QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHỮNG NGÔI CHÙA CỔ BÊN BỜ SÔNG DINH

VÕ TRIỀU DƯƠNG

kỳ 2

 

>> Những ngôi chùa cổ bên bờ sông Dinh (kỳ 1)

 

 

Dọc theo sông nước Ninh Hòa có những ngôi chùa cổ :

1- Cổ Tự Vạn Phước

Hiện toạ lạc tại làng Cung Hoà thuộc xã Ninh Đông. Hiệu chùa Vạn Phước được biết chính xác, là nhờ bút tích của Hoà Thượng Thích Quảng Đức ghi lại, trong một văn kiện bằng chữ Nho vào năm 1935, hiện còn lưu giữ tại chùa Sắc Tứ Thiên Ân gần đó.

Theo lời truyền khẩu trong dân làng thì Chùa Vạn Phước được thành lập một lượt với làng Cung Hoà. Theo địa bộ Gia Long lập năm 1812, làng Cung Hoà thuở xưa gọi là An Hòa thôn. Tính đến nay ngôi chùa này tuổi thọ có đến trên 200 năm. Thời phong trào Cần Vương (1886) ông Bùi Đản kéo quân về đóng tại làng Cung Hoà. Khi Pháp kéo đến truy đuổi quân Cần Vương thì chùa Vạn Phước bị đốt cháy. Người ta nói rằng có lẽ ngôi chùa có liên hệ quốc sự, nên bị giặc Pháp tàn phá. Khoảng thập niên 30, chùa Vạn Phước được dựng lại bằng mái tranh vách đất. Vị Hoà Thượng hiệu Nhơn Thị người Bình Định được mời đến trụ trì. Tháng 8 năm 1945 phòng trào Việt Minh khởi nghĩa, chùa Vạn Phước được Uỷ Ban Kháng Chiến địa phương, đặt làm trụ sở hành chánh. Pháp tấn công đến Cung Hòa, ngôi chùa bị đốt cháy lần hai.

Hiện nay chùa chỉ còn lại cái nền bằng đá và mấy ngôi tháp cổ bằng vữa vôi, tiếp tục bị dòng thời gian bào mòn xuống cấp. Đến nay ngôi chùa vẫn chưa được phục hồi.

2- Sắc Tứ Kim An Tự

Chùa tọa lạc tại làng Phú Gia phía đông (tả ngạn) sông Lốt, thuộc xã Ninh Đông. Hai trăm năm trở về trước làng Phú Gia có 2 ấp cận kề nhau, là Phú Quý và Gia Ngọc, năm 1811 triều Gia Long được nhập chung lại lấy tên là Phú Gia .

Chùa Sắc Tứ Kim An là một trong vài ba ngôi chùa cổ nhất tỉnh Khánh Hoà, được Hoà Thượng Thiệt Địa khai sáng khoảng trên 300 năm. Theo truyền thuyết thì Hoà Thượng người Trung Quốc này có bộ râu dài, chẳng biết đúng hay không. Ngài thuộc dòng Kệ Thiên Đồng kế thế Lâm Tế Tông đời thứ 35, còn theo phổ hệ Thiên Đồng thì ngài ngang đời Tổ thứ 14. Hiện nay trong tỉnh Khánh Hoà có năm sáu ngôi chùa thờ linh vị Hoà Thượng Thiệt Địa và có cả tháp cổ. Chùa nào cũng nói Hoà Thượng Thiệt Đại khai sơn chùa mình trước và khi viên tịch nhập tháp ngay tại chùa mình. Nhưng theo lời truyền khẩu trong dân gian trước kia, thì khi tuổi đã quá già Hoà Thượng phát nguyện tự thiêu trên dàn hoả. Ngài di chúc rằng, sau khi tự thiêu tất cả châu thân đều cháy ra tro, nếu một ngón tay còn lại ấy là ngài đạt đạo vô thượng. Kết quả sau cuộc hoả thiêu, trong đống tro quả còn lại một ngón tay. Đồ chúng thu nhặt xá lợi nhập tháp tại chùa Kim An. Thế nhưng hai ngôi chùa cổ Kim Sơn ở huyện Diên Khánh và Bửu Phong huyện Ninh Hoà, đều nói ngón tay ấy nhập tháp tại chùa của mình. Ngày nay không biết chùa nào nói đúng chùa nào nói sai.

