QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Tác Giả

Võ Triều Dương

Tác Phẩm

* Chuyện Thầy Đồ Ninh Hòa

* Non nước xứ Đồng Hương 1, 2, 3

 * Hương sắc xuân xưa Ninh Hòa

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NON NƯỚC XỨ ĐỒNG HƯƠNG

(KỲ 2)

võ triỀu dương

(Võ Triều Dương, hội viên Hội VHNT Khánh Hòa. Ông hiện sống ở thôn Tân Tứ, xã Ninh Thượng, huyện Ninh Hòa; làm ruộng và viết biên khảo về văn hóa - lịch sử địa phương.)

3. Làng xã thuở ban đầu :

Khu vực Đồng Hương lúc khởi thủy có tất cả 7 xã và một thôn phụ dung đó là: Chiêm Dân Đồng Hương, An Xuân, An Lâm, Diêm Tràng, Quy Phú, Trí phu, Thạnh An và thôn phụ dung là Sơn Điền Nàng Hai. Căn cứ theo các tờ đơn ruộng nhà ông Đỗ Thuận thôn Đồng Thân thì khoảng giữa triều Minh Mạng xã An Xuân đổi ra xã Nghi Xuân, xã Chiêm Dân Đồng Hương đổi ra Xã Đồng Hương, khoảng cuối triều Tự Đức (1848 – 1886) xã Đồng Hương đổi ra xã Đồng Thân. Thôn phụ dung Sơn Điều Nàng Hai nhập vào xã Nghi Xuân.

Riêng 5 xã An Lâm, Diêm Tràng, Quy Phú, Trí Phu, Thạnh An nhập chung thành một xã Tân Lâm. Việc nhập chung này xảy ra đương thời kỳ nào ?

Theo tập tài liệu viết tay bằng chữ quốc ngữ vào năm 1960 ở làng Tân Lâm cho rằng, triều Gia Long năm đầu (1802) năm xã nói trên được nhập lại thành một xã Tân Lâm (nay là làng văn hoá Tân Lâm – xã Ninh Thượng). Tập tài liệu này chỉ viết theo lời truyền khẩu tam sao thất bổn không đúng sự thật. Căn cứ theo tư liệu trong sách “Từ Dinh Thái Khang Đến Tỉnh Khánh Hòa” (của hai tác giả Nguyễn Viết Trung và Ngô Văn Ban, Hội VHNT Khánh Hòa xuất bản năm 2004) cho biết địa bộ lập năm Gia Long thứ 11 (1812), thì các xã An Lâm, Quy Phú, Thạnh An, Diêm Tràng, Trí Phu vẫn còn hiện hữu tên làng xã chứ chưa nhập chung, tức là năm 1812 tên làng Tân Lâm chưa có trong địa bộ.

Vậy 5 làng trên nhập chung thành một làng Tân Lâm vào thời điểm nào?

Năm 2001 tôi sưu tầm được một số tư liệu tại làng văn hóa Điềm Tịnh viết tay trong các triều Minh Mạng và Thiệu Trị cho biết, ông thí sai Cai Tổng Thân Thượng là Đặng Văn Đức có chứng nhận bằng chữ ký có cả dấu mộc triện cho các ông lý trưởng xã An Xuân là Nguyễn Văn Thái, lý trưởng xã An Lâm là Phan Phước Hựu.

Trong khi căn cứ theo bộ đinh của làng Điềm Tịnh viết tay đang triều Minh Mạng và gia phả tộc Đặng của làng Điềm Tịnh, thì ông cai tổng Đặng Văn Đức sanh năm 1785, gần 60 tuổi mới làm thí sai cai tổng Thân Thượng, như vậy tất cả năm xã nói trên sát nhập thành một xã Tân Lâm diễn ra chỉ trong khoảng triều Tự Đức. Đầu thế kỷ XX, lưu dân từ các nơi về lập thêm làng Tân Tứ. Cuối thập niên ba mươi ( thế kỷ 20 ) mặt tây bắc xứ Đồng Hương tức thôn một Ninh Trang ngày nay, có các ông tòng cữu phẩm đội ngũ Phạm Xuân Đài, cựu lý trưởng Trần Đề… người làng Điềm Tịnh xã Ninh Phụng lên đây khai phá và mộ dân chúng chuẩn bị lập làng xã mới. Thế nhưng sau tháng 8 năm 1945 cuộc chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, nên chương trình này bị thất bại. Ngày nay tên địa danh cũ tại nơi đây vẫn còn.

