QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 Bài cùng tác giả

- Mùa xuân bàn chuyện xin xăm Đức Thánh Trần

- Gió đã chuyển mùa

- Cấu trúc thờ tự tại đền Trần Hưng Đạo - Nha Trang

- Lương Châu Từ và nỗi buồn chiến tranh

- Rượu Hồng Đào

- Bến Phong Kiều và tiếng chuông Hàn San

- Từ Đạt và Chu Nguyên Chương

- Cấu trúc hệ thống thờ tự trong đình làng Ninh Hòa ...

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Lễ Bỏ mả của người Raglai ở Khánh Hòa

Hình Phước Liên

Qua khảo sát điền dã và những gì tiếp thu được ở những người đi trước, sau một thời gian dài tìm kiếm, với sự giúp đỡ nhiệt tình của Ủy ban nhân dân huyện Khánh Sơn và Phòng Văn hóa – Thông tin huyện Khánh Sơn, chúng tôi đã tìm được gia đình anh Mấu Xuân Danh ở Xóm 4, thôn Dốc Trầu, xã Ba Cụm Bắc, Huyện Khánh Sơn đồng ý tổ chức Lễ Bỏ mả cho vợ là chị Cao Thị Bông theo đúng nghi thức cổ truyền mà người Raglai ở Khánh Sơn còn giữ được cho đến hôm nay. Từ nguyên mẫu cuộc Lễ Bỏ mả ấy, chúng tôi đã tham mưu Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch lập Hồ sơ lý lịch “Lễ Bỏ mả của người Raglai ở Khánh Hòa”  trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét đưa vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và đã được Bộ xét công nhận ngay trong đợt 1.

Người Raglai chuẩn bị cho buổi lễ bỏ mả.

 

I: Quá trình ra đời và tồn tại:

Cũng như các tộc người ở Tây Nguyên khác, người Raglai quan niệm rằng, trong cõi nhân gian có hai thế giới cùng tồn tại song song, đó là thế giới của người đang sống và thế giới của những người đã khuất. Thế giới của người đang sống chỉ là cõi tạm, còn thế giới của những người đã khuất mới là thế giới vĩnh hằng. Trong vòng quay của cuộc đời, mỗi con người đều phải trải qua rất nhiều nghi lễ cầu cúng, trong đó Lễ Bỏ mả được xem là quan trọng nhất - là ngày chia tay vĩnh viễn giữa người đang sống và người đã chết, để người chết thực sự trở về với cõi vĩnh hằng.

Theo luật tục của  người Raglai ở Khánh Sơn, khi tổ chức Lễ Bỏ mả cho người thân, gia đình phải mời đủ những người đã từng tham dự lễ tang người quá cố để họ chia tay lần cuối với người đã chết; đồng thời để bày tỏ lòng tri ân của gia đình đối với cộng đồng. Vì vậy, để tổ chức cho Lễ Bỏ mả, gia đình phải chọn ngày giờ, sau đó phải bỏ ra hàng tháng trời để chuẩn bị cho việc ủ rượu cần, làm nhà mồ, Kagor1 và mời mọc họ hàng, thân thuộc cùng tham dự. Cho nên, muốn làm được một Lễ Bỏ mả nghiêm túc theo đúng như luật tục thì phải tốn rất nhiều thời gian, công sức không chỉ của gia đình mà là của cả cộng đồng.

Lễ Bỏ mả (Vidhi atơu) được tiến hành trong 3 ngày, với nhiều lễ thức khác nhau. Mỗi lễ thức mang một ý nghĩa tâm linh sâu sắc, được truyền thừa từ đời này sang đời khác và hầu hết còn được bảo lưu nguyên vẹn.

II. Tiến trình của Lễ Bỏ mả:

Ngày thứ 1:

Trong Lễ Bỏ mả của người Raglai ở xã Ba Cụm Bắc - huyện Khánh Sơn, ngày thứ nhất được xem là ngày chuẩn bị, nên các nghi thức tế lễ trong ngày đều mang ý nghĩa cáo yết và gia tiên, người quá cố và cộng đồng về cuộc bỏ mả sắp diễn ra ở những ngày kế tiếp.

