QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

HỒN QUÊ XỨ VẠN: ĐÔI NÉT ĐỊA DANH...

NGUYỄN VIẾT TRUNG

 

NHỮNG BIẾN ĐỔI TRÊN BẢN ĐỒ ĐỊA LÝ - HÀNH CHÍNH

Huyện Vạn Ninh - vùng đất cực bắc của tỉnh Khánh Hòa - nguyên trước kia là huyện Quảng Phúc (từ đời Tự Đức về sau, do kiêng húy âm Phúc trong tên họ Nguyễn Phúc nên đọc thành Quảng Phước), thuộc phủ Thái Khang, được thành lập năm 1653 dưới thời Hiền vương Nguyễn Phúc Tần. Năm 1690 huyện này thuộc phủ Bình Khang, năm 1803 thuộc phủ Bình Hòa. Năm 1831 thuộc phủ Ninh Hòa, gồm 4 tổng: Phước Khiêm, Phước Thiện, Phước Tường, Phước Hà. Đầu niên hiệu Đồng Khánh (1886) chia các tổng Phước Hà và Phước Tường thành Phước Hà Nội, Phước Hà Ngoại, Phước Tường Nội, Phước Tường Ngoại (1).

Dưới đời Duy Tân (1907-1916) bỏ huyện Quảng Phước giao phủ Ninh Hòa kiêm lý (2).Năm Bảo Đại thứ 6 (1931) cắt 3 tổng Phước Khiêm, Phước Hà Nội, Phước Hà Ngoại nhập vào huyện Tân Định và đổi huyện này thành phủ Ninh Hòa (nay là huyện Ninh Hòa), còn phủ Ninh Hòa cũ đổi là huyện Vạn Ninh, gồm 3 tổng là Phước Tường Nội, Phước Tường Ngoại và Phước Thiện.

Năm 1949 chính quyền cũ bỏ danh xưng phủ, huyện, đổi thành quận; tên các xã đều cấu tạo theo nguyên tắc chữ đầu của mỗi xã là chữ đầu của quận (Vạn). Năm 1951 tái lập Nha Bang tá Tu Bông, bao gồm 13 xã thuộc tổng Phước Tường Ngoại. Năm 1954 đổi là Nha Đại diện hành chánh Tu Bông, đến 1958 được giải thể, sáp nhập vào quận Vạn Ninh (3).

Năm 1956, cắt các xã thuộc tổng Phước Thiện nhập vào quận Ninh Hòa. Đến trước 30/4/1975, quận Vạn Ninh có 9 xã là Vạn Phước, Vạn Long, Vạn Khánh, Vạn Bình, Vạn Phú, Vạn Thắng, Vạn Thạnh, Vạn Lương, Vạn Hưng.

Về phía chính quyền cách mạng, đầu năm 1946 thành lập đơn vị hành chính cấp xã, huyện Vạn Ninh có 8 xã: Phước Đồng, Phước Trung, Phước Tây (thuộc tổng Phước Thiện), Đồng Xuân, Đồng Tiến, Đồng Hòa (thuộc tổng Phước Tường Nội), Liên Hưng và Liên Hiệp (thuộc tổng Phước Tường Ngoại). Trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, huyện Vạn Ninh nhập chung với huyện Ninh Hòa, gọi là Liên huyện Bắc Khánh.

Sau ngày thống nhất đất nước, năm 1976 hai huyện Vạn Ninh, Ninh Hòa hợp nhất thành một huyện mới gọi là huyện Khánh Ninh. Cơ quan hành chính huyện đặt tại Ninh Hòa. Đến Quyết định số 85/QĐ-CP ngày 05/3/1979, huyện Khánh Ninh được tách ra thành 2 huyện Vạn Ninh và Ninh Hòa như trước đây. Tháng 12 năm 1993, Nghị quyết kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa 9 điều chỉnh ranh giới giữa hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, tách thôn Vũng Rô thuộc xã Đại Lãnh ra khỏi huyện Vạn Ninh sáp nhập vào xã Hoà Xuân, huyện Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.

Địa giới hành chính huyện Vạn Ninh hiện nay: bắc giáp huyện Đông Hòa (tỉnh Phú Yên), nam giáp huyện Ninh Hòa, tây giáp huyện Ninh Hòa và huyện Sông Hinh (tỉnh Phú Yên), đông giáp biển Đông. Diện tích tự nhiên: 556,038 km2; dân số: 118.431 người. Số lượng các đơn vị hành chính gồm: 1 thị trấn: Vạn Giã (thành lập theo QĐ số 268/QĐ-CP ngày 23/10/1978) và 12 xã: Đại Lãnh (thành lập theo QĐ số 230/QĐ-HĐBT ngày 13/9/1985), Vạn Thọ (thành lập theo QĐ số 100/QĐ-HĐBT ngày 30/9/1981), Vạn Phước (thành lập theo QĐ số 100/QĐ-HĐBT ngày 30/9/1981), Vạn Long, Vạn Khánh, Vạn Thắng, Vạn Thạnh, Vạn Bình, Vạn Phú, Vạn Lương (thành lập theo QĐ số 32/2000/NĐ-CP ngày 11/8/2000), Vạn Hưng (thành lập theo QĐ số 43/QĐ-HĐBT ngày 15/4/1986), Xuân Sơn (thành lập theo QĐ số 43/QĐ-HĐBT ngày 15/4/1986) (4).