Theo chúng tôi Chùa nào nói cũng đúng cả bởi vì phần tro và xá lợi còn lại được chia đều cho các chùa. Ngày nay trong toàn tỉnh Khánh hoà có 7 ngôi chùa thờ long vị của Hoà Thượng Thiệt Địa với dòng chữ giống nhau:

TỰ LÂM TẾ CHÁNH TÔNG TAM THẬP NGŨ THẾ HUÝ THIỆT ĐỊA THƯỢNG PHÁP HẠ AN ĐẠI LÃO TỔ SƯ GIÁC LINH.

Căn cứ theo long vị này chúng tôi thấy chùa Kim An, do Hoà Thượng Thiệt Địa khai sơn trước tiên tại tỉnh Khánh Hoà là đúng hơn. Bởi vì có một số vị Thiền Sư mỗi khi khai sơn chùa đầu tiên thường lấy một chữ trong pháp hiệu của mình đặt kết với hiệu chùa, ví dụ như: Hòa Thượng Bửu Dương khai sơn chùa Thiên Bửu (Ninh Hoà), Hòa Thượng Viên Giác khai sơn Chùa Giác Hải (Vạn Ninh), Hòa Thượng Viên Nhơn khai sơn chùa Viên Ngộ (Ninh Hoà), Hòa Thượng Nhơn Sơn khai sơn Chùa Thiền Sơn (Ninh Hoà), v..v.. Như vậy chùa Sắc Tứ Kim An được Hoà Thượng Thiệt Địa – Pháp An khai sơn đầu tiên tại Ninh Hoà là có lẽ đúng.

Thời Việt Minh khởi nghĩa (8/1945) chùa được đặt làm trụ sở hành chánh của Uỷ Ban Kháng Chiến tại địa phương. Khi giặc Pháp tấn công đến, chúng ra tay đốt cháy chùa. Đến nay ngôi chùa được trùng tu và ngôi cổ tháp Hoà Thượng Thiệt Địa được phục chế gia cố.

3- Chùa cổ Khai Hoá

Ngôi chùa cổ này toạ lạc thôn Phú Sơn, xã Ninh Trung. Đây là một ngôi chùa đặc biệt tại tỉnh Khánh Hoà, có trực tiếp tham gia  phong trào Cần Vương chống pháp năm 1886 do tướng quân Bùi Đản lãnh đạo chỉ huy.

Bởi vì chùa bị giặc pháp đốt cháy vào khoảng giữa tháng 3 âm lịch năm 1886, nên ngày nay không rõ xuất xứ ngôi chùa. Chỉ theo lời truyền khẩu của các vị lão làng từ bao đời nay, thì chùa Khai Hoá có một lượt với làng Phú Sơn, do một vị đại sư xuất phát từ chùa Kim An làng Phú Gia sang khai sơn. Như vậy tính đến nay chùa Khai Hoá có khoảng vài trăm năm. Theo lời truyền khẩu từ các cụ già làng Phú Sơn được biết chùa Khai Hoá có những dữ kiện liên hệ đến phong trào Cần Vương như sau:

Khoảng trước Tết năm Bính Tuất (1886), tướng quân Bùi Đản kéo quân nghĩa dũng Cần Vương về đóng tại làng Phú Sơn lập căn cứ chống Pháp. Nhân dân các làng Phú Sơn, Tân Ninh, Phú Văn liên cận cùng hăng hái tham gia. Hai ngôi đình làng và chùa được đặt làm cơ sở đồn trú, vị sư trụ trì chùa cũng trực tiếp tham gia chiến đấu. Khoảng sau nửa tháng 3 năm Bính Tuất (1886) quân Pháp tấn công lên làng Phú Sơn. Vị sư trụ trì và dân làng biết thế nào chúng cũng đến đốt chùa, nên cùng khiêng quả đại hồng chung thả giấu dưới chổ sông sâu, còn các tượng Phật đem giấu vào giữa bụi tre. Khi quân Pháp tiến công đến, quân Cần Vương quả cảm quyết chiến, vị sư trụ trì hy sinh tại chiến trường. Lại có nhiều cụ được cha ông kể rằng, vị sư dũng cảm chiến đấu và bị thương, sau đó được khiên lên chiến khu Thùng Nhà Bùi, nhưng cũng chết vì thương tích quá nặng, được nghĩa quân an táng tại chỗ. Ngôi chùa Khai Hoá bị Pháp đốt cháy một lượt với ngôi đình gần bên.

