QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NHỮNG NGÔI CHÙA CỔ BÊN BỜ SÔNG DINH

VÕ TRIỀU DƯƠNG

kỳ 3

 

 

>> Những ngôi chùa cổ bên bờ sông Dinh (kỳ 2)

>> Những ngôi chùa cổ bên bờ sông Dinh (kỳ 1)

 

 

 

6- Cổ Tự Thiên Bửu Hạ

Ngôi chùa cổ này cũng do đại lão Hoà Thượng Tế Hiển – Bửu Dương khai sáng đồng thời với chùa Thiên Bửu Thượng. Hiện chùa Thiên Bửu Hạ toạ lạc tại thị trấn Ninh Hòa, gần hữu ngạn sông Dinh. Khai Sơn chùa xong Hoà Thương Bửu Dương cử vị đệ tử tài giỏi là Hoà Thượng Liễu Bửu – Huệ Thân trụ trì, kế thế Lâm Tế Tông đời thứ 37 dòng kệ Thiên Đồng. Năm Minh Mạng thứ 6 (1825) Hoà Thượng Huệ Thân, được tỉnh Khánh Hòa đề cử về kinh đô Huế phó hội  Thuỷ lục Đạo Tràng. Sau đó Bộ Lễ thừa lệnh vua ban cấp cho giới đao Độ Điệp và phong phẩm hàm Tăng Cang. Bản Độ Điệp hiện còn lưu giữ tại chùa Thiên Bửu Hạ, nhờ đó mới biết Hoà Thượng có thế danh là Lê Văn Tự người xã Toàn Thạnh (làng Mỹ Hiệp, nay là thị trấn Ninh Hòa).

Năm 1963, chùa Thiên Bửu Hạ là trụ sở nồng cốt đấu tranh chống chính quyền ông Ngô Đình Diệm tại Ninh Hòa. Sau năm 1990 có một phái đoàn khảo cứu của Phật giáo ngoài Hà Nội vào Ninh Hoà để truy tìm lại dấu tích cũ chùa Kỳ Lân. Trong Đại Nam Nhất Thống Chí- tỉnh Khánh Hòa cho biết, chùa Kỳ Lân do bà chánh thất của quan Cai Bạ Cẩm Long Hầu thành lập và đã sụp đổ cuối thời Chúa Nguyễn. Đến Ninh Hoà phái đoàn nói trên, nghe người chung quanh gọi chùa Thiên Bửu Hạ là Chùa Kỳ, nên vội tin ngay đây là Chùa Kỳ Lân ngày xưa, rồi ghi vào danh bạ.

Thực tế không phải như vậy, chùa Thiên Bửu Hạ còn gọi là Chùa Kỳ chỉ có sau thập niên 30. Bởi tại đây từng tổ chức một đại lễ trường kỳ, vừa thiết lễ đàn truyền giới, vừa làm chay cầu siêu độ cho anh linh trận vong tử sĩ và cô hồn suốt 7 ngày đêm. Kể từ đó mới có tên là Chùa Kỳ. Vậy Chùa Kỳ Lân ngày xưa di tích gốc ở đâu ?

Lật lại sử cũ để truy tìm. Trong Đại Nam Nhất Thống Chí có nói Chùa Kỳ Lân đã bị sụp đổ từ xa xưa, nay chỉ còn lại cái nền gạch đá. Trong Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí do ông Lê Quang Đinh biên soạn năm 1806, đã mô tả vị trí toạ lạc rất kỹ “ Đi 128 tầm đến chùa Kỳ Lân cũ, chùa do bà chính thất của cai bạ Cẩm Long hầu lập nên, nay đã hư hỏng, chỉ còn lại nền cũ đá vôi, còn có hình hai con kỳ lân “. Ngôi chùa này toạ lạc gần ngôi Văn Miếu của Dinh xưa (nay là Văn Chỉ làng Phước Lý, xã Ninh Bình) về phía đông. Vả lại huyện đường Tân Định (rồi trụ sở hành chánh quận Ninh Hoà, nay là trụ sở Uỷ Ban Nhân Dân Huyện Ninh Hoà) được xây cất trên khuôn viên của nền chùa cũ đã sụp đổ hằng trên một thế kỷ rưỡi về trước. Địa cuộc này nằm vào phía đông ngôi văn miếu nói trên, cũng gần bờ tây sông Dinh.