NGUỒN GỐC VÀ Ý NGHĨA MỘT SỐ ĐỊA DANH LỊCH SỬ, VĂN HÓA TIÊU BIỂU HUYỆN VẠN NINH

Vạn Ninh nằm trên Quốc lộ 1A, phía bắc tiếp giáp với huyện Đông Hòa tỉnh Phú Yên nối qua đèo Cả, phía nam chung vách với huyện Ninh Hòa vốn là anh em sinh đôi. Vùng đất với trên 550 km2 rừng vàng biển bạc, ngày xưa đã đi vào câu hát “Trầm hương Vạn Giã..., ngày nay lại nổi tiếng với vịnh Vân Phong về vẻ đẹp thiên nhiên và tiềm năng kinh tế của một cảng nước sâu.

Tên huyện Quảng Phước xưa đã nói lên tính cách và đặc trưng của vùng đất. Quảng nghĩa là rộng rãi: đất rộng phì nhiêu, bao la, trù phú; lòng người bao dung, hào phóng, hiếu khách. Phước (âm khác của Phúc) là tốt lành: trên rừng nào trầm hương, kỳ nam nổi tiếng, ngoài biển tôm cá chạy đan dài. Người dân xứ Vạn xưa nay sống chủ yếu bằng nghề nông và nghề biển. Vị trí được thiên nhiên ưu đãi, nên ông cha ta ngày trước gọi Vạn Ninh là xứ sở của “cơm trước mặt, cá sau lưng”!

Ca dao địa phương có câu:

Trèo lên đèo Cả,

Ngó xuống Vạn Giã, Tu Bông.

Biết rằng cha mẹ có đành không,

Để anh chờ, em đợi uổng công hai đàng!”

Đèo Cả cắt qua núi Đại Lãnh là ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa. Như tên gọi, Cả (Nôm) và Đại (Hán Việt) đều có nghĩa là lớn, đèo Cả là một trong những ngọn đèo hùng vĩ và hiểm trở nhất trên Quốc lộ 1A tại miền Trung. Thời Nguyễn có trạm Phú Hòa đóng ngay giữa đỉnh đèo lo việc trạm nơi vùng giáp giới. Dưới chân đèo phía nam, bãi biển Đại Lãnh như một bức tranh sơn thủy hữu tình với dải cát trắng mịn, sóng vỗ rì rào, luôn chào mời hấp dẫn du khách dừng chân ghé lại.

Phong cảnh Đại Lãnh từ xưa đã được liệt vào hàng danh thắng của đất nước. Năm Minh Mạng thứ 17 (1836), vua sai thợ chạm hình núi này vào Tuyên đỉnh (một trong 9 đỉnh đồng đặt trước sân Thế Miếu). Năm Tự Đức thứ 6 (1853) được ghi tên vào Tự điển.

Án Sát Khánh Hòa Nguyễn Thông (1827-1884), khi đi công cán qua nơi này có làm bài thơ:

ĐỘ LĨNH

Lĩnh tiệt thiên nghi tận

Vân khai địa hốt bình

Bàn không khan điểu độ

Nhiễu đắng bạng xà hành

Duyệt lịch kinh tiền mộng

Phiêu linh tiếu lữ tình

Thê thê nham hạ lộ

Hữu khách chính hu hành

Tạm dịch:

QUA ĐÈO CẢ

Núi chắn ngỡ đâu trời đứt đoạn

Mây tan hết thấy đất chênh vênh

Vòng tầng không ngắm chim bay liệng

Leo bậc đường xoay rắn uốn quanh

Những khiếp mơ xưa mùi nếm trải

Nực cười dặm khách buổi lênh đênh

Sườn non thui thủi niềm tâm sự

Quắc mắt này ai bước gập ghềnh.

Ở Vạn Ninh có vùng Tu Bông - tên cũ là Tu Hoa - xưa nay nổi tiếng nhiều gió, vì thế dân gian mới có câu: “Mưa Đồng Cọ, gió Tu Hoa”.

Theo Đại Nam nhất thống chí, địa danh Tu Hoa là do tên núi Hoa (Sơn) và sông Tô (Hà) hợp lại mà thành. Sách ĐNNTC đời Tự Đức chép: “Núi Hoa Sơn, tục gọi núi Tô Hà, ở cách huyện 59 dặm về phía tây bắc, gió nồm phần nhiều từ núi này thổi ra, nên tục gọi gió Tô Hà”. Sách ĐNNTC đời Duy Tân chép: “Núi Tô Hà: ở phía tây bắc huyện Quảng Phước 59 dặm, trước tên là Hoa Sơn. Sông Tô phát nguyên ở đây cho nên có tên núi Tô Hà. Gió nam thường từ núi này thổi lại, cho nên có câu ngạn ngữ gió Tô Hà”. Sách Hoàng Việt nhất thống dư địa chí cũng chép tương tự: Phía nam cầu là địa phận xã Tân An, tức xứ Tô Hà, ở đây vào mùa đông gió rất to làm hư cả nhà tranh vách cỏ, khí rất lạnh cho nên thường gọi là gió Tô Hà”.

Đời sau, do kiêng húy tên mẹ vua Thiệu Trị là Hoàng tỷ Nhân hoàng hậu Hồ Thị Hoa, nên đổi Hoa thành Bông, Tu Hoa thành Tu Bông:

“Gió đâu bằng gió Tu Bông,

Thương ai bằng thương cha, thương mẹ, thương chồng, thương con”.

