QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HỢP CHẤT VỮA VÔI TRONG VIỆC XÂY DỰNG Ở VÙNG ĐẤT KHÁNH HÒA XƯA

NGÔ VĂN BAN - VÕ TRIỀU DƯƠNG

 

Ngày nay trong việc xây dựng người ta dùng vật liệu chính là xi măng để làm chất kết dính, tô trát, đúc bê tông .... Ngày xưa chưa có xi măng, trong xây dựng người ta dùng một hợp chất, gọi là hợp chất vữa vôi. Hợp chất này dùng để kết dính các viên gạch với nhau, xây mộ, xây tháp, tô khắc các vật linh, đắp chữ, trang trí hoa văn... Nhìn những mái ngói âm dương ta thấy các viên ngói gắn kết với nhau thật chặt chẽ trong hợp chất vữa vôi qua thời gian đầy giông bão mà vẫn còn vững vàng đến ngày nay. Còn với hững ngôi mộ, ngôi tháp xây dựng hàng trăm năm nay vẫn còn như xưa, như mộ của quan Thượng Thư Nguyễn Xuân Thục ở thị xã Ninh Hòa, mộ quan Cai Bạ Nguyễn Văn Ngữ ở Diên Khánh. Các mộ tháp ở vài chùa trong tỉnh cũng vậy.

Theo sự tìm hiểu của chúng tôi, công thức tạo ra hợp chất vữa vôi rất đa dạng, kéo dài 1 - 2 năm, tốn nhiều công sức và tiền bạc. Muốn cho mộ tháp được tạo dựng được vững bền lâu dài, ngoài việc nắm vững công thức kết cấu hợp chất vữa vôi của người thợ, người chủ của công trình cũng cần phải biết kỹ thuật nung vôi, pha chế....

Trong hợp chất vữa vôi có một số vật liệu để cấu thành, như : - Vôi bột được nung từ đá san hô và đá gạc nai, vỏ sò ốc biển. - Nước ô dước. - Nước mật đường mía cát, sỏi, bột giấy, bông gòn, bông vải, chất tro (được đốt từ cây mè khô)... Riêng dung dịch nước ô dước được tạo ra bởi nhiều cây có độ nhớt cao. Những vật liệu và cây cỏ kể trên đều có thể tìm thấy ở các địa phương trong tỉnh Khánh Hòa.

Vôi bột được nung ra từ một vật liệu từ đá san hô, đá gạc nai, vỏ sò ốc biển. Có hai loại vôi bột tùy theo vật liệu được nung và chức năng sử dụng :

- Vôi bột được nung từ đá gạc naivỏ sò ốc biển. Loại này có hợp chất khá dẻo nên đã được dùng để đắp hoa văn phù điêu, chữ Hán ... trên các mộ tháp, trên tường ... và người dân ăn trầu thường dùng vôi này phết lên lá trầu.

- Vôi bột được nung từ đá gạc nai, đá san hô, vỏ sò ốc biển. Hợp chất này chỉ dùng trong xây dựng một tháp, xây trụ, xây tường ...

Đá san hô lấy từ biển chứa đầy chất muối mặn và điều cần thiết là phải rửa sạch chất mặn trong toàn bộ san hô. Vì trong xây dựng, chất mặn của muối sẽ phá hủy và làm sụp đổ công trình sau một thời gian ba bốn chục năm. San hô phải để ngoài trời qua 3 đến 4 năm cho những cơn mưa lớn trong năm rửa sạch chất muối bám vào. Lúc đó san hô mới dùng để nung được.

Đá gạc naivỏ sò ốc biển, khi hầm ra sẽ có một hợp chất dẻo để tô đắp hoa văn, phù điêu, kẻ chữ ... Loại này cũng để thành đống ngoài trời trên một mặt bằng lót gạch qua một thời gian dài tránh đất cát phủ lên. Nước mưa cũng góp phần rửa sạch chất mặn bám vào.

Để nung đá san hô và đá gạc nai với vỏ sò ốc biển, người ta phải dùng lò nung, thường gọi là lò vôi. Trong việc nung vôi để có được chất liệu tốt cần đến cây mè khô (cây vừng) vì cây có độ nhớt khá cao. Cây và xác trái mè khô, lấy hết hạt đem đốt ra tro, tro này trộn chung với vôi bột đá san hô sẽ tăng thêm độ dẻo của vôi bột.

Nước mật đường là nước mật từ cây mía được ép, nấu ra.

