QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Tác Giả

Ngô Văn Ban

Sinh năm 1942

Võ Cạnh - Nha Trang

Dạy Việt văn ở TH Ninh Hòa

1970-1974

Nhà giáo ưu tú, hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Khánh Hòa, hội viên Hội Văn nghệ Dân gian VN.

Tác Phẩm

*Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang, việc giỗ của người Việt:

Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ...

* Món ngon năm chuột

 * Chuyện chuột năm Tý

* Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

* Vịt lội Ninh Hòa

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

SỔ TAY TỪ NGỮ PHONG TỤC TẬP QUÁN VỀ VIỆC SINH, VIỆC CƯỚI,

VIỆC TANG, VIỆC GIỖ CỦA NGƯỜI VIỆT

NGÔ VĂN BAN

(Giáo viên dạy văn Trung Học Ninh Hòa trước 1975 – Nhà giáo ưu tú)

LỜI NÓI ĐẦU

            Trong cuộc đời con người cũng như trong một gia đình, một gia tộc, việc sinh, việc cưới, việc tang, việc giỗ là những việc đặc biệt được coi trọng. Và vì vậy, những người ham hiểu biết, ham tìm hiểu, ai cũng muốn biết, ai cũng muốn hiểu những gì mà tập tục diễn ra trước mắt họ. Có những nghi thức lễ nghi, những quan niệm, những sự kiện, những từ ngữ, những tên gọi … về phong tục tập quán xung quanh việc sinh, việc cưới, việc tang, việc giỗ diễn ra trong cuộc sống gia đình, gia tộc, ngoài xã hội, có nhiều việc họ thực hiện hay chứng kiến người khác thực hiện mà không hiểu ý nghĩa như thế nào, tại sao phải thực hiện như thế. Họ chỉ biết “xưa bày nay làm”, người đi trước bày người đi sau.

             Biên soạn quyển SỔ TAY TỪ NGỮ PHONG TỤC TẬP QUÁN VỀ VIỆC SINH, VIỆC CƯỚI, VIỆC TANG, VIỆC GIỖ CỦA NGƯỜI VIỆT này, trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu sách báo trong tủ sách gia đình, đi tìm hiểu thực tế những người đi trước về những phong tục kể trên, người viết, không những thỏa lòng tìm hiểu của mình mà còn có lòng mong muốn lưu giữ vốn văn hóa xưa có thể bị mất mát theo thời gian, và mong cung cấp phần nào những kiến thức cho những người ham hiểu biết, nhất là giới trẻ.

            SỔ TAY cũng mong muốn được ghi lại những tập tục xưa, ít được thực hiện, đã mất hay đã được giản lược, châm chế và những tập tục hiện nay còn thực hiện, diễn giải nguyên nhân, ý nghĩa qua những gì người viết đọc được, biết được, từ đó có nhận xét tục lệ nào hay cần lưu giữ lại, những tập tục nào lạc hậu, lỗi thời, đầy mê tín dị đoan cần phá bỏ.

            Hoàng Quốc Hải, trong tác phẩm Văn hóa phong tỤc (nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2001), sau khi trình bày việc tang, việc lễ, đã có nhận định: “ Song người ta cúng theo thói quen phong tục, chứ thật ra ít người biết từ nguồn gốc. Nếu như nhân dân được hướng dẫn việc cúng lễ này xuất phát từ quan niệm nhân sinh vũ trụ nào, thì hẵn là các thầy phù thủy hết đường bịp bợm. Và từ những nhận thức mê lầm về ma quỷ và thần trùng, khó có thể ám ảnh được con người. Đáng tiếc, các nhà khoa học không chịu giới thiệu cho nhân dân biết. Các cán bộ ngành văn hóa cũng không được trang bị loại kiến thức này. Bởi các trường học của chúng ta, không chịu giảng dạy về nền văn hóa cổ xưa của chính chúng ta …” (trang 50).

            Xét những gì người xưa quan niệm, thực hiện trong việc sinh, việc cưới, việc tang, việc giỗ, có những điều mang đầy tính chất mê tín, có những điều không phù hợp hay trái với với sự phát triển của khoa học ngày nay. Những điều đó, nếu thực hiện không những gây tốn phí tiền bạc, của cải, mất thời gian, xảy ra hậu quả không tốt mà còn có những nguy hiểm đến tính mạng con người. Tuy nhiên, cũng có những phương pháp, những lời khuyên, những kinh nghiệm của người xưa vẫn còn giá trị, phù hợp với xã hội, với khoa học hiện nay.