1. Lễ bầu Chủ Nhang (Po Yarh): Bầu Chủ Nhang là lễ thức khởi đầu nhằm chọn ra Chủ Nhang (Po Yarh) và 2 người phụ lễ để điều hành toàn bộ các nghi thức trong Lễ Bỏ mả. Ba người này là những người già trong Plơi am hiểu về luật tục Raglai, biết những bài khấn và được mọi người kính trọng. Thông thường 2 người phụ lễ là 2 người đã từng khiêng đầu và khiêng chân của người quá cố trong Lễ Đưa tang, còn Chủ Nhang thì phải là vị Thầy Cúng.

2. Lễ dặn hồn Mả (Ti kây Atơu): Là nghi thức thông báo với người chết về thời gian, lịch trình và các vấn đề có liên quan đến Lễ Bỏ mả để người chết được biết những gì sắp diễn ra mà đón nhận. Nghi thức này được Chủ Nhang thực hiện ngay tại mồ người quá cố. Vì vậy lễ này mới có tên là Dặn hồn Mả.

3. Lễ cúng Kagor (Papơc Kagor): Là một nghi thức quan trọng trong Lễ Bỏ mả của người Raglai ở Khánh Sơn. Lễ được tổ chức trang trọng với sự tham dự đủ đầy của các thành viên trong gia đình, họ tộc nhằm xin với Ông Bà cho linh hồn người chết được về với Ông Bà ở bên kia thế giới. Lễ được tiến hành tại nhà với nhiều lễ tiết như: Khấn vái, khóc tế3 và múa Tumaya2 do Chủ Nhang cùng đội mả la thực hiện.

Ngày thứ hai:

Trong Lễ Bỏ mả của người Raglai ở xã Ba Cụm Bắc - huyện Khánh Sơn, ngày thứ hai được xem là ngày lễ chính tại nhà. Ấy là ngày mọi người trong thân tộc và hàng xóm láng giềng, bè bạn gần xa sẽ cùng nhau ăn buổi cơm cuối cùng để “dứt đứt” với người chết tại nhà mồ. Ngày thứ hai được diễn ra với những nghi thức sau:

1. Lễ Đập heo đập gà (Toh un toh manuq): Nhìn chung, nghi thức “Đập heo đập gà” trong Lễ Bỏ mả của đồng bào Raglai cũng thường thấy ở các dân tộc khác, đặc biệt rất giống nghi thức Tỉnh sanh tại các cuộc tế Thần của các tộc người ở miền xuôi nước ta. Phải chăng văn hóa các tộc người chung sống trên một địa bàn đều có chung nguồn cội? Sau khi hoàn thành xong nghi thức, Chủ Nhang và những người thân trong gia đình mang lễ vật ra Nhà mồ cúng vái.

          2. Lễ rước hồn Mả về nhà ăn cơm (Nao tuh Atơu): Khi đoàn người đã đến nơi, những người phụ nữ ngồi vào góc trái nhà mồ để khóc tế. Chủ Nhang, các phụ lễ và đội Mã la làm nghi thức múa vòng quanh nhà mồ 2 lượt rồi vào trong nhà mồ bày lễ vật ra cúng “Mời hồn Mả về nhà ăn cơm”. Mâm lễ vật được đặt tại cây Cột Đầu gồm: 3 chén đựng trầu, mỗi chén 3 lá; 3 chén gạo, trên mỗi chén có đặt 3 trứng gà sống; 3 ly rượu trắng và một con gà nhỏ đã luộc chín. Chủ Nhang và các phụ lễ đọc lời khấn với nội dung mời hồn người chết về lại nhà để cùng với gia đình, dòng tộc và bè bạn xa gần ăn bữa cơm để chuẩn bị “dứt đứt”.