Những ngày sau đó, khi tình hình yên ổn, dân làng tề tựu về, mọi người lén lút đi tìm lại những tượng Phật bằng đồng và gỗ mít, đem gởi sang chùa Thiên An làng Phước Thuận, bên kia sông. Còn quả chuông thả giấu dưới sông chưa dám vớt lên, vì giặc pháp biết chùa Khai Hoá có tham gia mặt trận Cần Vương tại đây.

Sau năm 1960 chùa Khai Hoá được phục hồi ngay trên nền cũ bằng mái tranh vách đất, để ghi nhớ lại dư âm Cần Vương ngày trước. Các tượng Phật gởi bên chùa Thiên An được thỉnh rước về. Dân làng trong suốt từ năm 1954 đến 1960 thường xuyên lặn mò dưới đáy sông để tìm lại quả chuông di tích cũ của chùa, thế nhưng quả chuông đã bị cát đất lấp bồi hay nước lụt cuốn trôi đi đâu không rõ. Điều rất thương tâm đó là vị sư trụ trì đã hy sinh vì đại nghĩa dân tộc, mà không rõ được pháp danh pháp hiệu nên không có bài vị thờ tại chùa. Năm 1965 dân làng Phú Sơn, Tân Ninh tự động quyên góp tiền bạc đúc một quả đại hồng chung mới thay vào cái đã mất. Trên mặt quả chuông có ghi khắc rõ ràng danh hiệu chuông chùa Khai Hoá, để lớp người sau theo đó mà phục hồi.

Thế nhưng đến trước năm 1975 có một ông thầy chùa ở các xã dưới lên làng Phú Sơn rêu rao rằng các ông sẽ phục hồi lại ngôi cổ tự Khai Hoá. Nhưng thực chất là các ông cố ý muốn làm vị tổ khai sơn, nên thay vì phục hồi lại danh hiệu ngôi chùa cổ đã có thành tích với quê hương đất nước, thì ông ta cải tên lại là chùa Linh Sơn và tự đặt mình làm vị Tổ Sư khai sáng. Đang thời đó gặp giữa cơn lửa đạn binh cách, dân làng phải chạy tản mạn khắp nơi, không ai chú ý đến sự kiện này. Sau năm 1975, dân làng hồi cư, chỉ lo chống chọi lại cái nghèo cái đói, cũng không ai chú ý. Tuy nhiên những cụ già biét chuyện nên sinh ra bất bình, nói với con cháu dân làng biết sự kiện này để dịp tiện nào đó, có thể phục hồi lại danh hiệu chùa xưa. Năm 2009 dân làng và thầy trụ trì chùa Linh Sơn (tức hiệu chùa mạo danh) đang dự định chương trình làm đơn xin chính quyền huyện Tỉnh cho phục hồi lại danh hiệu cổ tự Khai Hoá.

4- Chùa Sắc Tứ Thiên An

Chùa Sắc Tứ Thiên An toạ lạc tại thôn Phước Thuận, xã Ninh Đông. Ngôi chùa được một vị Hoà Thượng hiện nay không rõ pháp danh khai sơn xưa lắm. Vào khoảng triều đại Tây Sơn (1777 – 1802), có một vị Hoà Thượng thế danh là Huỳnh Văn Dự sinh năm Ất Hợi (1755), quê quán ở Phú Vinh, phủ Tuy An, tỉnh Phú Yên vào kế thế trụ trì. Hoà Thượng huý Chương Chí, tự Thiên Phước, hiệu Bửu Tịnh, kế thế Lâm tế Tống đời thứ 38 thuộc dòng Kệ Chúc Thánh (Hội An).

Triều Minh Mạng thứ 6 (1825), nhà vua xuống dụ cho tổ chức đại lễ siêu độ Thuỷ Lục Đạo Tràng tại kinh đô Huế. Các vị cao tăng trong nước được tuyển chọn về kinh phó hội. Tỉnh Khánh Hoà tuyển chọn Hòa Thượng Bửu Tịnh. Sau khi đàn tràng viên mãn, Bộ Lễ tổ chức khoa thi sát hạch kinh điển giới luật nhà Phật, ai trúng tuyển Bộ Lễ sẽ thừa lệnh vua ban tặng cho một cái giới đao bằng đồng và một bản Độ Điệp. Vị Hoà Thượng trúng tuyển này được triều đình phong phẩm hàm Tăng Cang.