Trước xu thế đô thị hoá nông thôn đang bành trướng, đa số các khu vực làng quê Ninh Hoà đã biến chuyễn lần hồi những bối cảnh và lối sống cũ. Đồng ruộng dần dần thu hẹp, hình ảnh làng quê có chất thơ và hoạ của ngày xưa có lẽ không còn nữa, nhưng tại xứ Đồng Hương thì vẫn y nguyên. Phải chăng vì nơi đây biệt lập cách xa phố thị !.

Nơi đây những cánh đồng ruộng bao la, xóm nhà dân qui tụ từng cụm được gọi tên theo đặc tính của mỗi nơi như: xóm Cau, xóm Đá, xóm Gò Mè, xóm Đình, xóm Chùa, xóm Sau, xóm Trước… các xóm ấy thật yên ả trầm mặc dưới những hàng cau cao vút, hoặc giữa cánh đồng ruộng bao la hay kề bên chân núi… Buổi chiều xuống trên đường nội đồng quanh co, lũ trẻ mục đồng cởi trâu hát nghiêu ngao hay huýt sáo lùa trâu về chuồng. Xa xa nơi xóm vắng những sợi khói lam mờ bay cao khỏi ngọn cau, như để vẫy đón những cánh cò là lã bay ngang. Ơ cuối làng cánh đồng rộng bên dòng suối mấy đôi cò trắng còn nuối tiếc nắng chiều, sánh nhau lờ lững rồi đậu nhẹ nhàng xuống đám ruộng.

Một phong cảnh thanh bình thật yên ả nên thơ nơi đồng quê Ninh Hoà dường như chỉ còn lại ở xứ Đồng Hương. Với cảnh trí này nếu khách viễn du bước đến, trong lòng có gợn chất thơ hoài cảm, chắc phải nhớ đến bài tuyệt cú của đức vua Trần Nhân Tông sao mà tả giống cảnh này lắm vậy:

Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên

Bán vô bán hữu tịch dương biên

Mục đồng địch lý quy ngưu tận

Bạch lộ song song phi hạ điền

Dịch nghĩa:

Trước xóm sau thôn tựa khói lồng

Bóng chiều man mác có dường không

Theo hồi kèn mục trâu về hết

Cò trắng thi nhau liệng xuống đồng.

(Ngô Tất Tố)

Cảnh trí xứ Đồng Hương không biết sẽ còn đến bao giờ. Mai kia nếu đô thị hoá đến tận vùng sâu vùng xa, hay có khu công nghiệp nhỏ được hình thành nơi đây, có lẽ lúc ấy cảnh trí đồng quê yên ả ở Đồng Hương chỉ còn trên trang giấy.

III. NẾP SỐNG & VĂN HÓA DÂN GIAN ĐỒNG HƯƠNG

1. Lúa gạo :

Ngày xưa gạo lúa gòn xứ Đồng Hương nổi tiếng thơm ngon nhất phủ Thái Khang (Ninh Hòa – Vạn Ninh), đó là nhờ thổ nhưỡng đặc biệt. Cũng cùng một giống lúa gạo lúa gòn nhưng mỗi khi đi thăm viếng nhau, đa số mọi người đều thích dùng gạo Đồng Hương để làm quà biếu. Mỗi khi tân quan phủ huyện đáo nhậm nhiệm sở mới tại Ninh Hòa, hàng tổng lại phải mang phẩm vật gạo nếp, rượu trà đến chúc mừng gọi là lễ cung hiến tân quan., thì gạo nếp Đồng Hương cũng được tuyển chọn. Có lẽ xứ Đồng Hương được nổi tiếng ngang với vùng đất hòn khói từ đó nhờ có lúa gạo đặc sản.

2. Tín ngưỡng :

Đức tin ngày xưa của cư dân Đồng Hương không phải Phật đạo, chùa chiền hiện hữu tại vùng đất này chỉ có từ nữa thế kỷ trở lại đây. Người dân thờ thần nơi đình làng, tại mỗi nhà đều có ngôi thủ kỳ trước sân để thờ thổ chủ ngày sóc vọng lễ bái nhang khói . hằng năm đến kỳ cúng lệ, những nhà đủ ăn đủ mặc thường hay mời thầy pháp đến cúng tống.