            3. Lễ Làm tầng mả cho người chết ( Ngă Vidhi Atơu): Là nghi thức quan trọng nhất trong ngày thứ 2 của Lễ Bỏ mả, nó được diễn ra ngay tại nhà vào lúc 3 giờ chiều với sự tham dự của đông đủ bà con, dòng họ và bè bạn xa gần của người quá cố. Lễ thức là dịp để hồn người chết gặp gỡ lần cuối cùng với người thân và cộng đồng ; đồng thời cáo yết với Ông Bà về chuyện gia đình sẽ chính thức làm lễ “Dứt đứt” với người đã mất vào sáng ngày mai.

            Lễ vật gồm: trầu xanh 3 chén, gạo đầy 3 chén cùng 3 trứng gà, 1 tô lá mít têm, 1 tô than4; các lễ vật của họ hàng, thân quyến mang đến đều được đưa lên để cúng. Tính ra có hơn 50 con gà lớn bé đều được luộc chín, mỗi con bỏ vào một chén; 1 cái đầu heo, 1 vai heo có cả chân luộc chín; cạnh đó là một buồng chuối xanh, trong lòng buồng chuối ấy, có một con gà đã luộc chín, buồng chuối và con gà được phủ bằng tấm vải trắng; đặc biệt có 1 thau lớn đựng cơm trộn với than, chuối nướng cắt lát – món ăn dành riêng cho người chết - đặt cạnh chiếc Cỗ giỏ đan bằng tre thưa, bên trong lót lá chuối.

            Vào lễ, khi những người phụ nữ đã ngồi vào vị trí để chuẩn khóc tế. Chủ Nhang đốt hương và phân phát cho những người trong họ tộc, sau đó cùng các phụ lễ  ngồi trước Kagor và khấn. Những người thân đến cắm hương vào thau cơm ma, rồi ai vào vị trí nấy. Chủ Nhang và các phụ lễ lại dẫn đầu điệu múa nghi thức, cùng đội Mã la đi 6 vòng quanh tiệc lễ, trong tiếng khóc tế ai oán của những người phụ nữ. Nghi thức kéo dài chừng 30 phút tế thì kết thúc. Mọi người chuyển sang ăn uống và hát ca những bài buồn thay lời đưa tiễn.

Ngày thứ ba:

Được xem là ngày chia tay chính thức với người đã chết. Những nghi thức lễ chủ yếu được diễn ra tại nhà mồ với sự tham gia của gia đình và cả cộng đồng. Trình tự như sau:

1. Lễ Cúng cơm sáng (Papơc pu mugoa): Là nghi thức để xin với Ông Bà được chuyển Kagor về  Nhà mồ người chết được diễn ra tại nhà vào sáng sớm ngày thứ ba. Lễ vật ngoài những thức đã quy định, lại có thêm một thau cơm trộn với than, chuối nướng cắt lát đặt cạnh Cỗ giỏ. Đặc biệt có 6 chén cháo trắng. Vì thế mà nghi thức cúng này được gọi là “ăn cơm sáng”.

             Xong lễ, mọi người cùng thu dọn lễ vật cho vào các Cỗ giỏ, 4 người trai tráng vào khiêng biểu tượng Kagor đứng phía sau Chủ Nhang và đội Mã la; kế Kagor là những lễ vật trong các Cỗ giỏ được người thân khiêng xếp thành hàng một chuẩn bị để đi về Nhà mồ người chết làm Lễ Dứt đứt.

             2. Lễ Dứt đứt (Vihdi Atơu): Lễ Dứt đứt là một nghi thức mang tính tập tục truyền đời của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói chung và của người Raglai nói riêng. Lễ Dứt đứt được tiến hành với nhiều nghi thức nhỏ được nối kết với nhau thật sít sao thành một tổng thể. Bắt đầu là Lễ tiễn đưa Kagor ( Panao Voculah) được tiến hành theo hình thức đám rước long trọng.

a) Lễ tiễn đưa Kagor: Đoàn người dự lễ rước Kagor ra mộ theo thứ tự như sau: Đi đầu là con trai của người quá cố bưng bát nhang, sau đó là vị phụ lễ thứ nhất (còn gọi là ông khiêng đầu), kế tiếp là Chủ Nhang tay cầm chiếc Gai-tuah5 tượng trưng cho linh hồn người chết, rồi đến vị phụ lễ thứ hai (còn gọi là ông khiêng chân), theo sau nữa là đội Mã la, rồi đến bốn người khiêng Kagor, những người mang Cỗ giỏ và sau cùng là gia đình, dòng họ và bạn bè thân thích. Tất cả đi theo hàng dọc và cùng về phía Nhà mồ.