Tăng Cang Độ Điệp là một văn bản dài gần 1.000 chữ viết tay nét chân phương rất đẹp. Cuối văn điệp có đóng ấn ngọc tỉ Sắc Mệnh Chi Bửu. Văn từ trong bản Độ Điệp do các quan Hàn Lâm soạn thảo, ý nghĩa hàm súc cô động. Đây là một văn bản có giá trị văn chương và là một di sản cổ xưa tại huyện Ninh Hoà, hiện được lưu giữ tại chùa Thiên Bửu Hạ (thị trấn Ninh Hoà). Bản Tăng Cang Độ Điệp khá dài, chúng tôi chỉ giới thiệu một số đoạn cơ bản trong phần khai đề :

Lễ Bộ vị tuân chỉ cấp dữ Độ Điệp:

“Sự chiếu đắc Phạn gia lập giáo, yếu tại từ bi giác đạo khai nhơn bản hồ thanh tịnh. Đàm hoa bối diệp huyền vi chi diệu đế, nạn cùng bảo phiệt từ phàm phương tiện phước duyên chi vô lượng. Phàm quảng đại hoằng thâm chi bí quyết, giai khai thông bạt độ chi huyền giam. Ngưỡng chiêm huệ phát tường quang, phổ chiếu thập phương chi thế giới. Kỳ dẫn mê đồ đăng bỉ ngạn, cộng y Tam Bảo chi phước điền “.

Tạm dịch:

Bộ Lễ tuân theo lệnh vua cấp cho bản Độ Điệp này:

“Cứ theo cách lập đạo nơi nhà Phạn (nhà Phật) thì lấy cơ bản ở chỗ từ bi giác ngộ mà khai hoá cho mọi người, gốc thanh tịnh là từ đó. Hoa Đàm là bối, là sự huyền vi, chép rõ ý nghĩa của lý Tứ Diệu Đế. Cũng như khi gặp nạn cùng, thì bè pháp buồm từ sẽ làm phương tiện duyên lành không lường hết được. Quảng đại sâu xa là cái bí quyết để mở mang cứu độ của nhà chùa. Trông lên Phật Tổ tỏa điềm lành, chiếu sáng khắp mười phương thế giới. Dắt dẫn kẻ mê về bờ giác, cùng nương nơi Tam Bảo ấy là chiếc áo cà sa ».

Cuối sau bản Độ Điệp là ghi họ tên pháp danh pháp hiệu, quê quán của vị Hoà Thượng. 

Trước khi cấp Độ Điệp, các vị Hoà Thượng này phải được Bộ Lễ sát hạch kinh văn yếu chỉ giới luật của đạo Phật. Nếu đạt, từ đây, vị Hòa Thượng này gần như một vị tăng quan, mọi thuế má, binh lính, tạp dịch... đều được đặc miễn.  

Tuy nhiên trong bản Tăng Cang có điều khoản rất khắt khe với những vị Hoà Thượng đã nhận phẩm Tăng Cang và giới đao Độ Điệp:

“… Thản thọ điệp hậu, nhi trần căn phất địch, y chướng chuyển sanh, nhất hữu liệt tích giả, ngưỡng quan lại quân dân, tức hành nã giải, giao địa phương quan, án luật trừng biện, lặc linh hồi tục, nhưng tương thử độ điệp chuyển nạp do bộ thâu tiêu….”.

Tạm dịch:

“… Nhận tờ điệp này mà về sau lòng trần nổi dậy, ý xấu sanh ra, dù chỉ một điều nhỏ sai phạm, thì yêu cầu quan lại quân dân sở tại, cấp thời bắt trói, giao cho quan địa phương, chiếu theo án luật mà trừng trị, rồi buộc phải hoàn tục. Còn tờ Độ Điệp hãy chuyển nạp về Bộ Lễ để tiêu hủy”.

Thời các Chúa Nguyễn trước vì đang cần phật Giáo, cho nên nhà Chúa, quan lại có thể nói là “giả đò” sùng bái lễ lạy nhà sư, dám xưng con với hàng Hòa Thượng (như trong Hải Ngoại Ký Sự của Hoà Thượng Thạch Liêm mô tả – Trường Đại Học Huế xuất bản). Nhưng đang triều Minh Mạng, vương quyền vững mạnh, nhà vua tự coi mình cao hơn cả bách thần và ngang hàng hay nhích hơn Phật Tổ một chút. Trong bản Độ Điệp có câu: “…Vương chương phật pháp cộng quán đồng đều », có nghĩa là:

“… Những gì của vua bằng những gì của Phật.”