Xã Tân An đời Gia Long thuộc tổng Hạ, huyện Quảng Phước, phủ Bình Hòa. Đời Đồng Khánh đổi là xã Tân Phước, tổng Phước Tường, huyện Quảng Phước, phủ Ninh Hòa. Hiện nay là thôn Tân Phước, xã Vạn Phước, huyện Vạn Ninh. Dòng Tô giang xưa nay có tên là sông Tu Bông hay còn gọi là sông Tân Phước.

Tu Bông cũng là vùng đất hội tụ nhiều anh hùng hào kiệt. Hai cha con Phạm Chánh, Phạm Long cùng Hiệp trấn Nguyễn Sum đều là người làng Hội Khánh, Tu Bông, cùng tham gia phong trào Cần Vương, được nhân dân tôn là “Quảng Phước tam hùng”:

“Gương phấn dũng làu làu Phạm Chánh,

Cùng Phạm Long chung gánh non sông.

Cha con trung hiếu vẹn tròn,

Cùng Nguyễn Sum, nguyện mất còn có nhau.

Bao phen cay đắng hận thù, 

Tam hùng, tam kiệt nghìn thu trăng rằm”.

Ngày xưa, cây cầu bắc qua sông Tu Bông (hay còn gọi sông Tân Phước) được đúc bằng xi-măng cốt sắt nên người dân quen gọi là Cầu Đúc. Cầu cách ga Tu Bông khoảng độ 1 km. Năm 1952, thực dân Pháp đã lập đồn bên bờ bắc cầu để kiểm soát và án ngữ vùng bắc Tu Bông cùng đường 1. Vào đêm 26/3/1954, nhiều đơn vị bộ đội Khánh Hòa đã phối hợp tấn công tiêu diệt đồn, bắt toàn bộ tù binh, thu nhiều vũ khí góp phần làm thất bại chiến dịch Át-lăng của thực dân Pháp.

Nằm giữa đoạn đường Đại Lãnh - Tu Bông có địa danh Xe Cháy. Sở dĩ có tên này vì tại đây vào thời kháng chiến, bộ đội đã lập phòng tuyến đánh chặn nhiều đoàn công-voa của Pháp, tiêu diệt nhiều tên lính lê-dương, đốt cháy nhiều xe chở vũ khí và lương thực của giặc. Sau ngày thống nhất đất nước, dân đến đây lập nghiệp, nơi này có tên mới là Cơ Sở 2.

Địa danh Vạn Giã, theo Quách Tấn trong sách Xứ Trầm hương, nguyên do từ tên hai cửa biển của vịnh Vân Phong hợp lại mà thành. Cửa Vạn (người Pháp gọi là Port Dayot) ở Đầm Môn, nằm dưới chân bán đảo Bàn Sơn trông ra Hòn Lớn. Cửa Giã ở Vạn Giã, kéo dài từ bờ biển xã Vạn Lương đến giáp bờ xã Vạn Thắng.

Thật ra, theo lời các vị cao niên thuộc dòng họ những bậc tiền hiền khai hoang lập làng ở Vạn Giã, tàu bè ra vào biển Đầm Môn trong vịnh Vân Phong theo hai cửa, phía đông gọi là lạch Cửa Bé, phía tây gọi là lạch Cửa Lớn hay lạch Cổ Cò, chứ không hề có tên Cửa Vạn.

Một cách hiểu khác, theo chúng tôi, đơn giản hơn nhưng có lẽ gần với sự thật hơn: Vạn Giã nghĩa là làng của những người làm nghề chài lưới. Vạn: làng chài dọc theo vịnh biển, cửa sông; Giã: nghĩa hẹp: nghề lưới giã, nghĩa rộng: chỉ nghề biển nói chung (biển giã). Sách Đại Nam nhất thống chí của Sử quán triều Nguyễn cũng chép: “Quán Vạn Giã: ở huyện Quảng Phước, dân cư trù mật, làm nghề đánh cá, từ khi binh lửa, dân bị điêu tàn”. Xưa nay, người dân qua lại vùng đất này vẫn thường gọi một tiếng Giã đơn giản mà vô cùng thân thiết: đi Giã, về Giã, xuống Giã, ở Giã… Còn đó những cái tên quên thuộc ga Giã, chợ Giã, cửa Giã, trạm Giã… Cửa Giã ngày nay đã trở thành khu dân cư đông đúc, nhà cửa sầm uất, là nơi tấp nập ghe thuyền buôn bán ra vào neo đậu.

Tại trung tâm thị trấn Vạn Giã, nơi giao tiếp của 6 ngã đường, tập hợp một quần thể di tích cổ. Trước hết là Nhà Vuông, gọi theo hình dáng vuông vắn của ngôi nhà xưa dân làng dùng làm nơi hội họp, bầu cử… Gần đó là đình Tân Mỹ chùa Tân Long 100 tuổi. Nguyên Tân Mỹ là tên của hai làng Tân Hội và Mỹ Chữ hợp nhất mà thành, xưa thuộc tổng Phước Tường Nội, huyện Quảng Phước, nay thị trấn Vạn Giã, huyện Vạn Ninh. Cạnh chùa Tân Long là miễu Bà Chúa Nguộc (tức Bà Chúa Ngọc; Nguộc là âm địa phương của Ngọc) thờ Thiên Y thánh mẫu, nằm trầm mặc dưới những tán cây bồ đề, cây thị hồng sum suê thơm lựng. Về phía bắc N Vuông chừng hơn 100 m là địa danh Cây Sộp, nơi cây sộp già tuổi thọ trên 200 năm, đứng sừng sững cạnh đình Tân Mỹ. Cây sộp thường được dân gian xếp vào hàng tứ trụ (sanh, si, sung, sộp) đại diện cho sự giàu sang, trường thọ. Dưới bóng cây sộp cổ thụ trăm năm đã in dấu biết bao kỷ niệm thân thiết của nhiều thế hệ người dân xứ Vạn.