            Chính cũng muốn đóng góp phần nào cho việc giáo dục, phát triển văn hóa lành mạnh, tạo một nếp sống văn minh mà người viết không ngại tài mọn sức kém, ra công biên soạn SỔ TAY này.          

            SỔ TAY này trình bày theo thể TỰ ĐIỂN, sắp xếp  theo trật tự chữ cái ABC của tiếng đầu, những TỪ NGỮ đề cập đến những vấn đề về phong tục tập quán của người dân Việt như VIỆC SINH, VIỆC CƯỚI, VIỆC TANG, VIỆC GIỖ trong đời sống văn hóa, tín ngưỡng của dân tộc.

            Trong phần giải thích một mục từ, có những từ được IN HOA, tức là từ đó có giải thích thêm trong SỔ TAY, đề nghị độc giả tìm xem giải thích từ IN HOA đó. Ví dụ, giải thích mục từ BÀ MỤ có từ MƯỜI HAI BÀ MỤ, độc giả tìm xem từ MƯỜI HAI BÀ MỤ trong SỔ TAY để rõ thêm.

            Trong SỔ TAY, còn có thêm một số mục từ có liên quan đến việc sinh, việc cưới, việc tang, việc giỗ, giúp cho người đọc rõ hơn những tập tục. Đa số tên gọi các lễ nghi, tiếng gọi các sự kiện lễ nghi đều là những từ Hán Việt. Điều đó cũng dễ hiểu, vì phong tục tập quán của ta, trải qua nghìn năm có nhiều tập tục ảnh hưởng nhiều của Trung Quốc, cùng thực hiện những lễ nghi theo các sách gia lễ viết bằng chữ Hán, tuy ông cha ta cũng giản lược, châm chế ít nhiều. Trong SỔ TAY, để dễ dàng trong việc tra cứu, tìm hiểu, đa số các từ Hán Việt, người viết dịch sang Tiếng Việt và có chú từ Hán Việt bên cạnh.

            Để có SỔ TAY TỪ NGỮ này, người viết, ngoài đi thực tế hỏi han, ghi chép, còn tra cứu nhiều sách, báo, tài liệu đã xuất bản trong nước từ trước đến nay, có nội dung sưu tầm, biên soạn, nghiên cứu phong tục tập quán người Việt về việc sinh, việc cưới, việc tang, việc giỗ. Người viết xin mạn phép được sử dụng các tài liệu đó và vô cùng cảm tạ các tác giả đi trước đã có nhiều công nghiên cứu, sưu tầm, biên soạn đầy giá trị. Nếu như SỔ TAY này có phần hữu ích cho những người đọc, tra cứu, tìm hiểu thì đó là công lao của các nhà nghiên cứu, biên soạn đi trước, để lại những tác phẩm, công trình giúp cho SỔ TAY này được ra đời. Độc giả, nếu thấy phần giải thích này không thỏa mãn, có thể tìm đọc thêm những sách, báo có ghi trong THƯ MỤC THAM KHẢO, được sắp xếp theo thứ tự A,B,C HỌ của tác giả để rõ chi tiết, cụ thể hơn. Để khỏi nặng nề, những sách báo tài liệu trích dẫn có trong SỔ TAY, xin chỉ ghi tên tác giả, tên tác phẩm, sđd (sách đã dẫn), trang. Còn Nhà xuất bản, nơi xuất bản, năm xuất bản đề nghị độc giả xem trong THƯ MỤC THAM KHẢO.

            Cuối phần SỔ TAY là phần TRA CỨU TỪ NGỮ VỀ VIỆC SINH, VIỆC CƯỚI, VIỆC TANG, VIỆC GIỖ có trong SỔ TAY, để độc giả trước khi tìm đọc, xem phần TRA CỨU, có mục từ mình cần tìm hiểu không.

            SỔ TAY có phần PHỤ LỤC, sưu tầm những câu ca dao, tục ngữ Việt Nam nói về vấn đề sinh đẻ, chăm sóc, nuôi nấng trẻ sơ sinh, nói về việc giỗ, thờ phụng tổ tiên. Ngoài ra, PHỤ LỤC còn có những bài viết, bài vè về việc cưới, việc tang, việc giỗ để thấy được phần nào những sinh hoạt xưa mà nay không còn nhiều nữa.