Trước năm 1964 tại địa điểm này (tức trụ sở Uỷ Ban Nhân Dân Huyện Ninh Hoà) vẫn còn một ngôi cổ tháp ba tầng xây dựng bằng vữa vôi. Cuối năm 1964 lúc đó Hoà Thượng Thích Hạnh Hải làm Chánh Đại Diện Phật Giáo Ninh Hoà, ngài mới di táng ngôi cổ tháp này về chùa Khánh Long làng Tuân Thừa, xã Ninh Bình. Như vậy Chùa Kỳ Lân do bà chánh thất của quan Cai Bạ Cẩm Long Hầu, xây dựng nay có thể biết địa điểm, chứ không phải chùa Thiên Bửu Hạ là chùa Kỳ Lân.

7- Chùa Hiệp Trường Thọ

Chùa Hiệp Trường Thọ còn gọi là Chùa Cát, toạ lạc tại thôn 3 thị trấn Ninh Hòa. Đây cũng là một ngôi chùa cổ có tuổi thọ gần 300 năm. Lâu nay có những tranh luận, chung quanh một giai thoại chuyện kể và một di vật pho tượng cổ.

Vị Hoà Thượng khai sơn ra ngôi chùa này không biết danh hiệu gì thuộc dòng kệ nào và ở thời điểm nào. Ngày nay căn cứ dòng chữ khắc trên quả đai hồng chung tại chùa đúc năm Đinh Mão (1807) và long vị trên bàn thờ Tổ, thì vị kế thế trụ trì chùa Hiệp Trường Thọ là Hòa Thượng Tế Phong – Hoằng Kim kế thế Lâm Tế Tông đời thứ 36 dòng kệ Thiên Đồng. Vị này lại có thêm một pháp danh nữa là Phật Kế, kế thế Lâm Tế Tông thứ 35 thuộc dòng kệ Đạo Mân. Điều này dường như Hoà Thượng Tế Phong đã qui y hai lần, một lần quy y với vị bổn sư hàng chữ Thiệt đời 35, một lần qui y với vị bổn sư hàng chữ Thành đời 34 và nhận cả hai pháp danh Tế Phong và Phật Kế.

Nếu phải vậy, thì đây là một trường hợp phá lệ bất thường trong Thiền môn. Giới luật cho phép cầu thế độ có thể hai ba lần, nhận hai ba pháp hiệu khác nhau, thế nhưng pháp danh chỉ được phép qui y một lần. Đó là điều bắt buộc, không biết tại sao lại có trường hợp này. Hay là Phật Kế - Hoàng Kim và Tế Phong – Hoàng Kim là hai vị khác nhau chăng!

Bảng hiệu chùa đề bốn chữ Hiệp Trường Thọ Tự, nguyên có một dữ kiện như sau:

Trên 200 năm về trước ngay tại khu chợ mới thuộc quần thể chợ Dinh Ninh Hoà ngày nay, có một vị Hoà Thượng đến lập ngôi chùa. Địa cuộc chung quanh ngôi chùa toàn là bờ bụi và mồ mả rải rác. Sau đó ngôi chùa sụp đổ không rõ nguyên do, phật tử trong khu vực bèn đem Phật tượng, từ khí của ngôi chùa này nhập chung vào chùa Trường Thọ, cho nên ngày nay mới có thêm chữ Hiệp trên bản hiệu chùa Trường Thọ.

Thời Pháp thuộc, khu vực ngôi chùa cũ trên khu chợ mới chúng cho xây thành bao bọc làm đồn lính Khố Xanh, còn gọi là đồn Rê-I. Sau năm 1954, nơi đây lập làm Chi Khu Ninh Hòa. Sau năm 1975, cải ra doanh trại Quân Đội Nhân Dân Việt Nam và sau năm 2000 cho xây cất khu Chợ Mới.