Từ thị trấn Vạn Giã, theo đường Nguyễn Huệ qua cầu huyện là đến địa phận thôn Quảng Hội 1, xã Vạn Thắng. Ngày trước, muốn đến huyện đường, dân chúng thường phải đi qua chiếc cầu này, vì thế mới có tên cầu Huyện. Qua khỏi cầu độ 50 m, rẽ trái rồi phải, độ chừng hơn 200 m nữa là đến mả ông Quan Điền. Ông Quan Điền là cách gọi tôn kính của người dân Vạn Ninh với cụ Trần Kế Đức trong sự nghiệp khai khẩn ruộng đất các xã Vạn Bình, Vạn Thắng, Vạn Phú, Vạn Giã trước đây. Ông là người đã mở rộng diện tích đất nông nghiệp, phát canh cho nông dân, giúp người dân địa phương có được mảnh ruộng cấy cày, làm nên miếng vườn trồng trọt. Hằng năm, cứ vào ngày 12/3 âm lịch và 12/8 âm lịch, dân làng Trung Dõng tổ chức tế lễ kỳ an. Trong lời khấn, có nêu danh tánh cụ Trần Kế Đức là một trong 8 vị tiền hiền có công với địa phương.

Năm 1999, mả ông Quan Điền đã được xếp hạng di tích lịch sử lưu niệm danh nhân của tỉnh.

Ca dao địa phương có câu:

“Ngó lên đỉnh núi Ba Non,  

Công cha nghĩa mẹ làm con phải đền”.

Ba Non là tục danh của núi Tam Phong, ở phía tây bắc huyện Vạn Ninh, nơi giáp giới với tỉnh Phú Yên. Theo Đại Nam nhất thống chí, “núi có ba ngọn, cao chọc trời, tục gọi núi Ba Non”. Ba ngọn đó là: Hòn Giữ, tên chữ là Trấn Sơn (cao 1264 m), Hòn Ngang tức Hoành Sơn (1128 m), Hòn Giúp tức Hộ Sơn (1127 m).

Núi Tam Phong nằm phía tây núi Đại Lãnh, ở giữa có đèo Cục Kịch là con đường mòn xuyên sơn qua lại giữa hai tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên trước khi có đường cái quan đi qua đèo Cả. Đỉnh núi cao vút từng mây, thế núi hùng vĩ, hiểm trở, xứng danh là “trấn sơn của tỉnh. Thời Nguyễn có đặt lệ, mỗi khi trong nước gặp ân điển lớn đều đến cúng tế trọng thể ở núi này.

Núi Phú Mỹ, tục danh là núi Đồng Cọ, ở phía tây bắc huyện. Theo Đại Nam nhất thống chí, “núi cao ngút trời, thường có mây mù bay ra, buổi chiều thường có mưa, nên có ngạn ngữ “mưa Đồng Cọ.”

Đèo Cổ Mã, ở Km 1372+850 trên QL1A, thuộc địa phận xã Đại Lãnh, huyện Vạn Ninh. Đèo dài khoảng 2 km, cắt qua một ngọn núi có tên Mã Cảnh Sơn, tục danh núi Cổ Ngựa. Tại đây có hầm xe lửa số 24 dài 402 m. Theo sách Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định, “hình thế ngọn núi trông giống cổ con ngựa nên gọi là đèo Cổ Ngựa”. Thời Nguyễn có lập trạm dịch dưới chân đèo, gọi là trạm Hòa Mã, “đặt ở trạm này 51 suất lính, chia làm 3 phiên, mỗi phiên 17 người thường trực ở trạm” 

Năm 1945, thực dân Pháp xây Đồn Nhà Đá ở đầu phía nam đèo Cổ Mã, nhằm ngăn chặn đường chuyển quân của Việt Minh từ Phú Yên vào và các vùng phụ cận Tu Bông, Vạn Giã đi qua tuyến Tuần Lễ, Vĩnh Yên, Đầm Môn. Hàng trăm người tham gia chống Pháp đã bị bắt về đây tra tấn hoặc bắn chết vứt xác xuống biển. Sau khi Pháp thua trận về nước (1954), dân đã đập phá đồn này.

Vân Phong là vịnh biển lớn nhất tỉnh Khánh Hòa. Sách Đại Nam nhất thống chí có ghi các địa danh: Vân Phong dữ (đảo Vân Phong), Vân Phong úc (vịnh Vân Phong), Vân Phong đại hải tấn (tấn Vân Phong lớn)), Vân Phong tiểu hải tấn (tấn Vân Phong nhỏ). Về lai lịch của tên Vân Phong, sách chép như sau: “Đảo Vân Phong: ở phía đông bắc huyện Quảng Phước 2 dặm, tục danh Hòn Khói. Buổi đầu nhà Nguyễn trung hưng vua Thế Tổ đem quân đánh giặc, thủy quân có tới đóng ở Hòn Khói, tức là chỗ này. Năm Minh Mạng thứ 6 đổi lại tên là Vân Phong”.