Về hợp chất ô dước được tạo nên từ những cây :  - Cây bời lời, vỏ cây của nó có độ nhớt rất cao, ngâm trong hồ nước - Cây găng nhớt : vỏ cây này cũng có chứa chất nhớt khá nhiều khi ngâm trong nước. Vỏ cây được đập dập vỏ và ngâm chung trong hồ nước với cây bời lời. - Dây tơ hồng có chất nhớt, người ta dùng dao phay băm vụn ra rồi bỏ vào cối đá giã nhuyễn. Sau đó, bỏ vào hồ nước ngâm chung với hai loại cây kể trên.

Những loại cây trên ngâm vào hồ nước, hàng ngày phải dùng mái chèo đảo trộn một lần cho bã các cây ấy tơi nát thêm ra, cho nhớt trong cây tiết hết ra hòa tan trong nước. Sau 15 ngày ngâm, người ta mới gạn chất nhớt trong dung dịch nước ra. Chuẩn bị những cái lu để đựng, trên miệng lu người ta trùm một tấm vải để làm miếng lượt, dùng gàu mo múc hết nước trong hồ đổ vào lu, những xác vỏ, cây nằm trên miếng vải lượt, còn dung dịch nhớt chảy xuống lu. Chất bã trên miếng lượt lại bỏ vào hồ nước ngâm tiếp, qua thời gian, cũng lượt như thế. Lúc này, người ta hòa 2 dung dịch lượt trước và lượt sau đó thành một để có một dung dịch nhớt khá cao, đó là nước ô dước.

Ngoài mật đường và nước ô dước ra, muốn có một hợp chất vữa vôi thì phải cần có những vật liệu: - Đá gạc nai với vỏ sò ốc biển giã cho bể vụn ra. - Cát và sỏi, cát phải là cát sông, cát sạch, loại cát lớn, không dùng cát nhỏ, sàng lọc kỹ không còn rác rến. Cát không dùng cát biển vì cát biển thấm nước mặn có thể làm hư công trình trong một thời gian. Sỏi cũng phải chọn loại to bằng ngón tay. - Bột giấy phải là loại giấy dó sản xuất ở miền Bắc Khi ngâm vào nước ô dước, giấy sẽ tơi rã rơi, khuấy mạnh sẽ trở thành bột giấy. - Bông gòn

Hợp chất vữa vôi có 2 dạng  và cách pha chế khác nhau :

1/ Một dạng vữa vôi dùng trong xây dựng : xây mộ tháp, bờ thành, thân trụ, đúc vật linh như rồng, phụng .... đầu tiên người thợ pha trộn hợp chất (HC) với những vật liệu cứng như cát, sỏi, đá gạc nai đã giã bể vụn với tỷ lệ :

HC. 1 :   4 thúng cát + 1 thúng sỏi + 1/3 thúng đá gạc nai.

Sau đó, người thợ thực hiện hợp chất :

HC.2 :     3 thúng HC.1  +  1 thúng vôi khô bột đá san hô

Sau khi trộn đều HC.1, HC.2 với nhau, người thợ tiếp tục thực hiện pha chế hợp chất cuối cùng :

HC.3 HC vữa vôi xây dựng: Nước ô dước + mật đường + HC.1 + HC.2 

Nước ô dước không thể để nguyên chất trộn vào HC.3 được mà phải pha thêm nước lạnh vào, nếu không, hợp chất khi xây dựng, tuy có độ kết rất cao, song dễ bị giòn, dễ vỡ, không bền vững. Khi trộn nước ô dước (đã pha nước lạnh), mật đường vào làm sao cho HC.3 không khô, không nhão.

Khi đã có HC.3 rồi, nhưng không đưa vào xây dựng liền mà phải để hợp chất đó qua một đêm, sáng sớm ngày mai mới bắt đầu thi công. Sự kéo dài thời gian để vôi bột gặp nước ô dước nở thêm ra, tạo được chất dẻo hơn, giới chuyên môn gọi là “ủ hồ” hay “ủ vôi”. Nhưng việc “ủ hồ” không được kéo dài thời gian, vì như thế hợp chất sẽ bị sượn, hạn chế sự kết dính, dẫn đến công trình không bền vững.

2/  Một dạng vữa vôi đắp hoa văn, phù điêu, kẻ chữ ...

Hợp chất vữa vôi tô đắp hoa văn gồm có : nước ô dước + mật đường +  bột đá gạc nai với vỏ sò ốc +  bông gòn + bột giấy, không có cát và vôi bột đá san hô.

