QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ĐÌNH VÀ LỄ HỘI CÚNG ĐÌNH Ở CÁC TỈNH

NAM TRUNG BỘ

 

KIẾN TRÚC NGÔI ĐÌNH

Ngày xưa vật liệu xây dựng còn thô sơ, nghèo nàn, các đình ở vùng Nam Trung bộ thường được xây cất bằng một loại gạch cổ gọi là ghè ống, hình tròn như cái ống, đầu dưới bịt kín, đầu trên miệng hơi túm lại một chút, làm bằng đất sét tốt nung kỹ, chịu được cả trăm năm. Những đình ở ven biển thường dùng đá san hô, lấy lên khỏi nước mặn phải phơi nắng mưa ít nhất 6 tháng cho hết chất muối biển rồi mới xây cất. Nóc đình lợp ngói âm dương, đến giữa thế kỷ XIX lợp ngói vảy cá, từ thế kỷ XX lợp ngói tây là ngói làm theo khuôn của người Pháp, bằng xi măng và cát, bền chắc hơn ngói ta bằng đất sét. Bên trong đình là các hàng cột to nguyên thân cổ thụ. Núi rừng miền Trung trước đây vốn nổi tiếng nhiều gỗ quý, tuỳ theo mức đóng góp của nhân dân địa phương mà tha hồ lựa chọn. Những đồ án hoặc hoa văn trang trí như Lưỡng long tranh châu, Lưỡng long chầu nguyệt, Tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng), Ông Hổ… đắp trên mái đình, án thờ, trước cổng đình được đúc bằng vôi vữa trộn mật đường và nước nhớt của vỏ cây bời lời, dây tơ hồng hoặc các loại cây có chất keo, độ bền có khi đến vài thế kỷ.

Về kiến trúc, hầu hết những ngôi đình ở các tỉnh Nam Trung Bộ đều xây cất cùng một kiểu giống nhau, gồm có:

Chánh điện chia làm ba gian, gian giữa để bàn thờ chính, trên vách có treo tấm biển viết chữ “THẦN” bằng Hán tự thật lớn. Hai bên để bàn thờ tả ban, hữu ban. Trước bàn thờ có cặp chim hạc đứng trên lưng rùa. Kế đến là hai giá cắm lô bộ, binh khí (thường là 18 môn binh khí - thập bát ban võ nghệ), trống, chiêng và một khoảng trống để Hương chức lạy cúng. Đồ thờ để trên bàn Thần gọi là “tam sự” gồm có lư hương và hai cây đèn, hoặc “ngũ sự” thêm hai ống cắm nhang. Tam sự hay ngũ sự bày thẳng một đường phía ngoài hương án, phía trong có hai độc bình. Chính giữa là một cái khay chân quì, trên để ba cái đài, mỗi đài có chén đựng rượu, cơi trầu và bát nước. Sau ba ngày cúng tế, Ban Tế tự cất hết những đồ thờ chỉ chừa lại cái lư cắm nhang, để phòng kẻ trộm.

Ngạch cửa của chánh điện dính liền với một gian rộng bằng ba gian trong, thành một nền hình chữ nhật gọi là “võ ca”, gồm một khoảng nền trống để ghế ngồi ngay giữa, hai bên là sạp gỗ đóng như bậc thang, là nơi dân chúng ngồi xem hát. Phía trong là sân khấu để đoàn hát bộ trình diễn mỗi khi cúng Thần. Đình nào nghèo không làm sạp gỗ như bậc thang thì dân chúng tự động đem ghế đẩu đến ngồi xem hát.

Cạnh đình có gian bếp, phía trước là phòng ăn, gọi là nhà tổ. Trong ngày cúng đình đồng bào đến nấu nướng cho hương chức và nhân dân ăn. Trước cửa vào đình có cổng tam quan với tấm bình phong vẽ hoặc chạm hình cọp, gọi kính cẩn là Ông Hổ. Sau cổng tam quan có nền gạch cao, gọi là nền Xã tắc, giữa có bia thờ Thần Nông, bên trái có miếu thờ Thổ Thần và miếu thờ Sơn Quân, bên mặt có miếu thờ Ngũ Hành và miếu thờ Long Thần.