            Cuối cùng, với vốn tri thức có hạn, SỔ TAY sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, sai lầm, kính mong được trao đổi và chỉ dẫn, vô cùng cảm tạ.

                                                                                                                         

PHẦN I: TỪ NGỮ PHONG TỤC TẬP QUÁN VỀ VIỆC SINH

A

AN THAI : Làm cho cái thai được yên ổn.

ÁO DẤU : Áo may bằng vải có in dấu son, được làm phép, được làm ở các đền chùa, cha mẹ cúng bái xin về cho trẻ mặc, tin rằng tà ma sợ uy không dám theo dõi, quấy phá trẻ. Dấu đóng trên áo là dấu vuông, mỗi bề chừng mười phân, đóng bằng mực phẩm điều, không đóng vào vải may quần, vì sợ trẻ mặc quần, có dấu của Thần Phật, trẻ lê lết sinh ô uế, mang tội. Quần thường màu vàng. Áo thường may theo kiểu áo dài, nhưng tà áo ngắn hơn. Áo dấu phải giặt riêng, cất một nơi riêng, không để lẫn áo quần khác, sợ ô uế.

ĂN VÍA : Từ xưa, chỉ việc ăn mừng SINH NHẬT.

B

BÀ ĐỠ : (Xem BÀ MỤ)

BÀ MỤ : Cũng gọi là BÀ ĐỠ, CÔ ĐỠ, CÔ MỤ, người đàn bà chăm sóc, giúp sản phụ khi sinh nở và chăm sóc trẻ sơ sinh, cùng thực hiện những việc bảo hộ sản phụ, trẻ sau khi sinh. Bà Mụ có thể là người có học, có trình độ về khoa sản, hay cũng là người không có chuyên môn, không qua trường lớp nào, nhưng có những hiểu biết riêng, có nhiều kinh nghiệm đỡ đẻ, thường ở vùng nông thôn xưa, thường gọi bà Mụ vườn.  Về Bà Mụ, có chuyện MƯỜI HAI BÀ MỤ.

Trong Nam Bộ có thành ngữ Mút tay bà mụ, Vương Hồng Sển trong Tự vị tiếng Việt miền Nam (sđd), giải thích: “ Ngày xưa có quan niệm các bà mụ vì giúp đỡ sản phụ lúc sanh, và không biết gì về vệ sinh nên tay dơ bẩn hơn ai. Và “mút tay bà mụ” là lời thề độc mà cũng là lời nói đùa, tùy lúc hiểu  “ (trang 475).

BÁN KHOÁN : Đứa trẻ SINH VÀO GIỜ XẤU, thầy bói nói mắc phải giờ quan sát hay kim xà thiết tỏa thì rất khó nuôi. Xưa, ngoài việc rước thầy về cúng lễ, gia đình còn thực hiện việc bán khoán, nghĩa là bán cho Thần Phật, cầu xin Thần Phật bảo vệ trẻ khỏi bị tà ma quấy nhiễu, được khỏe mạnh, sống lâu. Việc bán khoán diễn ra tại điện, chùa và đứa trẻ trẻ từ đó trở thành con nuôi của Thần Phật, mang họ Thần Phật, khi cúng bái phải vái họ Thần Phật. Đứa trẻ này được gọi là con Thần cháu Thánh. Những đứa trẻ này thường tay chân đều có đeo bùa. Việc bán khoán phải có giấy tờ bán khoán, như tờ văn tự bán con, có dấu của điện, chùa.

Trẻ có dự định đưa đi bán khoán phải sống với gia đình mình qua ba tháng mười ngày, sau đó, chọn ngày giờ tốt, gia đình mới đem đến điện, chùa xin bán khoán. Đứa trẻ được bán khoán không nhất thiết sống ở điện, chùa, có thể sống ở nhà mình, và cha mẹ mình coi như nuôi giùm. Đứa trẻ phải mặc ÁO DẤU, đeo bùa ở cổ, ở tay chân thường xuyên trong cả thời gian đi học. Khi đi học, trẻ mặc áo phủ ngoài ÁO DẤU. Sau mười ba hay mười sáu tuổi, tuổi mà người ta tin rằng đã tai qua nạn khỏi, tà ma không quấy nhiễu nữa, cha mẹ có thể xin chuộc khoán, nuôi trong gia đình bình thường như các đứa con khác.