Trên các bản đồ thời Nguyễn, hai chữ Vân Phong (Hán tự) đều được viết nhất quán là . Vân mây, Phong đỉnh núi. Căn cứ vào tự dạng trên, hai chữ này phải đọc là Vân Phong, tuy nhiên nhiều người dân địa phương vẫn quen gọi là Văn Phong, kể cả đây đó trên sách báo, thậm chí trên nhiều bản đồ hiện đang lưu hành vẫn thấy ghi là vịnh Văn Phong!

Như vậy có thể xác định địa danh Vân Phong đã ra đời vào năm 1825 dưới triều vua Minh Mạng, là tên mới của Hòn Khói - một ngọn núi ở phía bắc bán đảo Hòn Hèo nhìn xuống vịnh Vân Phong. Ý nghĩa của Vân Phong là đỉnh mây, ban đầu là mỹ tự của nhà Nguyễn đặt cho núi Hòn Khói, sau cũng được dùng để gọi rộng ra vịnh Vân Phong. 

Đầm Môn là một bán đảo nằm ở phía đông vịnh Vân Phong, gồm 3 thôn: Đầm Môn Hạ, Đầm Môn Thượng và Sơn Đừng (nay đổi là Xuân Đừng) thuộc xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, dân cư chuyên sống bằng nghề nuôi trồng và đánh bắt hải sản. Đầm Môn ngày nay đã nối với đất liền bằng con đường xẻ cát dài hơn 18 cây số đi qua các thôn Tuần Lễ, Xóm Mới, Vĩnh Yên. Vụng Cổ Cò (Đầm Môn) là một vụng biển nhỏ và sâu, được che chắn bởi một số đảo, nên khá kín gió và yên tĩnh.

Theo Đồng Khánh địa dư chí, tên chữ của Đầm Môn là Đàm Môn (nghĩa là cửa đầm), một thôn thuộc tổng Phước Hà Ngoại, huyện Quảng Phước, phủ Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa thời Nguyễn. Đầm Môn, như cách gọi hiện nay, là một địa danh được cấu tạo theo kiểu “nửa Nôm nửa Hán”: Đầm (Việt) + Môn (Hán), tương tự như Thủy Đầm ở Ninh Hòa hay Bích Đầm ở Nha Trang.

Thôn Khải Lương thuộc xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, cách bến cảng thị trấn Vạn Giã khoảng hơn hai giờ đi đò, là một trong những làng chài hành nghề lưới đăng đầu tiên ở Khánh Hoà. Thôn Khải Lương xưa có tục danh là Bảy Giếng -“Có chồng Bảy Giếng được ăn miếng cá thu”- sau này bị gọi sai thành Bãi Giếng. Ngư dân hành nghề lưới đăng thường lưu truyền câu ca:

“Có chồng Bảy Giếng được nhờ,

Ngày thời chắp bả, tối đánh cờ hơn con. 

Không lo chi tiền hết gạo còn,

Thuyền về tới bến xách con rau dài 5.

Theo các bô lão ở địa phương, nguyên do làng này có tên Bảy Giếng là vì từ thuở mới đến ngụ cư trên đảo, việc cần yếu là phải tìm nơi đào giếng. Nguồn nước ngọt khó tìm, dân cư ngày một đông, do đó lần lượt họ đào cả thảy 7 cái giếng và con số 7 này dừng lại mãi để về sau trở thành tên gọi quen thuộc. 7 cái giếng đó là: Giếng Chùa, Giếng Vĩnh, Giếng Tràu, Giếng Ông Bành, Giếng Ông Hộ, Giếng Ông Do, Giếng Bà Ất. Tên giếng được đặt theo tên người đào hoặc ở gần nhà người có giếng (ví như Giếng Ông Hộ là giếng của ông bá hộ Hà Thị, người lập nghiệp đầm đăng đầu tiên ở đây), riêng Giếng Tràu có tên này là vì không hiểu sao lòng giếng lại có con cá tràu to lắm. Đến nay hầu như tất cả các giếng đều còn mạch nước, chỉ trừ Giếng Bà Ất đã thành giếng cạn. Giếng Chùa là giếng có nước ngọt nhất và mạch nước tốt nhất nay trở thành giếng làng được nhiều bà con sử dụng.

Thôn Tuần Lễ thuộc xã Vạn Thọ, còn gọi là làng Tràm, bắc giáp thôn Ninh Mã, nam giáp thôn Vĩnh Yên xã Vạn Thạnh. Làng toàn đất cát, chunh quanh là những đồi cát trắng chập chùng mọc đầy những bụi cây dứa gai, từ bi, sam, vạn tuế, cò ke... Làng còn có khoảng hàng chục hecta rừng tràm và rừng ngập mặn, với những cây bần, cây đước cổ thụ... Theo địa bạ lập năm Gia Long thứ 10 (1811), nguyên làng này được hợp nhất từ hai thôn An Toàn Bãi Dài và thôn Cường Lễ (tục danh xứ Truông Tràm), nên có tên là Tuần (Toàn) Lễ. Các địa danh Bãi Dài và Truông Tràm đến nay vẫn còn được bảo lưu như những tên gọi truyền thống ở địa phương.