Mỗi miếu thờ bên trong đều có bài trí cung tên, bốn góc dựng bốn thỏi đá và bốn thanh gươm bằng tre để khu trừ tà khí. Ngày nay tại xứ Đồng Hương chỉ còn sót lại vài nhà giữ lệ cũ hàng trăm năm về trước, vẫn giữ ngôi thủ kỳ, với những phiến đá, gươm tre, cung tên vv…

3. Ca dao - Dân ca :

Vùng đất này xa xôi hẻo lánh, từ các tổng xã ở miệt dưới đi lên chỉ bằng một con đường độc đạo rồi lội qua con suối men theo chân đồi. Hai bên rừng cây rậm rạp thường có ác thú ra chận đường. Ngày ấy muốn giao lưu đi lại phải hẹn từng tốp bảy tám người đàn ông mới dám đi, bỡi thế vùng đồng bằng và vùng núi gần như hạn chế giao thiệp. Một thời xa xưa ấy người dân xứ Đồng Hương đâu dễ gì coi được hát bội, để đáp ứng cho nhu cầu văn hóa văn nghệ, trong mỗi vụ mùa thu hoạch lúa gòn thường có tổ chức hò giã gạo và hô bài chòi trải chiếu để tạo nguồn vui giữa chốn sơn thôn.

Những nghệ sĩ đồng quê hô bài chòi trãi chiếu thường không đòi hỏi tiền bạc để trả công, họ có tâm hồn văn nghệ phóng túng, muốn đem lời hô tiếng hát đến cho thôn dân. Đáp lại người Đồng Hương trao tặng cho họ bằng những ghim thuốc lá, một thúng đường đen, hay những chầu nhậu gà nhà cá suối suốt sáng thâu đêm. Đôi khi có một vài cô thôn nữ mềm lòng với tiếng hô bài chòi trải chiếu của chàng, nàng sẵn sàng chấp nhận dâng hiến tình cảm để xin chàng gửi tặng lại cho một hạt giống hò ca, may ra sau này nó noi theo nghiệp đờn ca của bố.

Ngày ấy thường thường chủ ruộng Đồng Hương xuống Hòn Khói rước bọn thợ gặt, chàng trai Hòn Khói khăn gói lên vùng trên mang theo những ký muối trắng để biếu tặng bạn gái ruộng đồng. Những nàng sơn nữ Đồng Hương cũng lịch thiệp mời chàng miếng trầu và tặng lại những ánh gừng thơm cay nồng ấm. Trong nhiều đêm ở lại Đồng Hương gặt hái, dưới ánh trăng thanh bao cuộc hẹn hò giã gạo diễn ra, đây là dịp giao duyên, cuối mỗi năm chỉ có một lần, thế rồi họ phải lòng nhau bằng tình cảm gừng cay muối mặn.

Rồi mùa gặt chấm dứt chàng trai phải từ giả người bạn tình về lại Hòn Khói. Giờ phút này họ bịn rịn nhìn nhau, các nàng đưa tiễn các chàng xuống tận bến nước cuối làng. Họ bước đi một bước dây dây lại dừng, người tình quân lội xuống bến nước cô thôn nữ nhòa lệ cất tiếng giọng hò suông ai oán :

Trăm năm đừng lỗi hẹn hò

Cây đa bến cũ con đò còn đây.

Chàng trai bên bờ suối nghẹn ngào hò đáp lại :

Dù cho trăng khuyết hay đầy

Lòng ta vẫn vẹn chớ phải nghĩa tình.

Nàng đứng nhìn theo cho đến khi tình quân khuất nẽo. Đã ba bốn mùa trăng trôi qua, trên Đồng Hương cô thôn nữ nhớ thương tình quân vô hạn, thế nhưng cánh hồng vẫn bay bỗng tuyệt vời, nàng mõi mòn con mắt mà phương trời Hòn Khói mãi đăm đăm, người con gái Đồng Hương dựa hàng cau nhắn gửi :

Chàng về Hòn Khói chi lâu

Đồng Hương thiếp dựa hàng câu trông chừng.

Hai hàng nước mắt rưng

Nghĩa nhơn mới được nữa chừng thì dong.

Mẹ cha day dứt ròng ròng

Con sao lơ láo lại không làm gì.

…………………………… (mất một đoạn)

Ai làm thiếp bắc chàng nam

Dở tay không nổi sao làm trời ơi !

Nhận được lời nhắn gởi nhớ thương, chàng trai Hòn Khói bộc bạch:

Hòn Khói xa xăm qua lên chưa đặng

Gởi về Đồng Hương trước dặn sau thăm.

Đường dài cát nhỏlăm tăm

Phải duyên trời định bao năm qua cũng chờ

Chờ qua nàng cố công chờ

Chờ như rau muốn lên bờ mới ra bông.