Tục này, ngày nay vẫn còn ở một số nơi, vùng nông thôn, khi gia đình vẫn còn tin vào việc trẻ sinh vào giờ xấu, khó nuôi mà không đưa con đến bác sĩ xem trẻ có bệnh gì không để chữa trị.

BẾ CON CHUI QUA LINH CỮU : Đây là tục lệ xưa, ít người thực hiện, là một trong những cách mà người xưa cho là chữa trị trẻ bệnh hoạn, gầy còm, ốm yếu, khó nuôi một cách hiệu quả. Cách đó là người mẹ nhờ người bế con bệnh hoạn của mình chui qua linh cữu của người mới chết, tốt nhất là người chết già mới nhập quan,  với lòng mong muốn con mình khỏi bệnh, sống lâu và cái bệnh SÀI sẽ rời trẻ, nhập vào linh cữu. Giải thích tục lệ chữa bệnh này, thầy biết chữ Hán xưa giải thích : theo chữ nghĩa, chữ cữu trong linh cữu đồng âm với chữ cữu có nghĩa là tai hại, tội lỗi và còn có một âm là cao nữa (Theo Từ điển của Thiều Chửu, sđd). Chữ cao này có nghĩa là mỡ, to béo (như trong cao lương mỹ vị). Như thế, đứa trẻ chui qua linh cữu sẽ trở thành to béo, không ốm yếu, què quặt nữa. Và nếu người chết là người già, suốt đời ăn ở phúc đức thì trẻ cũng nhờ thế mà sống lâu, hường được phúc đức.

Việc bế con chui qua linh cữu này nhiều khi quá phiền phức, nên có tục người mẹ KÉO LÊ CON QUANH NGÔI MẢ MỚI cũng là cách mà người xưa coi là có thể chữa bệnh cho trẻ như bế con chui qua linh cữu, nhưng đỡ phiền phức hơn.

Nơi đặt linh cữu, nơi mộ mới chôn là những nơi có nhiều xú uế, môi trường không tốt, đưa trẻ đến những nơi đó chỉ làm trẻ thêm bệnh. Một phương pháp chữa bệnh không phù hợp với khoa học hiện nay.

BẾ CON QUA BỤNG VOI : Người xưa cho rằng cách bế con qua bụng voi  là một trong những cách chữa bệnh cho đứa trẻ khỏi gầy còm, ốm yếu và mong muốn trẻ mạnh như ... voi. Thấy trong sách Ký họa Việt Nam thế kỷ 20 (sđd), có bức ký họa mang tên Bế con qua bụng voi, vẽ một con voi to tướng, một người đàn ông nằm sấp trên lưng voi, đầu hơi ngẩng cao. Dưới đất, bên cạnh con voi, một bà mẹ tay bế con, dưới góc tranh có bốn chữ Hán : Trĩ dưỡng chi nhân (nuôi dạy trẻ con). Nếu người mẹ bế con chun qua bụng voi để chữa bệnh cho con thì thực tế, không có người mẹ nào dám bế con chun qua bụng voi cả, vì đó là một hành động nguy hiểm đến tánh mạng. Có người cho rằng lời chú thích bức ký họa Bế con qua bụng voi là không đúng. Họ giải thích, trong chữ Nôm, chữ bụng còn đọc là bóng nữa, nên Bế con qua bóng voi thì hợp lý hơn. Người xưa cho rằng con voi to lớn, khỏe mạnh, bế con qua bóng voi sẽ được hưởng sự khỏe mạnh đó của voi. Còn chữ voi, chữ Hán Việt là tượng. Ngoài nghĩa là con voi, chữ tượng còn có nghĩa là phép tắc (theo Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh, sđd), gương mẫu (Theo Hán Việt tự điển của Thiều Chửu, sđd). Như thế, bế con qua bóng voi còn được hưởng những đức tính, thành người gương mẫu, sống đúng phép tắc. Và đây cũng là một tục về cách nuôi dạy trẻ con, trí dưỡng chi nhân như dòng chữ trên bức tranh đã thể hiện, hơn là một cách trị bệnh.