Trước khi cất đình, người ta phải nhờ một thầy địa lý hoặc một người am tường về thuật phong thuỷ định hướng ngôi đình. Ngày xưa tổ tiên ta chịu ảnh hưởng của Trung Quốc, thường làm theo sách vở của Tàu. Nhà vua dựng đền đài, cung điện, tôn miếu, đền tế Nam Giao đều quay mặt về hướng Nam, có ý mong được sự sáng suốt như lửa đỏ vì hướng Nam thuộc về hành Hoả (lửa). Việc xây cất đình cũng không ngoài định lệ trên. Thường thường đình nào cũng quay mặt về hướng Nam với hy vọng dân làng được sống yên ổn, làm ăn khá giả.

Đồ trang hoàng trong đình gồm có: tàng, lọng, cừ, quạt, võng, ngựa, chiêng, trống, kiểng, cổ lịnh, thái bình (cái mõ bằng cây). Bát bửu và lô bộ để trên giá gần bàn thờ Thần, dựng hai bên để ngăn bàn thờ ở gian giữa. Mỗi ngôi đình có một lá cờ lớn là cờ lịnh, thượng lên khi đình có đại lễ hoặc ngày Tết Nguyên Đán. Trong đình có cờ ngũ hành hay năm lá cờ hình vuông có 5 màu: xanh thuộc mộc, đỏ thuộc hỏa, trắng thuộc kim, tím thuộc thủy, vàng thuộc thổ. Đình đóng cửa quanh năm, hàng ngày có ông Từ lo việc nhang khói và quét dọn, chỉ mở cửa trong mấy ngày cúng xuân, cúng thu.

LỄ HỘI CÚNG ĐÌNH

Hầu hết các đình ở Nam Trung bộ đều theo lệ cúng mỗi năm hai lần (xuân thu nhị kỳ), nhưng cũng có một số đình chỉ cúng mỗi năm một lần. Ngày cúng đình mỗi nơi mỗi khác, tùy theo tập quán địa phương. Thường thường cúng xuân vào tháng 3 hoặc tháng 4 âm lịch là cúng kỳ an tức cầu Thần linh hộ trì cho quốc thái dân an; cúng thu vào tháng 9 hoặc tháng 10 âm lịch là Thu tế, lễ tạ ơn Thần. Tùy theo điều kiện kinh tế và sinh hoạt, có nơi chọn cúng xuân là lễ chính, có nơi chọn cúng thu là lễ chính. Lễ cúng gồm có: lễ rước sắc; lễ cúng Thần; lễ cúng Tiền hiền - Hậu hiền; lễ cúng Bà Thiên Y Thánh mẫu (làng thôn nào có miếu Bà thì việc thờ cúng Bà được tổ chức tại miếu); lễ dâng hoa; lễ tụng kinh cầu an; lễ tống na.

Những vị thần được thờ tại đình gồm: Bổn cảnh thành hoàng tức vị Thần phù hộ; các vị Thần ở địa phương được triều đình sắc phong; các vị Tiền hiền, Hậu hiền có công khai hoang lập ấp, giúp đỡ nhân dân; các vị quan có công với triều đình khi chết được sắc phong.

TƯ LỢI CỦA ĐÌNH VÀ QUỸ TẾ TỰ

Trước đây các đình ở nông thôn được làng cấp ruộng đất gọi là công điền công thổ từ 5 đến 10 mẫu ruộng hạng nhất. Ruộng đất này khỏi đóng thuế, là tư lợi của đình để lo việc tế tự hàng năm và tu bổ đình.

Những đình ở vùng nông thôn có ruộng còn cho các chủ nuôi vịt bầy đấu giá để họ thả vịt ăn lúa rụng sau khi gặt, gọi là đấu giá “lạc túc”, lấy tiền sung vào quỹ. Những đình ở thành phố và các làng ven biển vì không có ruộng đất làm tư lợi đều dựa vào sự đóng góp của nhân dân địa phương. Dân gian có câu “cúng Thần, Thần đãi” nên dù ít nhiều tùy hảo tâm, khi kêu gọi đóng góp để cúng lễ thì không ai từ chối, nhất là các chủ nậu, chủ chành, chủ vựa, các tiệm buôn lớn, các chủ nghề lớn như lưới đăng, lưới cản, giã cào… vì đây là dịp để trả lễ Thánh Thần và để chứng tỏ sự hào phóng. Từ 1985 đến nay quỹ tế tự của nhiều đình được dồi dào hơn nhờ sự ủng hộ của bà con Việt kiều mỗi lần về thăm quê cũ.