Dọc theo con đường Cổ Mã - Đầm Môn đi qua làng Tuần Lễ là một đồi cát trắng phau trải dài hơn chục cây số, dân gian quen gọi là đồi Cát Xễ. Phong cảnh ở đây tuyệt đẹp, nhất là vào những đêm rằm, nam thanh nữ tú tấp nập rủ nhau lên đây chuyện trò, ngắm trăng, đón gió. Gần đây đồi có tên mới là đồi Cô Đơn. Có người giải thích vì ngày trước, trên đỉnh đồi chỉ có một bụi dứa gai, chứ không nhiều như bây giờ. Ánh trăng rằm tỏa xuống, bóng ngã sang bên in hình một thiếu nữ đang ngồi tư lự trong dáng vẻ cô đơn. T đó tên mới ra đời.

Cách đồi Cô Đơn khoảng 500 m về phía đông, qua khỏi đồi cát và rừng dương xanh rì là tới Bãi Dài. Bãi biển ở đây sạch, nước trong xanh, cát trắng mịn màng, phong cảnh tuyệt đẹp và thơ mộng.

Ở Tuần Lễ có một ngọn dốc rất cao toàn cát trắng gọi là dốc Cây Cờ. Sở dĩ có tên này vì thời kháng chiến chống Pháp, dân làng đặt trạm canh gác trên dốc. Khi thấy giặc đến mở trận càn thì báo động bằng cách treo cờ lên ngọn cây cao ở đỉnh dốc để dân làng nhanh chóng tản cư và lập phòng tuyến chiến đấu.

Đi từ Tuần Lễ đến Đầm Môn (xã Vạn Thạnh), đến đoạn đường cái trẽ ra biển gặp một eo biển toàn cát trắng. Vào mùa gió Tây Nam, ngư dân thường đến đây dựng lều để câu mực, bắt cá, tôm, hết mùa gió thì dọn đi. Mùa biển động, sóng đập dữ dội vào eo biển tạo nên âm thanh gầm thét, nên dân gian đặt tên là Hòn Gầm. Từ hòn Gầm đến đầm Bà Gia dài chưa tới hai chục cây số, nhưng ngày xưa nếu biển động thì ghe bàu phải đi mất bảy ngày mới tới:

Hòn Gầm nghe sóng bổ vang,

Đi bảy ngày đàng mới đến Bà Gia!”

Vùng Vạn Ninh, Ninh Hoà xưa có câu tục ngữ: Cọp Ổ Gà, ma Hòn Lớn”. Hòn Lớn (tên chữ là Đại Dự), còn gọi là Ninh Đảo, sừng sững chắn ngang cửa biển Vân Phong như tấm bình phong cho ghe thuyền tránh bão tố. Theo các lão ngư trong nghề lưới đăng kể lại, ngày xưa trên đảo này nổi tiếng có nhiều “ma Hời” quấy phá, do đó ngư dân có lệ thờ cúng Lỗ Lường từ khi bắt đầu khai thác đầm đăng.

“Ngó ra Hòn Lớn ba lần,

Thấy anh ở trần trong bụng xót xa.

Trở về mua lụa đậu ba,

May áo cổ giữa gửi ra cho chàng.”

Hòn Ông là một đảo nhỏ xinh đẹp và thơ mộng nằm trong vịnh Vân Phong, chỉ cách bến Đầm Môn chừng 20 phút đi thuyền. Hòn Ông hiện nay đã trở thành khu du lịch sinh thái nổi tiếng, được mệnh danh là một trong 9 thiên đường nghỉ dưỡng đẹp nhất biển Đông. Ông, nói tắt từ cá Ông, là cách gọi tôn kính của ngư dân địa phương với cá voi. Xưa nay, người dân làm nghề biển giã đã dựa vào một hiện tượng tự nhiên có thật và thường gặp là cá voi hay giúp người bắt được nhiều cá hoặc cứu người khi biển to sóng dữ, từ đó họ rất sùng kính cá voi, coi đó là một vị thần tối cao luôn cứu giúp họ khi gặp hoạn nạn trên biển cả. Trong các đình làng biển ở Khánh Hòa, ngoài bàn thờ tiền hiền, hậu hiền còn có bàn thờ Ông Nam Hải. Hàng năm, ngư dân thường tổ chức lễ hội cầu ngư với mục đích cầu Ông ban cho một mùa cá bội thu và phù hộ dân làng được bình an, mạnh khỏe.

Mũi Đôi nằm ở toạ độ 12,38 vĩ bắc - 109,27 kinh đông thuộc bán đảo Hòn Gốm, vịnh Vân Phong, xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, là điểm cực Đông trên đất liền của Việt Nam, nơi đón ánh bình minh sớm nhất trên cả nước. Tại đây, dưới chân núi hòn Cỏ ng, có hai mũi đá khổng lồ cùng nhô ra biển, nên gọi là Mũi Đôi. Cách đó chừng 500 m về phía đông là một đảo nhỏ mang tên hòn Đầu. Sở dĩ có tên này bởi trên đảo có rất nhiều cụm đá sừng sững, chồng chất lên nhau tạo thành những hòn kỳ thạch muôn hình muôn vẻ rất đẹp mắt, trong đó ấn tượng nhất là hai khối đá rất lớn nhô hẳn lên cao, giống hình  đầu của một người phụ nữ quấn khăn một em bé đang hướng mặt ra biển. Do những giá trị về cảnh quan môi trường, thiên nhiên và tiềm năng du lịch, năm 2005 Mũi Đôi - Hòn Đầu đã được Bộ Văn hóa Thông tin cấp bằng công nhận là di tích quốc gia.