Chùa Trường Thọ có hai di tích cổ giá trị, đó là quả đại hồng chung do Hoà Thượng Phật Kế đúc năm 1807 và tượng Hộ Pháp cao lớn như người thật bằng đá thạch anh. Tượng Hộ Pháp đứng trên một bệ đá liền khối cao 2 mét, riêng tượng cao 1,7 mét, dáng rất mập mạp giống như một người lùn. Hai tay chấp trước ngực để ngang qua một thanh kiếm, hai chân đứng dang ra, trông rất oai vệ hùng tráng. Trọng lượng có thể đến nửa tấn. Thời Pháp thuộc, bọn Việt gian nghi giữa tượng Hộ Pháp có vàng, chúng xúi quan lại người Pháp dùng khoan sắt khoan sâu vào phía lưng tìm kiếm, nhưng thấy không có gì. Mấy năm trước đây nhà chùa dùng xi măng trám kín lỗ khoan ấy lại, rồi sơn phết đủ màu sắt trên y giáp. Đây là một tác phẩm bằng đá có giá trị nghệ thuật điêu khắc cổ nhất tại huyện Ninh Hoà.

Lai lịch của tượng Hộ Pháp bằng đá này được biết như sau:

Hằng trăm rưỡi năm về trước, ngư dân làng Lệ Cam, xã Ninh Phú đánh bắt cá ven bờ biển giáp với phần hạ lưu sông Dinh, bỗng phát hiện một tượng bằng đá chìm sâu dưới đáy nước. Ngư dân lặn xuống tiếp cận, mới biết đây là một tượng Hộ Pháp khổng lồ. Để vớt trục tượng lên, người ta phải dùng nhiều dây neo và hằng mấy chục trai tráng lực lưỡng kéo lên. Vì của chung lại là tượng Bồ Tát, nên mọi người phát tâm chuyên chở cúng cho chùa Trường Thọ. Từ đó cho đến nay, trong nhà chùa và người quanh vùng đều cho rằng, pho tượng này của người Minh Hương chở từ Trung Hoa Sang, đến gần cửa sông Dinh thì bị chìm.

Theo sự nghiên cứu của chúng tôi, pho tượng Hộ Pháp này không phải của người Minh Hương chở từ Trung Hoa sang bị chìm, mà là của người Việt xứ Đàng Trong tạc đẽo ra, bằng các chứng lý sau:

- Tất cả số người Minh Hương đến Ninh Hoà cách đây chừng hai thế kỷ, không phải là thành phần tỵ nạn chánh trị bất phục Thanh Triều, như đoàn người theo các tướng Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch chạy sang xứ Đàng Trong, rồi xin vào lập nghiệp tại Biên Hoà dưới đời chúa Nguyễn Phúc Lan (1635 – 1648), mà số Minh Hương đến Ninh Hoà là tỵ nạn kinh tế tìm miền đất hứa để lập nghiệp. Thời ấy người Tàu tỵ nạn kinh tế sang An Nam khổ cực lắm. Mới đến Ninh Hoà họ cất nhà trại tạm bợ ven sông gần bến đò, hay chỗ đông người để buôn bán. Khi lìa bỏ mẫu quốc ra đi đến xứ lạ, họ chỉ mang theo một ít hành lý sao cho gọn nhẹ để ghe thuyền dễ vượt trùng dương mau đến bến bờ. Đường biển từ Trung Quốc đến huyện Ninh Hòa cách xa hàng mấy ngàn hải lý, sóng gió bất ngờ ập đến không biết lúc nào. Thử hỏi họ mang theo làm chi cái tượng đá khổng lồ, rất dễ gây sự cố nguy hiểm giữa đại dương ?