Cũng bởi hai vùng xa lắc, đi lại mất hơn một ngày đường,mà nào dám đi một mình ! thì dù chàng trai Hòn Khói và gô gái Đồng có thương yêu nhau cho mấy cũng không thể lên xuống thăm nhau. Ví thế hàng trăm năm trở về trước, những cuộc tình Hòn Khói và Đồng Hương dù cho nồng thắm nghĩa muối mặn gừng cay, để rồi chỉ mãi sống với nhau trong chiêm bao mộng mị.

4. Chữ Nghĩa - Học Hành :

Xứ Đồng Hương ngày xưa là một khu vực hẻo lánh của huyện Ninh Hoà đất rộng người thưa, ai cũng mong có khách thập phương qui tụ, thôn dân mừng khi có người đến, thương nhớ khi có người ra đi.Tuy một vùng rừng thiêng nước độc, thế nhưng cũng là nơi cư trú an toàn cho những người trị nạn chính trị trong các thời kỳ Tây Sơn, Gia Long và Pháp thuộc. Mọi người không ai tìm tòi lý lịch của ai, miễn đến ở cho đông là tốt.

Thời ấy có những cụ đồ từ các tỉnh ngoài vào đây làm ăn và dạy học giúp một số thôn dân, nhờ thế dù có ở ẩn khuất nơi núi rừng, trong dân cư rất nghèo khổ vẫn có nhiều nguời hiểu biết tiếp cận được chữ nghĩa Thánh Hiền. Đó cũng là một trong những điểm đặc biệt của xứ Đồng Hương.

Đơn cử một trường hợp, cuối triều Đồng Khánh (1885-1889) có một người dáng nho sĩ quắc thước độc thân vào xứ Đồng Hương làm ăn và phụ thêm nghề dạy học, thời nhân gọi là ông thầy già. Thầy rất hay chữ thường làm thơ và câu đối, trước khi nhắm mắt từ giả cỏi đời mới cho biết, thầy là bộ hạ của anh hùng Mai Xuân Thưởng tại Bình Định. Sau khi đại sự thất bại Mai Công tuẩn tiếc, thầy chạy trốn nay đây mai đó, cuối cùng trôi dạt đến xứ Đồng Hương. Thầy còn để lại hai câu đối rất xúc động, khóc giúp cho một người Đồng Hương lúc mẹ chết mà cũng để khóc cho mẹ thầy, ngày nay hai câu đối này còn truyền tụng:

Vị cập kiến từ ân, thiên tải di du thành bất đổ

Nan chu toàn hiếu đạo, nhất triêu vĩnh quyết cánh tăng bi.

Dịch là:

Chưa kịp thấy mẹ hiền, ngàn thuở chơi xa đành chẳng gặp

Khó vẹn toàn hiếu đạo, một buổi mai vĩnh biệt lắm đau thương.

Rồi cũng nhờ những lớp cụ đồ và những người biết chữ đến xứ Đồng Hương cư ngụ, đã đóng góp cho trường phái học chữ nho bằng thơ vè tại Ninh Hoà thêm phong phú. Những năm qua tôi còn sưu tầm một số câu, xin đơn cử:

Xướng: Thuyền ai hai chiếc rộn ràng

Chèo đưa một vạn, gái làng sang chơi.

Bạch: Gái làng, lòng bạc như vôi

Thuyền tìm bến nghĩa, thuyền xuôi bến đình.

Cách đố chữ nho như sau: câu một đố chữ sang là chiếc ghe, gồm chữ chu (thuyền) đứng bên chữ song (hai). Câu hai bốn chữ đầu đố chữ lệ là đi xa, gồm bộ sước ( mái chèo) đứng bên chữ vạn và bốn chữ sau đố chữ lý nghĩa là chị em bạn dâu, gồm chữ nữ (gái) đứng bên chữ lý (làng).

Câu ba: gái làng là đố chữ lý, và đố chữ phạ là sợ gồm chữ tâm (lòng) đứng bên chữ bạch (bạc). Câu bốn: bốn chữ đầu đố chữ nghĩ là thuyền cặp bến, gồm chữ chu (thuyền) đứng bên chữ nghĩa, và bốn chữ sau đố chữ đĩnh (tàu lớn) gồm chữ chu (thuyền) đứng bên chữ đình (sân) ).

(ĐÓN ĐỌC TIẾP KỲ 3)

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi về webmaster@ninhhoatoday.net