Theo Nguyễn Đình Tư trong sách Non nước Khánh Hòa, trước đây người dân địa phương còn gọi mũi Đôi là mũi Đồi, vì phía ngoài có hòn Đồi Mồi (tức hòn Đầu hiện nay). Trong một bài vè các lái kể lại thủy trình của dân ghe bầu ngày xưa đi qua hải phận Khánh Hòa có đoạn:

“Hòn Gầm nghe sóng bổ vang,

Đi hết Cát Thắm thì sang Đồi Mồi.

Anh em lời thốt thương ôi,

Chạy khỏi Đồi Mồi tới đầm Bà Gia...”

Sách Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức chép: “Đầm Đồi Mồi: ở phía đông huyện Quảng Phúc, sát biển, sản đồi mồi, ở bờ biển có ghềnh đá, ngoài biển có đảo”. Sách Đại Nam nhất thống chí đời Duy Tân cũng chép: “Đầm Đại Mạo (hay đầm Đồi Mồi): ở phía đông huyện Quảng Phước gần bờ biển. Gần bờ đầm có hòn đảo có rất nhiều con đồi mồi”.

Thuộc địa phận thôn Tân Dân, xã Vạn Thắng, dưới chân núi cách biển gần 3 km, có địa danh Gành Bà. Núi chập chùng toàn đá, chạy dài từ Dốc Ké ra đến Vạn Khánh, Tu Bông. Đá chất chồng thành gộp, thành hang. Chính vì vậy mà nơi đây đã trở thành một trong những địa danh nổi tiếng của cả hai cuộc kháng chiến. Năm 1977, nơi này trở thành Công trường đá Tân Dân.

Vì sao có tên Gành Bà? Các cụ già kể rằng vì xưa kia biển ăn sát chân núi tạo nên Gành. Dấu tích là những tảng đá to bị sóng gió đánh mòn lẳn hiện vẫn còn, có một cái hồ rất lớn chảy theo mương Vĩnh Huề vào cánh đồng Tứ Chánh, Mỹ Cang. Thế rồi, qua hàng nghìn năm vật đổi sao dời, biển lùi xa dần như chúng ta thấy ngày nay.

Theo truyền thuyết địa phương, Gành là nơi ngự ( đây là Bà Chúa Ngọc, tức Thiên Y A Na hay còn gọi là Thiên Y Thánh Mẫu). Những đêm thanh vắng, Bà cũng thường xuất hành, bay từ Gành ra biển vào các ngày Rằm, mùng Một âm lịch. Các cụ già bảo Bà đi để quan sát đời sống, chuyện làm ăn của con dân mà độ trì, vì thế nên rất thiêng, có điều gì khấn nguyện, lòng thành, tin Bà thì sẽ được Bà phù hộ. Tuy nhiên đây chỉ là lời truyền, đến nay không mấy ai còn thấy nữa, chỉ nghe kể lại mà thôi. 

Núi Đại Đồng, ở phía tây huyện, thuộc địa phận xã Xuân Sơn. Theo Đại Nam nhất thống chí, gọi là Đại Đồng (cánh đồng lớn) vì “chân núi có cánh đồng trống, vốn xưa là chiến trường, oan khí không tan, hóa làm ác quỷ, người đi qua đấy chẳng dám đi một mình, nên tục ngạn có câu “ma Đồng Lớn”. Còn có tên khác là núi Đá Đen, vì sắc đá có màu đen như cháy. Theo Quách Tấn trong sách Xứ Trầm hương, “trên núi có dấu thành lũy của Chiêm Thành, tục gọi là Thành Hời. Trong phạm vi thành có miếu cổ do người Việt cất. Lâu đời đã hư nát.  Dưới chân núi có một cái láng gọi là Láng Chu và một cánh đồng rộng, chung quanh núi bao bọc, gọi là đồng Xuân Sơn.”

Trước đây cây dó bầu mọc nhiều ở các vùng rừng núi tỉnh Khánh Hòa, nhất là vùng núi Hòn Chảo ở xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh mà danh tiếng đã đi vào ca dao:

“ Cây quế thiên thai mọc ngoài khe đá,

Trầm nơi Vạn Giã hương tỏa sơn lâm...”

Núi cao 1564 m, đỉnh lõm xuống thành lòng chảo giống miệng núi lửa, nên có tên là núi Hòn Chảo.