BAN TẾ TỰ

Mỗi đình có một Ban Tế tự, phần đông là các ông Hương chức trong làng, mỗi người giữ một phận sự cùng chung lo chăm sóc, tu bổ, cúng tế và mọi việc liên quan đến ngôi đình. Thành phần Ban Tế tự do dân làng bầu ra, thường gồm 9 người: 1 ông Chánh tế hay Chánh bái; 2 ông Phụ tế hay Bồi bái; 1 ông Đông hiến hay Tả Ban; 1 ông Tây hiến hay Hữu Ban; 1 người đánh mõ; 1 người đánh chiêng; 1 người đánh trống; 1 người thọc huyết heo.

Ông Chánh tế thường là ông Thủ sắc trong làng hoặc ông Lý trưởng. Trường hợp hai ông này không thể đảm nhận được (vì nhà đang có tang hoặc vợ có bầu) thì cử một ông khác phải là người có uy tín, đạo đức trong làng.

Khi chuẩn bị tế lễ, các ông trong Ban Tế tự tập hợp ra mắt trước án Thần. Ai vào vị trí nấy, hai ông phụ tế đứng hai bên trái phải của Chánh tế, hai ông Đông hiến, Tây hiến đứng bên bàn thờ phía đông và tây theo hướng của đình. Đến giờ hành lễ, Ban Tế tự làm theo lời xướng của Lễ sanh (học trò lễ) hoặc ông Thầy lễ.

CHƯƠNG TRÌNH CÚNG TẾ

Hằng năm đến ngày vía, Ban Tế tự tổ chức lễ cúng Thần suốt ba ngày. Cứ ba năm đáo lệ có thuê đoàn hát bộ trình diễn hầu Thần xem và dân chúng thưởng thức. Trước khi cúng Thần có lệ cúng “Tiên sư” là ông Tổ nghề tại nhà việc của làng. Lễ cúng vào sáng ngày thứ nhất, lễ vật gồm có một con heo gọi là “heo cơm”, mấy mâm xôi, mâm bánh do Ban Tế tự lo liệu hoặc do dân làng mang đến theo lời nguyện vái. Con heo của đồng bào cúng trả lễ Tiên sư gọi trại đi là “con gỏi”, phần nhiều là heo nhỏ. Kế đó là lễ rước sắc Thần, khởi đầu từ nhà việc của làng đi tới nhà ông Thủ sắc thỉnh hộp đựng sắc vào đình. Sau 3 ngày cúng xong lại hoàn sắc về nhà ông Thủ sắc với lễ nghi như lúc thỉnh. Dẫn đầu đoàn rước sắc thần có một người cầm ống loa đi trước dẹp đường, tiếp đến là hai người đánh chiêng, trống. Một bàn hương án dọn hương đăng trà quả kèm hai cây lọng vàng do bốn người mặc áo đỏ, đội nón chóp khiêng đi giữa hai hàng Lô bộ, Bát bửu. Có làng không dọn hương án thì khiêng hai cái long đình, một cái nhỏ để áo mão vị Thần, một cái lớn để sắc Thần. Hương chức đi theo phải mặc áo thụng xanh hoặc áo dài đen, đội khăn tử tế. Tại nhà ông Thủ sắc cũng thiết sẵn lễ, khi đoàn thỉnh tới chính tay ông Thủ sắc kính cẩn bưng hộp đựng sắc để trên long đình. Bấy giờ đoàn hát bộ phái hai cô đào hầu hai bên long đình gọi là “Đào thài”.

Sắc Thần được viết trên tấm lụa bề dài khoảng hơn một mét, bề ngang khoảng sáu tấc, dệt hình rồng mây mà mỗi triều vua vẽ kiểu khác nhau, màu sắc đậm lợt khác nhau. Chữ viết trên sắc do người có hoa tay. Tấm lụa được bồi trên giấy không dày lắm để dễ cuốn tròn đút trong ống tre hoặc ống thiếc, đựng trong hộp gỗ có khoá đề phòng tráo sắc khác, đặt trên bàn thờ tại đình, treo trên nóc đình hoặc để tại nhà ông Thủ sắc (nhờ có người giữ riêng như vậy nên nhiều đình bị giặc Pháp thiêu hủy trong những năm kháng chiến mà bằng sắc vẫn còn).