- Người Minh Hương đến Ninh Hoà thời ấy, họ không có tín ngưỡng Phật Giáo Bắc Tông, mà đức tin của họ là thờ bà Thiên Hậu Thánh Mẫu và Quan Công (Quan Vân Trường). Do đó, tại Ninh Hoà không có chùa Phật giáo nào của người Minh Hương, họ chỉ có Hội quán Chùa Bà phía nam đầu cầu Dinh, sau chợ Ninh Hoà và Chùa Ông dưới làng Văn Định Hạ. Tại Ninh Hoà có một ngôi thờ tự của người Minh Hương gọi là Nam Tông Phật Đường, người địa phương quen gọi là chùa Phật Đường. Đây không phải  chùa tu theo đạo Phật, mà là gần như đạo tu tiên. Nơi này thờ cả tam giáo Phật - Lão -Khổng, không thờ tượng Hộ Pháp như Phật giáo Bắc Tông. Vị sư cả không có phẩm chức Hoà Thượng hay Đại Đức, không pháp hiệu pháp danh, không mặc áo vàng, mà chỉ xưng hô gọi bằng Thầy Hai, thầy Bảy, Thầy A, Thầy B và mặc áo dài đen để tóc. Như vậy người Minh Hương chở tượng Hộ Pháp từ Tàu vượt biển sang Ninh Hoà để làm chi ? Chẳng lẽ họ đem sang để bày bán hàng nằm, như bán mật gấu, xương cọp, thuốc Bắc ?

Vậy tượng đá này xuất xứ từ đâu?

- Theo chúng tôi tượng Hộ Pháp này do những nghệ nhân xứ Đàng Trong làm ra. Có thể được làm từ các tỉnh Bình, Phú chở vào để cúng cho ngôi chùa nào đó, vừa đến vùng biển làng Lệ Cam thì bị chìm ghe. Hoặc có thể được các nghệ nhân tạc đẽo ngay tại núi Hòn Hèo, để chở đi đâu đó hay chuyên chở đến một ngôi chùa nào dọc kề bờ sông Lốt, sông Dinh rồi bị chìm ghe. Bởi người Ninh Hoà hay có quan niệm, hễ cái gì phát hiện ra mà không lý giải được xuất xứ thì cho đó là của Tàu. Cụ thể như thầy địa lý Tàu, số tiền kẽm chôn dưới đất là của người Tàu, ổi to trái (ổi xá lỵ) gọi là ổi Tàu, giống trái thanh long là của Tàu đem sang v…v..

Cho nên tượng đá Hộ Pháp gán cho của người Minh Hương là do quan niệm đó. Thực chất pho tượng nghệ thuật này do người Việt xứ Đàng Trong tạc đẽo ra từ hằng vài trăm năm xưa.

Lại thêm một điều mà hằng trăm năm nay truyền khẩu trong các chùa và dân cư quanh vùng, rằng khi Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn rượt đuổi, lúc chạy ngang qua Ninh Hoà có ghé chùa Trường Thọ nghỉ chân, được nhà chùa giúp đỡ. Thật ra dữ kiện này cũng không lấy gì làm quan trọng, dù cho Chúa Nguyễn có ghé chân hay không ghé chân, thì đất Ninh Hòa không vì thế mà thiệt thòi hay vinh dự. Chỉ có điều là cái gì có nên nói rằng có, còn không phải nói rằng không, chứ chẳng nên hư cấu bịa chuyện, “thấy người sang bắt quàng làm họ ”.

Theo sự nghiên cứu của chúng tôi thì Nguyễn Ánh không hề ghé chân lại chùa Trường Thọ, bởi các lý do sau đây:

1- Theo sách Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa chí do ông Lê Quang Định soạn năm 1806 đã khảo tả con đường bộ đi ngang qua huyện Ninh Hoà thời ấy, không phải như ngày nay mà đi tẻ lên mặt trên. Căn cứ theo sự khảo tả thì đi dọc theo trên đường xe lửa, tránh né những bàu ngòi nước chằng chịt phía dưới phủ cũ Thái Khang (làng Phước Đa). Ngày nay có tục danh Bàu Bò ở phía bắc Phủ cũ.