Trong tờ điệp viết hai chữ Vương Chương và Phật Pháp ở hàng cao nhất và bằng nhau. Thời đó các vị Hoà Thượng thường hay “càm ràm” lén với nhau, là vua Minh Mạng hỗn láo trịch thượng. Hoặc “rủa sả” thầm thì rằng thế nào sau khi chết, vua Minh Mạng qua bên kia thế giới, sẽ bị Phật Hoàng Trần Nhân Tông bắt nằm dài, đánh hàng chục roi cày cho đáng kiếp.

Sau đời Hòa Thượng Bửu Tịnh trụ trì, có nhiều đời kế thế trụ trì khác, nổi tiếng nhất là Hòa Thượng Thích Quảng Đức. Ngài có công xin Sắc Tứ cho ngôi chùa vào năm 1937 và còn lưu lại nhiều truyền thuyết, chuyện kể trong dân gian. Tháng 11 năm 1963 Hòa Thượng vào Sài Gòn tự thiêu chống chánh quyền Ngô Đình Diệm.

 Trong thời Việt Minh kháng chiến chống Pháp, chùa Sắc Tứ Thiên An được đặt làm trụ sở Uỷ Ban Kháng Chiến địa phương. Vườn chùa đặt làm bệnh viện dã chiến hậu phương. Vinh dự hơn nữa ngôi cổ tự này được chọn làm địa điểm bầu cử Quốc Hội Khoá I Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.

Thời chống Pháp và chống Mỹ, chùa Sắc Tứ Thiên An có hai vị sư trụ trì trực tiếp tham gia chống Pháp và chống Mỹ, đó là đại sư Đồng Trí – Thủ Thiên được nhà nước phong tặng bằng liệt sĩ năm 1987 và đại sư Đồng Thiện được phong tặng bằng liệt sĩ năm 2003.

5- Cổ Tự Thiên Bửu Thượng

Chùa Thiên Bửu Thượng toạ lạc bờ tây sông Lốt tại làng Điềm Tịnh, xã Ninh Phụng, do đại lão Hòa Thượng Tế Hiển – Bửu Dương khai sơn khoảng triều Lê Dụ Tông (1706 – 1729). Từ ngày thành lập đến nay đã trải qua nhiều đời trụ trì, duy chỉ có ba vị Hoà Thượng nổi tiếng là đại lão Hoà Thượng Bửu Dương Kế thế Lâm Tế Tông đời thứ 36, vị đệ tử kế thế hiệu Liễu Bửu - Huệ Thân đời thứ 37 thuộc dòng Kệ Thiên Đồng. Từ năm 1919 đến năm 1932 có Hoà Thượng Thanh Chánh – Phước Tường kế thế Lâm Tế Tông đời thứ 41 thuộc dòng kệ Liễu Quán lại càng nổi tiếng tài giỏi hơn.

Một di tích vật thể có giá trị nhất tại chùa Thiên Bửu Thượng là ngôi cổ tháp Bửu Dương, xây dựng cách đây khoảng 250 năm. Trước sân chùa còn có cây me cổ thụ gốc tròn bằng bốn ôm người lớn, tuổi thọ hằng ngàn năm. Khách thập phương hành hương đều công nhận đây là cây me cổ thụ có gốc lớn và đẹp nhất miền Trung.

Cổ tháp Bửu Dương là nơi an táng xá lợi của đại lão Hòa Thượng Bửu Dương, sau khi thân xác ngài được trà tỳ (hỏa thiêu). Hòa Thượng Bửu Dương là vị Hoàng Tử của một vị chúa Nguyễn Xứ Đàng Trong. Ngài xuất gia thuộc dòng Kệ Thiên Đồng (chùa Thập Tháp Di Đà – Bình Định) chứ không phải thuộc dòng Kệ Liễu Quán đệ tử của Hoà Thượng Thiệt Diệu như giới sư tăng tại Ninh Hoà lâu nay lầm tưởng.

Ngôi cổ tháp Bửu Dương được chạm trổ vật linh bằng 60 hình tượng rồng ngang hàng bậc vương giả. Đây là một ngôi tháp có giá trị chạm trổ vật linh hoạ tiết, độc nhất vô nhị trong hệ thống mộ tháp Phật giáo Việt Nam.