Làng nào có hậu duệ ông Tiền hiền thờ ông tại nhà thì đoàn thỉnh sắc ghé nhà rước bài vị về đình luôn. Thân nhân vị Tiền hiền làm sẵn cái kiệu khiêng theo. Làng nào có miễu thờ Tiền Hiền thì thiết lễ cúng tại miễu. Dọc hai bên đường dân làng để bàn thờ, hương án bái vọng khi kiệu Thần đi qua.

Khi vào đình, ông Trưởng ban Tế tự bưng hộp sắc để lên bàn thờ, ông Hương lễ đọc bài văn thỉnh Thần an vị. Trong lúc đoàn rước sắc khởi hành thì tại đình làm lễ “Khai môn thượng kỳ” nghĩa là mở cửa đình, treo cờ lịnh trước đình. Mở cửa rồi, Ban Tế tự thiết lễ tế Thần Nông trên nền xã tắc trước đình. Lễ vật cúng Thần Nông là con heo trắng, để xẻ thịt làm thức ăn buổi trưa, còn phần xôi bánh thì phân phát cho đám trẻ mục đồng.

Sau khi thỉnh Thần an vị, Ban Tế tự bưng hộp sắc ra bàn giữa chánh điện mở ra cho hương chức trong hội tề xem - gọi là “trình sắc” hay “khán sắc”, mục đích để chứng minh sắc còn nguyên vẹn không bị mối ăn, không bị tráo. Xem xong sắc được đưa lên bàn thờ, đoạn Ban Tế tự hành lễ đọc văn tế Thần. Buổi chiều cử hành lễ Túc yết (mổ heo). Nửa đêm, xây chầu hát bộ một lớp sơ cổ. Ngày thứ nhì, cử hành lễ “Đàn cả” vào buổi sáng, buổi chiều hát bộ. Ngày thứ ba, cúng Tiền Hiền và cầu siêu các chiến sĩ trận vong và hội viên quá cố; buổi chiều hát bộ và hồi chầu, bế mạc.

Đình nào cúng trong một ngày thì sáng rước sắc, làm lễ Túc yết và Đàn cả; trưa chiều cúng cha chú (tức Tiền hiền), cúng Thần, cúng tất và tống na (tống quái). Ban Tế tự làm chiếc ghe nhỏ bằng bẹ chuối, để ít thực phẩm trong ghe và thả trôi ra biển.

Ngày xưa sắc Thần để trong đình, đến chiều 30 tháng Chạp Ban Tế tự thỉnh sắc từ đình về nhà việc của làng gọi là để Thần ăn Tết. Suốt bảy ngày từ mùng 1 đến mùng 7 Hương chức không làm việc. Đến chiều mùng 7 cúng Khai sơn rồi Ban Tế tự thỉnh sắc về đình. Từ lúc sắc Thần để trong nhà ông Thủ sắc thì làng bỏ tục lệ trên.

NGHI THỨC HÀNH LỄ

Đến giờ hành lễ, các ông trong Ban Tế tự mặc áo thụng xanh và áo dài đen cùng đoàn lễ sanh sắp hàng đi lên chánh điện từ hướng đông (khi xuống đi hướng tây). Đình nào không dùng học trò lễ thì có ông Hương lễ điều hành nghi thức. Mỗi vị đứng theo vị trí của mình, chức lớn đứng trước bàn Thần, chức nhỏ đứng phía sau lưng và hai bên tả hữu. Một lễ sanh (hoặc ông Hương lễ) đứng cạnh bàn thờ để xuống điều khiển cuộc lễ, còn lại thì đứng hai bên dọc theo bàn thờ Thần.

Lễ túc yết có 4 đến 8 người phụ giúp. Trong lễ túc yết, khi lễ sanh xướng: “Củ soát tế vật” thì một vị trong Ban Tế tự đến xem xét lễ vật có đủ món không rồi lấy dĩa đựng lông và huyết heo đem ra sân đình chôn. Có làng không chôn thì lễ sanh xướng câu: “Ế mao huyết”, người phụ trách đem dĩa lông và huyết heo để kế bên con vật hy sinh trước bàn Thần. Đoạn Ban Tế tự theo lời xướng đi rửa tay, lau tay. Một vị bưng hộp hương, một vị bưng lò hương trao cho Tế quan làm lễ thượng hương. Kế tiếp Tế quan lại chỗ để cái mõ dỡ tấm khăn đỏ trải phủ thân mõ đánh 3 hồi dài. Hai vị bồi tế đánh 3 hồi chiêng trống. Nhạc lễ trổi lên, Ban Tế tự trở về vị trí lạy Thần 4 lạy. Lễ sanh dâng 3 tuần rượu, 3 tuần trà. Vị Hương lễ đọc bài văn tế. Lễ tất.

