngoan ở trường. (Chữ Tro)

Có huyền thường đứng trên cha

Bỏ huyền thêm sắc nghĩa là biết ngay. (Chữ Thầy, thấy)

Các thi sĩ rất yêu em

Nếu rơi mất nón thì hên quá trời

Chị Huyền đâu bỗng đến nơi

Là đại danh tự chỉ người ngôi hai. (Chữ mây, may, mày)

Hoàng hôn phủ xuống đây rồi

Có sắc để lọt chỗ ngồi thứ chi

Mất đầu bổn phận thiếu nhi

Có hỏi chuyện gì tôi cũng làu thông. (Chữ

Chiều,chiếu, hiểu)

Tao nhân mặc khách ngâm nga

Hỏi thêm là sự hít ra hít vào

Muốn thành tay búa tay bào

Tay đục tay dủa nặng vào khó chi . (Chữ Thơ, thở, thợ)

Tôi đây là một người già

Cũng là tên tướng nước nhà lừng danh

Ngã đi sắc lại thật nhanh

Biến thành lường gạt gian manh hại người

Không còn dấu nữa ôi thôi

Là bịnh gì đó suốt đời ho khan. (Chữ Lão, láo, lao)

Em là biểu hiện quốc gia

Bỏ huyền tiếng Pháp gọi là quả tim

Xê đi bê đến thay liền

Thành ra mỡ sữa để chiên để xào. (Chữ Cờ, cơ , bơ)

Chữ Nho thường gọi là cành

Thêm sắc vào nữa thì thành bọ sâu

Dấu huyền được đánh vào sau

Đem vô lò nấu bắt đầu chảy ngay

Hỏi đi thơ thẩn lại đây

Thì em giúp chị thợ may may hàng. (Chữ Chi, chí, chì, chỉ)

Thân em do đất mà thành

Không huyền một cặp rành rành thứ chi

Khi mà bỏ cái nón đi

Sắc vào thì bụng có gì nữa đâu? (Chữ Đồi, đói)

Chữ chi vì nước hết lòng

Huyền vào thành ý chất chồng lên nhau

Sắc thêm là đúng làm sao

Thay ngã thì hoá lỏm vào khá sâu? (Chữ Trung, trùng, trúng, trũng)

Mang tên em gái cha tôi

Ngã vào thành bửa thịt xôi linh đình

Có quyền to lớn thân hình

Hỏi vào để nối đầu mình với nhau. (Chữ Cô, cỗ, cồ, cổ)

Một châu trong ngũ đại châu

Chữ Nho có nghĩa bay mau lên trời

Thêm quyền mập lắm ai ơi

Mất đầu là mở miệng cười chữ chi? (Chữ Phi, phì, hì)

Không quyền hột nhỏ mà cay

Có quyền vác búa đi ngay vô rừng. (Chữ Tiêu, tiều)

Bà già thì thích

Trẻ nít không ưa

Mất quyền con vật cày bừa giúp ta

Thiếu đầu là của ông gia

Bay mũ thành thứ dân ta ăn nhiều. (Chữ Trầu, trâu, rau)

Bình minh tôi hót vui ca

Thêm huyền thành chữ phong ba dập dìu. (Chữ Chim, chìm)

Để nguyên em đã già đâu

Sắc đội trên đầu che nắng che mưa

Bỏ đuôi bỏ sắc vì thừa

Thành ra bụng trống lúc vừa ăn xong. (Chữ Non, nón, no)

Lòng sâu thẳm vẻ mặn mà

Ở trên trái đất chiếm ba phần rồi

Nếu không có hỏi lôi thôi

Việc người thư ký vẫn ngồi làm luôn. (Chữ Biển, biên)

Đỗ Độ

(đón xem tiếp kỳ 2)

 

Về trước

   

Mọi thông tin về Website xin gởi về webmaster@ninhhoatoday.net