Tại thôn Xuân Tự, xã Vạn Hưng có núi Bồ Đà, còn gọi là Phổ Đà, nằm cạnh núi Phiên Lê tục danh Dốc Thị gắn liền với tên tuổi của Tổng trấn Trần Đường trong phong trào Cần Vương chống Pháp ở Khánh Hòa. Ông Trần Đường người làng Hiền Lương, xã Vạn Lương, được Bình Tây Đại tướng Trịnh Phong cử giữ chức vụ Tổng Trấn, chỉ huy quân khu Bắc của tỉnh, tổng hành dinh đặt tại núi Bồ Đà. Trong trận đánh Pháp tại đèo Dốc Thị, bị thua trận, ông rút quân lên Đầm Thụ (Xuân Sơn). Quân Pháp đến làng ông bắt bớ, tàn phá nhà cửa, bắt thân tộc ông làm con tin, đòi ông ra hàng. Ông thương xót tình máu mủ và tự xét quân mình chống không lại, nên ra nạp mình. Quân Pháp dụ dỗ ông quy hàng, nhưng ông từ chối, thà chết còn hơn mang tiếng theo giặc làm tay sai giết hại dân lành. Cuối cùng quân Pháp phải đem ông ra xử bắn. Chúng bêu đầu ông ba ngày để uy hiếp dân chúng rồi mới cho thân nhân nhận thi hài đem về chôn cất. Gương sáng người anh hùng Trần Đường đến nay còn lưu truyền qua ca dao:

“ Ở Khánh Hòa thì có ba ông,

Ông Trần Đường giữ đèo Dốc Thị,

Ông Trịnh Phong trấn nơi biển Cù,

Ông Nguyễn Khanh lo việc quân nhu,

Ba ông một bụng nghìn thu danh truyền.”

Về nguồn gốc, tên núi Bồ Đà hay Phổ Đà được hình thành từ cách đọc Hán Việt phỏng theo âm của từ Buddha, tiếng Việt thường gọi là Bụt hay Phật. Núi có tên như thế vì xưa kia có nhiều thiền sư đến đây lập chùa tu hành.

Rạn Trào (rạn: rạn san hô; trào: âm khác của triều trong thủy triều, chỉ mực nước biển lên xuống trong ngày) là khu bảo tồn biển ở thôn Xuân Tự 1, xã Vạn Hưng. Nằm trong vịnh Vân Phong, có tổng diện tích 98 ha, Rạn Trào là địa danh nổi tiếng trong những năm gần đây với nghề nuôi trồng thủy sản như tôm hùm lồng, hải sâm, vẹm, tu hài... và cũng là nơi duy nhất có độ bao phủ các rạn san hô cao trên 60% trong 13 rạn lớn nhỏ thuộc hải phận xã Vạn Hưng. Từ khi trở thành khu bảo tồn, hệ sinh thái biển ở đây - đặc biệt là san hô - hồi sinh mạnh mẽ, số lượng các loài hải sản gia tăng, ngày càng thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước đến tham quan, du lịch.

CHÚ THÍCH:

1 Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí (Quyển XI: Tỉnh Khánh Hòa), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 1971, tr. 87; Văn hóa tùng thư số 23: Đại Nam Nhất Thống Chí (Quyển 10&11: Tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa), Nha Văn hóa Bộ Văn hóa Giáo dục xuất bản, Sài Gòn 1964, tr. 63; Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đồng Khánh Địa Dư Chí, NXB Thế Giới, Hà Nội, 2003, tr. 1633.

2 Kiêm lý là viên Tri phủ vừa làm việc phủ, vừa coi cả việc huyện, vì ở huyện không có viên Tri huyện.

3 Nguyễn Đình Tư, Từ Bình Khang đến Khánh Hòa, trong sách Đất và Người -Duyên hải miền Trung, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2004, tr. 351-352.

4 Theo Công báo nước CHXHCN Việt Nam, số 186+187 ngày 1/3/2007.

5 Chắp bả là đan lưới, vá lưới; cờ hơn con là loại cờ tam cúc, quân cờ làm bằng sừng trâu hoặc bằng gỗ quý, ai đánh được nhiều quân hơn thì thắng; rau: tiếng nghề đăng chỉ chung các loại cá.

 

 

Bài cùng tác giả

 

>> Tri thức dân gian về nghề biển ở Khánh Hòa

>> Đình và lễ hội cúng đình ở các tỉnh Nam Trung bộ

>> Ngày xuân tản mạn về bonsai và cây kiểng

>> Văn miếu Diên Khánh

>> Rồng Việt

>> Thú chơi tranh Tết dân gian

>> Lỗ Lường - lễ tục độc đáo ở hòn Đỏ - Ninh Hòa

>> Tên làng xã Khánh Hòa hồi đầu thế kỷ 19 qua sưu tập địa bạ triều Nguyễn

>> Nha Trang xuống Chụt bao xa...

>> Nem Ninh Hòa (kỳ 2)

>> Nem Ninh Hòa (kỳ 1)

>> Ăn giỗ đi trước

>> Mỹ nghệ vỏ hải sản ở Nha Trang

>> Ngày xuân nhớ lại một số tục cổ, nếp xưa

>> Thiền sư Tế Hiển, chùa Thiên Bửu Thượng

>> Các đời quan trấn thủ ở Khánh Hòa xưa

>> Món ngon trên đời

>> Về địa danh Vịnh Vân Phong

>> Múa Lục Cúng Hoa Đăng Ninh Hòa

>> Chiều chiều mây phủ Đá Bia

>> Nếp xưa, Tết Việt

>> Ngày xuân đọc lại "Xứ Trầm Hương" ...

>> Địa danh gốc Chăm ở Khánh Hòa

>> Đi tìm di tích Dinh xưa

>> Phụ lục: Những câu hò giã gạo Ninh Hòa (kỳ 2)

>> Phụ lục: Những câu hò giã gạo Ninh Hoà (kỳ 1)

>> Hò Giã gạo - Dân ca Ninh Hoà