LỄ XÂY CHẦU

Theo lệ xưa, trước khi đoàn hát bộ trình diễn đêm đầu, Ban Tế tự tổ chức “Lễ xây chầu” còn gọi là “Khai tràng”. Người phụ trách xây chầu gọi là Chấp sự, phải là người đứng đắn, cao tuổi, gia đình đông đảo, có uy tín, được dân làng trọng vọng. Ông Chấp sự phải biết mỗi năm tùy hướng “Đại lợi” mà xoay cái trống cho đúng hướng. Mặt trống chầu gọi là Thái cực. Coi hướng xong phải lấy địa bàn phân kim ngay ngắn, lấy phấn làm dấu dưới chân trống cho khỏi xê dịch, trật chỗ. Mặt trống phải đậy khăn đỏ không cho ai rờ mó. Trên giá trống có cây đèn dầu, phải giữ cháy luôn luôn và coi chừng mèo chuột chạy đổ ngã.

Đến giờ hành lễ, Chấp sự đến chỗ để trống, lòng thật bình tĩnh, trong tâm cầu nguyện Thần Thánh hộ trì. Ông đứng nghiêm ngay thẳng, oai nghi như cây trụ đồng, chân theo chữ “đinh”, mắt ngó thẳng hướng Đại lợi. Khi lễ sanh xướng: “Chấp sự viên hành sự” thì ông Chấp sự ngó vào mặt trống, tay dỡ khăn đỏ, tay cầm dùi đánh ba hồi dài. Đến hồi chót ông đánh tiếp 3 chập, mỗi chập 3 tiếng, cộng lại là 9 tiếng, theo câu “Tam như tam, thiên hạ thái bình; Cửu như cửu, trình tường tứ phước”. Nghi thức này còn gọi là ba hồi chín chập.

Sau đó tuồng hát bắt đầu, ông Chấp sự muốn ngồi đánh trống thưởng phạt hoặc nhường cho người khác cũng được, nhưng phải lựa người đàng hoàng. Lúc hồi chầu bế mạc thì đánh một hồi trơn mà thôi. Nếu phần hát chầu chấm dứt mà có người mướn đoàn hát trình diễn thêm để cúng Thần trả lễ theo lời nguyện vái thì sau hồi trống có thêm 3 tiếng cho một tuồng, 3 tiếng nữa cho tuồng thứ hai. Đánh như vậy có nghĩa là tuy đã hồi chầu nhưng còn có hát thêm. Ban Tế tự của đình toàn quyền chọn tuồng hát nhưng thường cũng không ngoài những tuồng dưới đây:

- Sơ cổ, buổi thứ nhất: “Trương Phi thủ cổ thành” hoặc “Huê Dung đạo”.

- Các buổi kế tiếp: “Thần nữ dâng Ngũ linh kỳ”; “Chung Vô Diệm”; “Xử án Bàng Quý Phi”; “Lưu Bị cầu hôn giang tả”; “Bá Lý Hề”…

THƯỞNG TIỀN

Người thưởng tiền là ông cầm chầu. Ông phải rành tuồng tích, hát đúng hoặc hát nhận lớp (bỏ lớp). Khi diễn viên hát nhận lớp hoặc hát dở quá, ông gõ vành trống mấy cái để nhắc nhở hay cảnh cáo không nên qua mặt. Lúc hát hay, đúng tuồng tích và nhất là những “pha gay cấn” đào kép diễn tả đúng điệu, tiếng trống đánh một chập 3 tiếng, hai chập 6 tiếng hoặc dồn dập nhiều hơn, tiền thưởng mỗi lần nhiều hay ít theo tiếng trống. Thấy việc ném bạc giấy lên sân khấu mỗi lần thưởng có vẻ bất tiện nên về sau người ta dùng thẻ tre, quy định mỗi thẻ là bao nhiêu tiền, đến khi buổi hát tạm ngưng thì có người mang số thẻ đến cho ông cầm chầu thanh toán.

Ba năm mới có một lần hát bộ cúng đình nên đây là dịp để các ông cầm chầu trổ tài hiểu biết tuồng tích và phô tiếng trống sành điệu. Ông nào cũng tỏ ra hào phóng, đánh trống ầm ầm, ném tiền (hay thẻ tre) lên sân khấu không biết mỏi tay khiến thằng bé con của bạn hát cứ lom khom chạy lượm mãi, tạo nên cảnh vui nhộn cho buổi hát giữa sự ồn ào của đám đông khán giả bình dân.