Như vậy năm 1775 Chúa Duệ Tông (1765-1775) và hoàng tôn Nguyễn Phúc Anh vượt biển bằng thuyền từ Quảng Nam vào Hòn Khói, sau đó được tướng Nguyễn Khoa Chiêm hộ tống chạy vào nam bằng con đường này. Tại Ninh Hòa, Chúa Nguyễn không có ghé chân tại chùa nào cả. Nếu có thì tại sao hai ngôi chùa kề sát đường đi như chùa Bửu Phong làng Phong Ấp và chùa Thiên Bửu Hạ, chúa Nguyễn không dừng chân ? Trong khi đó chùa Trường Thọ ở trắc nẻo cách đường chúa đi phải trên 2 cây số, thì không cớ gì phải lặn lộ xuống đó nghỉ chân cho chậm trễ.

2- Như chúng ta vốn biết, vua Gia Long là một ông vua tận ân tận oán, tức là một ơn nhỏ cũng trả đậm, một oán nhỏ cũng trả thù thẳng tay. Trong lúc chạy ngang qua làng Mỹ Hiệp giáp ranh với làng Phong Ấp, có một bà phú hộ tên Lê Thị Tiềm, giúp đỡ cho vài bữa cơm và ít của cải, Chúa Nguyễn tôn bà làm Nhũ Mẫu (Bà Vú). Lại có thêm một bà nghèo khổ khác ở làng Phong Ấp gần nhà bà Vú (không biết tên), đến giặt áo quần cho chúa. Khi chúa ra đi bà này gánh đồ đạt đưa tiễn chúa vài dặm đường, sau này nhà vua tôn bà làm ân nhân.

Sau khi lên ngôi vua vào năm 1802, Gia Long cho truy lục công lao, và liền nhớ đến hai người đàn bà này. Vua sai quan vào đón rước hai bà ra kinh đô Huế để phụng dưỡng trả ân. Thế nhưng cả hai bà già đã nối nhau từ trần, trong khi chúa Nguyễn còn đương lận đận. Để trả ơn xưa vua sai Bộ Công vào xây mộ cho Bà Vú ngang bậc lăng tẩm, tại Xóm Rượu gần chùa Trường Thọ và cấp tự điền hạng nhất. Hai năm đầu đến ngày giỗ Bà Vú, vua sai Hoàng Tử Đảm (Vua Minh Mạng) vào chủ tế, kế từ giỗ sau quan Bố Chánh Trấn Bình Hoà (Khánh Hoà) chủ tế.

Phần bà già nghèo ân nhân kia mộ chôn tại làng Phong Ấp, cũng được xây hình đồ ngôi lăng nhưng rút nhỏ và cấp tự điền. Bà này vô tự hàng năm ngày giỗ, các quan phủ huyện đứng chủ tế, ngôi tiểu lăng này đến nay vẫn còn.

Nay thử xét lại, với cái ơn của hai người đàn bà kia được vua trả ơn rất trọng hậu, thì tại sao nhà chùa Trường Thọ có công giúp vua đang cơn bôn ba tai biến, lại không được vua trả ơn cho tí gì ? Thậm chí ân chuẩn nhỏ nhất là Sắc Tứ cũng không có! Cho đến năm Đinh Mão (1807), vị sư trụ trì chùa Trường Thọ là Hòa Thượng Phật Kế-  Hoằng Kim, khi đúc đại hồng chung cũng chỉ quyên góp tài vật của Phật tử quanh vùng như mặt chuông có ghi, chứ không thấy ghi lại ân nghĩa chi của triều đình hay quan lại giúp đỡ.

Từ hai điểm chúng tôi giải trình trên đã chứng minh rõ ràng rằng, lúc chạy nạn, Nguyễn Ánh và đoàn tùy tùng không hề ghé chân nhờ vả chùa Trường Thọ. Thế nhưng tại sao lại có những lời truyền khẩu hư cấu kể trên? Lý do chính là chùa Hiệp Trường Thọ địa điểm gần kề bên lăng Bà Vú, người ta thấy vậy nên hư cấu thêm.

Dọc theo hai bên bờ sông Dinh ngoài các ngôi chùa kể trên ra, còn có những ngôi nhà thờ đạo Thiên Chúa, chùa Quan Thánh, chùa Bà có cách đây trên hai thế kỷ.

VTD