Có người còn nói chạy chữa bệnh cho con, người mẹ không bế con chui qua bụng voi mà nhờ quản tượng bế đứa trẻ đưa vào miệng voi và ra lệnh cho nó rống. Họ tin, tiếng rống cực lớn của voi có khả năng xua đuổi tà ma làm trẻ khỏi bệnh (?). Khi không có voi, người ta bế con đến chùa có đại hồng chung là quả chuông rất lớn, đặt đứa bé vào trong quả chuông đó và đánh vài ba tiếng. Tiếng chuông ngân vang sẽ làm đứa bé hoảng hồn và tin rằng tà ma cũng thất kinh bỏ chạy, xa rời đứa trẻ, kể cả bệnh tật. Không thấy bệnh tật xa rời đứa trẻ, mà tiếng voi rống, tiếng chuông ngân to sẽ làm cho đứa bé thêm hoảng sợ và có nguy cơ gây hại thần kinh, gây ra bệnh điếc…cho trẻ. Thật là một phương pháp trị bệnh không phù hợp, gây nhiều hậu quả nghiêm trọng.

BỆNH SẢN HẬU : (Xem NHAU THAI)

BỌC TRĂM TRỨNG : Chuyện sinh nở, có thai sinh hai, sinh ba, thậm chí sinh năm sinh bảy, làm chúng ta nhớ đến bọc thai chứa trăm trứng, nở trăm con. Đó là Truyện Hồng Bàng trong sách Lĩnh Nam chích quái (sđd) của Trần Thế Pháp. Truyện có chép nàng Âu Cơ lấy Lạc Long Quân sinh trăm trứng như sau : ” Âu Cơ ở với Lạc Long Quân giáp một năm, sinh ra một bọc trứng, cho là điềm không hay nên bỏ ra ngoài đồng nội; hơn bảy ngày, trong bọc nở ra một trăm trứng, mỗi trứng là một con trai, nàng đem về nuôi nấng, không phải cho ăn, cho bú mà tự nhiên trường đại, trí dũng song toàn, ai cũng úy phục, bảo nhau đó là những anh em phi thường ”. Sau này, năm mươi con trai theo Lạc Long Quân về Thủy phủ, năm mươi con trai theo Âu Cơ ở trên đất “ chia nước mà cai trị, dù lên núi xuống nước, nhưng có việc thì cùng nghe, không được bỏ nhau ” (trang 44).

Từ câu truyện thần thoại trên, ta có từ đồng bào, nghĩa là cùng chung nhau một bọc, chỉ sự cật ruột, có nghĩa rộng là gọi người cùng chung một nước, cùng chung một thứ tiếng, một văn tự, cùng chung một gốc sinh ra…

BÙA : Được xem như một vật có hiển hiện hoặc tàng trữ một sức mạnh thần diệu. BÙA được người xưa xem như có một mối quan hệ đặc biệt giữa người mang nó với những sức mạnh mà nó biểu thị, có năng lực truyền cho con người sức khỏe, trí khôn, sự tin vui. BÙA không những dùng để bảo vệ tà ma, sức khỏe, hạnh phúc mà còn dược dùng để canh giữ sự bất tử của người quá cố. Người Việt xưa thường cho trẻ ốm yếu hay thường đau ốm mang để trừ tà ma, bệnh tật. Bùa là một túi vải màu vàng hoặc đỏ, trong đựng một ít loại dược thảo, bên ngoài vẽ khuôn dấu, những chữ thể hiện những câu thần chú. Bùa được mấy bà mẹ xin ở các đền chùa. Đi đôi với việc đeo bùa, người ta còn cho trẻ mặc ÁO DẤU, hay cho trẻ mang ở ngực, cổ tay, cổ chân những vòng đồng, vòng bạc, dây chỉ ngũ sắc.

Các trẻ con ngày xưa thường đeo nhiều như thế. Và có như thế, xét về mặc tâm lý, làm cho các bậc cha mẹ yên lòng, con mình không bị tà ma quấy phá.