LỄ VẬT CÚNG THẦN

Người ta thường dùng vật hi sinh để cúng Thần (theo Từ nguyên, Hi là con vật toàn một màu sắc hoặc đen, hoặc trắng; Sinh là súc vật làm thịt rồi). Vật hi sinh là heo gọi là “cang lạp”, dê gọi là “nhu mao”, xôi gọi là “tư thành”. Có làng cúng thêm bò hoặc trâu, gọi là “tam sanh”. Ngoài món thịt, người ta cho món xôi là vai chánh trong buổi lễ, kế là bánh trái.

Đây là dịp cho bà con dân làng hãnh diện được có phần một mâm xôi. Từ ông Tổng, ông Hội đồng, đến ông Lý trưởng, Hương thân, Hương hào, Hương bộ… mỗi vị cúng một hoặc hai mâm. Mỗi nhà tự chọn nếp thật tốt, lo nấu xôi thật ngon, khéo. Xôi xây tròn trên mâm thau, vành mâm có dán mảnh giấy ghi tên người cúng. Khi cúng xong, Ban Tế tự cắt làm hai, một nửa để đãi tại đình, một nửa cho người cúng đem về nhà gọi là “lộc của Thần”. Khi đưa mâm xôi đến đình, người chủ phải đội trên đầu hoặc bưng trên vai, không được phép bưng ngang hông dưới nách; nếu để mâm xôi vào gióng phải hai người khiêng chứ không được gánh hai đầu như gánh nước hay đi chợ. Khi cúng rồi đem một nửa mâm xôi về nhà thì tự bưng gánh thế nào cũng được.

Những đình quá nghèo thì không có việc cúng mâm xôi như trên. Nhiều đình khi cúng tế thì Ban Tế tự lo việc nấu nướng tại nhà Tổ để đãi khách. Khi chấm dứt cuộc cúng tế, Ban Tế tự chia phần thịt heo biếu Hương chức gọi là “Kiến”. Đầu heo và cái nọng kiến cho hai ông cao cấp nhất, còn các vị khác thì mỗi vị một miếng thịt. Có làng nhân dân cúng ít xôi không đủ đãi đằng thì Ban Tế tự không hoàn lại nửa mâm như cựu lệ mà biếu người cúng một miếng thịt.

Bánh cúng có bánh thuẫn, bánh bông lan, bánh in, bánh cốm, bánh ít lá gai… Trái cây thường là cam, chuối, xoài, thanh long, mãng cầu, ổi xá lị, vú sữa, bưởi… mùa nào thức ấy, không bắt buộc.

 Nguyễn Man Nhiên

 

 

Bài cùng tác giả

 

>> Ngày xuân tản mạn về bonsai và cây kiểng

>> Văn miếu Diên Khánh

>> Rồng Việt

>> Thú chơi tranh Tết dân gian

>> Lỗ Lường - lễ tục độc đáo ở hòn Đỏ - Ninh Hòa

>> Tên làng xã Khánh Hòa hồi đầu thế kỷ 19 qua sưu tập địa bạ triều Nguyễn

>> Nha Trang xuống Chụt bao xa...

>> Nem Ninh Hòa (kỳ 2)

>> Nem Ninh Hòa (kỳ 1)

>> Ăn giỗ đi trước

>> Mỹ nghệ vỏ hải sản ở Nha Trang

>> Ngày xuân nhớ lại một số tục cổ, nếp xưa

>> Thiền sư Tế Hiển, chùa Thiên Bửu Thượng

>> Các đời quan trấn thủ ở Khánh Hòa xưa

>> Món ngon trên đời

>> Về địa danh Vịnh Vân Phong

>> Múa Lục Cúng Hoa Đăng Ninh Hòa

>> Chiều chiều mây phủ Đá Bia

>> Nếp xưa, Tết Việt

>> Ngày xuân đọc lại "Xứ Trầm Hương" ...

>> Địa danh gốc Chăm ở Khánh Hòa

>> Đi tìm di tích Dinh xưa

>> Phụ lục: Những câu hò giã gạo Ninh Hòa (kỳ 2)

>> Phụ lục: Những câu hò giã gạo Ninh Hoà (kỳ 1)

>> Hò Giã gạo - Dân ca Ninh Hoà