Để có hợp chất vữa vôi này, người ta cho giấy dó, bông gòn đem ngâm vào lu đựng nước ô dước mật đường. Sau hơn 10 phút, giấy dó bắt đầu rã tơi ra trong nước thành bột giấy, người thợ dùng mái dầm đảo khuấy trong lu cho bột giấy và bông gòn hòa trộn vào nhau. Lượng nước ô dước và mật đường không loãng quá cũng không đậm đặc quá, sau này nét chữ, hoa văn khi khô cứng dễ bị gãy bể.

Riêng bột đá gạc nai với vỏ sò ốc biển bỏ vào cối đá, chan hỗn hợp trên vào cối, thợ dùng mái dầm xới trộn cho thật nhão đều, không được khô, rồi dùng chày gỗ giã. Thời gian giã kéo dài vài giờ. Lúc đầu hợp chất còn nhão, sau thời gian giã sẽ khô bớt lại và dẻo, có thể kéo dài thành sợi. Lúc này đã tạo xong hợp chất vữa vôi để dùng tô đắp hoa văn, kẻ chữ ... Khi pha chế không đúng kỹ thuật, hoa văn sẽ bị răn nứt. Hợp chất này tạo nên trong buổi sáng phải làm xong trong buổi, nếu để đến chiều nó sẽ khô không thể làm được.

HÌNH MINH HỌA

 

Lò nung vôi hiện nay (Ảnh VTD)

 

Cây bời lời (Ảnh Intenet)

 

Cây găng nhớt (Ảnh Internet)

 

Dây tơ hồng (Ảnh Internet)

 

Cây lưỡi long (Ảnh VTD)

 

Mộ cổ của quan Cai Bạ Nguyễn Văn Ngữ tại huyện Diên Khánh và mộ của quan Thượng Thơ Nguyễn Xuân Thục tại thị xã Ninh Hòa xây dựng bằng hợp chất vữa vôi tồn tại hàng trăm năm nay (Ảnh NVB)

 

N.V.B - V.T.D

 

Bài cùng tác giả

>> Những điều kiêng kỵ của ngư dân vùng biển đảo Khánh Hòa

>> Lấy mật ong rừng

>> Tưởng niệm về một người Thầy - Nhà văn, Nhà giáo Võ Hồng

>> Món Rắn năm Tỵ

>> Chuyện Rắn năm Tỵ

>> Tết Việt xưa và nay trong đời sống dân tộc Việt

>> Người xưa chơi xuân qua tranh khắc của Henri Oger đầu thế kỷ 20

>> Ký ức bến đò quê hương

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 7)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 6)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 5)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 4)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 3)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 2)

>> Nghề nông cổ truyền vùng đất Khánh Hòa xưa (kỳ 1)

>> Hình ảnh rồng trong đời sống dân tộc Việt

>> Cá vượt vũ môn hóa rồng

>> Tết của một thời ấu thơ

>> Vè Các Lái ngang qua huyện Ninh Hòa

>> Miếu và miễu ở Khánh Hòa (kỳ 2)

>> Miếu và miễu ở Khánh Hoà (kỳ 1)

>> Dinh Trấn Biên Nha Trang dưới thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong có hay không ?

>> Việc giáo dục chữ Lễ trong gia đình và nhà trường

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ Bắc tới Nam (kỳ 2)

>> Các trạm dịch trong tỉnh Khánh Hòa từ bắc tới nam (kỳ 1)

>> Thịt mèo

>> Chuyện mèo năm Mão qua câu ca tiếng nói người Việt

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 2)

>> Tìm về Nha Trang xưa (kỳ 1)

>> Những trường học tại Nha Trang xưa và nay

>> Chất biển trong con cá vịnh Nha Trang

>> Con cọp qua cái nhìn dân gian Việt Nam

>> Món cọp năm Dần

>> Về Diên Khánh ăn bánh ướt

>> Cọp Khánh Hòa

>> Thầy Đồ Cóc

>> Đất Khánh người Hòa

>> Món ngon Năm Sửu

>> Con trâu trong văn học các dân tộc VN

>> Món ngon năm chuột

>> Chuyện chuột năm Tý

>> Xung quanh chuyện kỳ nam, trầm hương ở Khánh Hòa

>> Vịt lội Ninh Hòa

*** Nghề làm bánh tráng ở Xóm Rượu Ninh Hòa:

>> Kỳ 1, kỳ 2, Kỳ 3

*** Sổ tay từ ngữ phong tục tập quán về việc sinh, việc cưới, việc tang,

     việc giỗ của người Việt:

>> Kỳ 1, Kỳ 2, Kỳ 3, Kỳ 4, Kỳ 5, Kỳ 6, Kỳ 7, Kỳ 8, Kỳ 9, Kỳ 10, kỳ 11, kỳ 12