C

CẮT RÚN (RỐN): Sau khi sinh, các bà mụ vườn xưa kiêng cắt rún bằng dao sắt mà cắt bằng mảnh sành, mảnh chai hay cật nứa, cho rằng kim khí kỵ với việc sinh đẻ. Dùng mảnh sành, mảnh chai, cật nứa cắt rún cũng được, nhưng phải khử trùng trước khi cắt. Nhưng, ngày xưa, ít khi các bà mụ vườn khử trùng các vật cắt đó. Chính vì sử dụng các vật chứa nhiều vi trùng này mà  đứa trẻ có thể bị chết vì bệnh uốn ván. Các bà mụ vườn cắt rún, chừa cuống rún dài hơn các nữ hộ sinh ở bệnh viện ngày nay, mỗi cách được giải thích khác nhau. Cuống rún còn lại dính vào bụng đứa trẻ một thời gian sau khi sinh sẽ khô và tự rụng, chỗ đó thành một vết sẹo lõm, gọi là RÚN.

Có thể xem dây rún như cái rễ, mà nhờ nó con người trong trạng thái thai nhi (được gọi là cuống nhau) được cung cấp ôxi và các chất dinh dưỡng từ máu mẹ để bào thai sống và phát triển. Từ chức năng đó mà con người gán cho nó những năng lực như chữa bệnh (có người tin rằng cuống rún khô trị được bệnh đau bụng). Người xưa bảo quản cuống rún trong một túi nhỏ cho đứa trẻ đeo trên cổ, coi như một cái BÙA. Có người lại để dành các cuống rún khô của tất cả con cái trong nhà, khi chúng lớn, tán mỗi rún khô một ít, hoà nhau cho chúng uống, tin rằng chúng sẽ thương nhau hơn, đoàn kết nhau hơn. Điều đó không biết có đúng không, nhưng cho con cái uống thứ nước đó không vệ sinh chút nào.

CẦU CÓ CON : (Xem CẦU TỰ)

CẦU TỰ : CẦU có CON. Người đi lễ cầu tự là người HIẾM HOI, hay mang thai nhưng thường bị SẢY THAI, phải đi cầuu Thần cầu Phật. Họ mang lễ vật đến chùa hoặc đền miếu cầu Phật, cầu Thần Thánh ban cho mình một đứa con để lập tự. Có người đi cầu tự còn để kiếm con trai vì đã đẻ nhiều con gái, hay đi cầu có con gái vì đã đẻ nhiều con trai. Người đi cầu tự cần giữ mình thanh sạch, phải ăn chay niệm Phật, mang lễ vật đầy đủ, phải thành tâm cầu nguyện. Thường người ta đi đến nơi thờ có thờ Phật Bà Quan Âm. Ở miền Bắc, người ta thường đi cầu tự tại chùa Hương. Truyền thuyết Quan Âm Thị Kính rất phổ biến, giải thích lý do tại sao Quan Âm lại được thờ để cầu có con và xin được phù hộ cho con cái. Sự tích Quan Âm cho ta hình ảnh người vợ, người mẹ lý tưởng, mang những tình cảm của người mẹ bẩm sinh. Đứa con không phải chỉ là kết quả của sự hợp nhất giữa đôi nam nữ mà người đời còn tin là kết quả của ý Trời Phật. Vì vậy, khi sự kết hợp giữa đôi nam nữ không có kết quả thì phải cầu xin Trời Phật.

Đào Duy Anh trong sách Việt Nam văn hóa sử cương (sđd) có viết: ”Ở núi Hương Tích có một cái hang đá, thạch nhũ mọc lổm chổm hai bên, tục gọi là núi Cô núi Cậu. Người cầu tự đem lễ vật làm lễ ở trong chùa rồi đem quà bánh đến cúng ở hang núi ấy, xem hòn thạch nhũ nào vừa mắt thì xoa tay vào đầu mà khấn: ” Cậu về ở với vợ chồng nhà tôi nhé ”. Ai nhiều con trai mà muốn cầu con gái thì lại khấn ở dãy núi Cô. Lễ xong người đàn bà cầu tự lại xin nước thải, mua bùa và mua yếm dấu để mang ở mình.” (trang 185). Toan Ánh, trong sách Nếp cũ, con người Việt Nam (sđd) lại còn cho ta biết thêm: ”Những người đi cầu tự, lúc trở về, phải tự coi như đã có một em bé đi kèm theo. Trong suốt hành trình từ nơi cầu tự về nhà, những người này, có những hành động như một người mẹ dắt con theo, mua quà bánh, mua đồ chơi, lúc đi đò trả hai suất tiền đò, lúc ăn cơm có thêm thức ăn dành cho em bé. Khi về tới cửa, những người này gọi người nhà ra đón chú hay đón cậu. Từ buổi đó, đến bữa ăn phải dọn thêm bát đũa cho chú hoặc cho cậu. Người ta sắm sẵn cả nôi để chờ ngày thấy tin lành, nghĩa là ngày người đàn bà thấy những triệu chứng sắp thành mẹ.” (trang 27)