Tháp cao trên năm mét chung quanh xây bờ thành dày bao bọc chừa một khoảng trống trước mặt tháp. Vật liệu xây dựng chạm trổ bằng vữa vôi có thể trước năm 1760. Tháp xây theo hình bát giác có 7 tầng, ở dưới đắp bệ đế trên đỉnh đúc hình hoa sen nở đỡ bầu rượu. Tầng trên cùng phía trước chạm đắp hình hai con rồng tranh hoả châu. Quanh tháp có 56 góc, mỗi góc đắp một hình đầu rồng, đến nay chỉ còn lại vài ba đầu rồng, còn tất cả đều bị dòng thời gian bào mòn và chiến tranh tàn phá. Tháp có 56 mặt, trên các mặt đều chạm trổ chữ bùa và phù điêu hoạ tiết như mai lan cúc trúc ….. khá công phu.

Phía trước tháp xây đúc những trụ vôi đắp câu đối chữ Nho và khắc chạm hai con rồng đến nay vẫn còn. Theo qui chế thời phong kiến, hình tượng rồng chỉ dành riêng cho hàng vua chúa hay hoàng thân, kỳ dư tịnh cấm chỉ. Nếu ai vi phạm sẽ bị trị tội nặng, cả đến người thợ xây dựng cũng mắc tội lây (căn cứ sách Lê Triều Chiếu Lệnh Thiện Chính, phần Bộ Lễ, quyển hạ – Đại Học Huế xuất bản – 1961). Như vậy đại lão Hoà Thượng Bửu Dương có họ Nguyễn Phúc.

Lại thêm một dự kiện nữa đó là ở tầng cuối mặt hướng tây, có một bài thơ kệ đã bị bể tróc nét chữ, cuối bài khắc dòng chữ còn nhận diện đọc được: Từ Tế Đạo Nhân Kính Đề.

Lấy đây để suy ra thì Từ Tế Đạo Nhân là pháp hiệu của chúa Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765). Như thế, đại lão Hoà Thượng Bửu Dương có lẽ đứng vào hàng vai ông nội chú hay chú ruột chi đó của chúa Vũ Vương. Chúa Vũ Vương băng hà năm 1765, căn cứ theo mốc thời gian này ta tin rằng, Hoà Thượng Viên tịch trước chúa Vũ Vương từ một năm trở lại. Bởi vì trên mặt quả đại hồng chung tại Chùa Thanh Lương xã Ninh Thân đúc năm 1764, có ghi rõ năm này Hoà Thượng Bửu Dương vẫn còn sống, Ngài đã đứng ra chứng minh đúc chuông.

Lại trên long vị tại các ngôi chùa ở Ninh Hòa đều ghi là Đại Lão Hoà Thượng, như vậy khi viên tịch tuổi ngài sống thọ lắm từ 8 đến 9 mươi tuổi. Từ đây suy ra Đại Lão Hoà Thượng Bửu Dương sanh đương đời chúa Hiền Nguyễn Phúc Tần (1648-1687)

Đệ tử của Hoà Thượng Bửu Dương là Hoà Thượng Liễu Bửu – Huệ Thân, khi viên tịch có tháp xây bên thầy (vị này sẽ nói ở phần chùa Thiên Bửu Hạ). Hoà Thượng Thanh Chánh – Phước Tường (1867-1932) là vị Hoà Thượng tài giỏi, đã đào tạo ra nhiều đệ tử nổi tiếng khắp các tỉnh Nam Trung bộ như Hoà Thượng Nhơn Sanh (Ninh Hòa), Hoà Thượng Nhơn Duệ tức pháp sư Đại Trí (Nha Trang), Hoà Thượng Nhơn Hưng ở chùa Khánh Long (Ba Ngòi), Hoà Thượng Nhơn Tri - Quảng Đức (vị pháp thiêu thân tại Sài Gòn) ….. Hoà Thượng Phước Tường đã từng là thí sinh khoa thi Hương năm Ất Dậu (1885) tại trường Bình Định. Khi nghe tin kinh thành Huế thất thủ, vua Hàm nghi chạy ra Quảng Trị, Hoà Thượng đương tuổi 18 cũng tham gia bãi trường thi. Sau đó, Ngài vào chùa xuất gia đi tu kế thế Lâm Tế Tông đời thứ 41 dòng kệ Liễu Quán.

Chùa Thiên Bửu Thượng hiện được giáo hội Phật giáo Việt Nam xếp hạng vào hàng danh lam cổ tự trong nước.

VTD

Đón xem tiếp kỳ 3