Có người cho rằng con cầu tự rất khó nuôi, thường hay chết yểu. Người xưa cho rằng đó không phải là con của Thần Thánh mà con của con hầu, đầy tớ của Thần Thánh, xin được đầu thai rồi sau Thần Thánh bắt về, nên hay chết yểu. Còn đúng là đứa con của Thần Thánh thì ở lâu với cha mẹ hơn, chắc chắn được cha mẹ nuông chiều, muốn gì được nấy, nên có từ con cầu tự là để chỉ những đứa trẻ được cha mẹ quá nuông chiều, muốn gì được nấy, sinh hư đốn.

CHẠM CUNG LONG : Mắc PHONG LONG (Xem ĐỔ PHONG LONG)

CHĂM SÓC TRẺ SƠ SINH : Ngay từ thời Hùng Vương, người dân Lạc Việt đã chú ý đến việc chăm sóc trẻ mới sinh, con đẻ ra lót lá chuối cho nằm, như sách Lĩnh Nam chích quái  (sđd) đã ghi. Bé mới sinh rất yếu đuối, do đó phải kiêng cử đủ thứ: kiêng gió, không gây tiếng động mạnh khiến trẻ giật mình, phòng chống bệnh tật, kiêng người dữ vía đến thăm, tránh tà ma quấy nhiễu. Đứa bé bị ốm đau, què quặt, họ thường cho bị tà ma quấy nhiễu. Đứa bé SINH VÀO GIỜ XẤU, sợ khó nuôi, cha mẹ phải CHO LÀM CON NUÔI, phải BÁN KHOÁN. Đứa trẻ èo uột, ốm đau luôn, bị SÀI CHẠM CỮ, bị tà ma quấy nhiễu phải ĐEM CON BỎ CHỢ, BẾ CON QUA BỤNG VOI, BẾ CON CHUI QUA LINH CỮU, KÉO LÊ TRẺ CHUNG QUANH NGÔI MẢ MỚI, cho trẻ UỐNG NƯỚC LÒNG ĐÒ, HỚT VÍA... Không được khen đứa bé đẹp, khỏe, phải đặt trẻ tên rất xấu ... để tà ma không bắt bé đi. Mỗi khi bế con đi xa nhà, sợ tà ma ám ảnh, phải bôi nhọ lên trán đứa trẻ. Khi bị phải cỏ ngứa, làm nổi mụt hoặc từng vế đỏ ngoài da (gọi là nổi mần tịt), cha mẹ cho đó là do ma tịt đốt, phải cúng trầu bằng lá lốt, trên chiếc nón mê, cầu ông Cầu bà Quán cho trẻ khỏi, đọc lời khấn : Tôi lạy Ông Tịt Bà Tịt / Ăn cỗ cứt trâu / Ăn trầu lá lốt / Đừng đốt con tôi. Đứa trẻ KHÓC DẠ ĐỀ, hay TRỚ phải tìm thầy tìm cách trừ. Ngoài ra, người ta còn cho trẻ mặc ÁO DẤU, đeo BÙA để trừ ma quỷ, bệnh tật. Khi trẻ sơ sinh bị mắc một số bệnh, có những phương pháp chữa trị dân gian (Xem CHỮA BỆNH VÀ PHÒNG BỆNH CHO TRẺ SƠ SINH THỜI XƯA).

Để da trẻ khỏi nhăn nheo về sau, trẻ cũng phải được hơ lửa than khắp thân thể trẻ. Khi trẻ ngủ, phải sửa đầu nằm cho ngay ngắn để đầu trẻ khỏi bị méo và đặt gối nhỏ, mềm trên bụng trẻ, cho trẻ khỏi giật mình khi thức dậy. 

Ngày nay, có nhiều phương cách chăm sóc trẻ cho bớt mang bệnh (như chích ngừa vắc-xin phòng bệnh), cho trẻ không suy dinh dưỡng …

CHẾT LÚC ĐẺ: “Người đàn bà chết sau khi cho ra đời một đứa con, trong tất cả các nền văn hóa đều có một ý nghĩa thiêng liêng, giống ý nghĩa của việc hiến tế mạng người để bảo đảm tính trường tồn không chỉ của sự sống, mà cả của bộ tộc, quốc gia, gia đình “ (Trích Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, sđd, trang 161).

CHO LÀM CON NUÔI : Đứa trẻ SINH VÀO GIỜ XẤU, thầy bói nói mắc phải giờ quan sát hay kim xà thiết tỏa thì khó nuôi, bệnh tật, hay thầy bảo trẻ có tuổi xung khắc với cha mẹ … Ngoài việc rước thầy về cúng lễ, thực hiện việc BÁN KHOÁN, gia đình còn có thể cho con mình về làm con nuôi một gia đình nào đó. Trước tiên, gia đình phải tìm người hợp tuổi với đứa trẻ, có con cái đông, con cái mạnh khỏe, để đứa trẻ dựa vào mà sống không bệnh tật, mạnh khỏe, mau lớn. Việc cho làm con nuôi chỉ tượng trưng, chính cha mẹ đẻ phải chịu nhiều phí tổn trong việc nuôi nấng, khác với việc cho hẵn con mình cho một gia đình khác làm CON NUÔI.

CHÔN NHAU CẮT RÚN (RỐN) : Ý chỉ nơi mình sinh ra, nơi quê hương của mình. Khi đứa bé lọt lòng mẹ, bà mụ CẮT RỐN đứa bé, người nhà đem cái NHAU THAI đi chôn. Nhau được bỏ vào trong một cái gọ đất nung, bịt kín. Đây là tục lệ người Việt, nơi chôn nhau là nơi quê hương của mình. Lại còn có tục chôn nhau thì phải chôn thật sâu, vì chôn cạn thì sợ đứa bé bị trớ (oẹ, ọc sữa). Khi chôn cần tránh chỗ giọt tranh có nước mưa nhỏ xuống, tránh bé sau này khỏi trốc đầu, toét mắt.

CHUẨN BỊ TRƯỚC KHI SINH : Trước khi sinh, xưa cũng như nay, người đàn bà mang thai cần có những chuẩn bị cho ngày LÂM BỒN của mình :

- Mua sắm áo quần, tả lót, khăn lông, mũ tất, bao tay, ... cho bé. Tục xưa có việc đi xin quần áo cũ trẻ sơ sinh của gia đình người khác về cho con mình mặc. Họ lựa gia đình nào có con cái bụ bẩm, khỏe mạnh, dễ nuôi, ít khóc, ít quấy để xin áo quần về cho con mình, khi con mình mặc áo quần đó, sẽ mong lấy may, sẽ mong cho con mình cũng được sức khỏe như thế. Hơn nữa, ngày xưa không có vải tốt, mịn mềm may áo cho trẻ mà chỉ vải thô ráp, nhuộm màu, mặc có hại cho da trẻ, nên nếu có áo quần trẻ sơ sinh đã qua nhiều lần mặc, giặt, vải sẽ mềm hơn. Hơn nữa, có nhiều nhà nghèo, không thể may haymua áo quần mới và trẻ sẽ chóng lớn, áo quần trẻ sẽ được thay thế trong thời gian ngắn, nên xin cho trẻ mặc tạm, không những mong trẻ được như con trẻ hàng xóm mà người cho cũng hãnh diện, sung sướng vì con họ cũng có hơi hướm con của mình.

- Sắm sẵn nồi đất để đựng nhau thai đem chôn.

- Sắm bình sữa, chuẩn bị bình thủy, ly tách, muỗng ...

- Sắm nôi, chiếu, mùng cho bé.

- Đi thăm thai, khám sức khỏe. Ngày xưa, chỉ biết nhờ thầy thuốc xem mạch, kê đơn cắt thuốc.

Có những người nghèo túng, coi việc có mang, sinh đẻ là chuyện bình thường, dù biết một hai ngày nữa là sinh, nhưng vì sinh kế, vẫn phải đi làm, nhiều khi làm những việc nặng nhọc, nào biết chi tới việc sắm sửa như đã trình bày trên. Tới đâu lo tới đó, nhiều khi mẹ tròn con vuông, có gì nguy hại thì đổ thừa tại ... số.

(xem tiếp kỳ 2)

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi về webmaster@ninhhoatoday.net