Nhà mồ được dựng trên vùng đồi quang đãng theo hướng Đông – Tây. Mái nhà mồ được lợp bằng tranh tạo dáng thành hình chiếc thuyền đang lật úp, ở giữa nóc mái nhà mồ có trồi lên một cây trụ vuông để gắn Kagor. Khi đám rước đã tới mộ, Chủ Nhang lấy tấm vải trắng trùm lên đầu mình, cùng 2 phụ lễ dẫn đầu đội Mã la, múa vòng quanh Nhà mồ 2 vòng rồi dừng lại ở chỗ đặt Kagor khấn vái. Sau đó đưa chiếc Kagor được đưa lên và gắn vào nóc Nhà mồ cũng theo hướng theo hướng Đông – Tây.

b) Lễ Dứt đứt :

Chủ Nhang và các phụ lễ đốt hương, chia cho mọi người thân đến dự. Tất cả đứng thành vòng tròn vây quanh Nhà mồ. Sau khi khấn vái xong, Chủ Nhang ra phía trước đầu ngôi Nhà mồ, ở đó người nhà đã đặt sẵn một tô gạo đầy và một con gà mái to chừng bằng nắm tay; Chủ Nhang nhặt con gà lên rồi cùng 2 vị phụ lễ múa 6 lần xoay, 6 lần trở quanh nhà mồ trong điệu Tumaya trầm lắng rồi dang tay ném con gà mái con bay qua nóc nhà mồ để rơi xuống tấm vải trắng đang chờ hứng lấy. Khi con gà vừa rơi xuống, hai người phụ nữ liền túm đầu vải lại để giữ lấy con gà. Con gà sẽ được con gái của người chết đem về nuôi, khi lớn lên đẻ trứng, ấp ra con, gia đình sẽ làm ăn giàu có, phát đạt. Nếu không may con gà đó chết, thì phải đem chôn chứ không được ăn thịt!

Sau khi hoàn tất các nghi thức lễ tại Nhà mồ, Chủ Nhang và các phụ lễ lại sang phía nhà tạm, nơi đặt những chiếc Cỗ giỏ, áo quần vàng mả cùng những lễ vật khác đã được bày biện sẵn sàng để làm thủ tục “Chia của”. Chủ Nhang cùng người chồng đưa ra những của cải tượng trưng ra để chia cho người quá cố - người Raglai tin rằng, cái gì thật ở trần gian thì sẽ là giả ở cõi bên kia nên những vật chia cho người quá cố đều là vật mang ý nghĩa tượng trưng. Đây là điểm rất riêng trong tục“Chia của” của người Raglai ở Khánh Hòa. Xong thủ tục “Chia của” mọi người lại sang nhà mồ cúng vái lần cuối, đập vở ché rượu và chôn tô-đầu-chấm-than6 để kết thúc cuộc lễ.

3. Lễ Dặn dò người sống không buồn nữa (Ma dóa taòh):

Lễ Bỏ mả đã kết thúc, mọi người cùng trở về nhà. Chủ Nhang và các phụ lễ đã cởi bỏ trang phục hành lễ. Họ ngồi cùng người chồng và con gái của người chết trên nhà sàn, trước mặt họ là một chén cơm, một đĩa thịt heo luộc, một chai rượu trắng, một tô rượu cần và một đôi đũa mun - vật tượng trưng phải có trong lễ cúng. Chủ Nhang cầm tấm vải trắng lên làm phép, xong rồi trùm lên đầu của 2 cha con người chủ nhà, ông gắp cơm bằng một đôi đũa mun đưa vào miệng người chồng, rồi đến con gái. Lại gắp đũa thịt, mớm cho mỗi người một đũa, rồi đưa ly rượu trắng cho 2 cha con cùng uống để làm phép. Xong rồi Chủ Nhang, 2 vị phụ lễ và 2 cha con anh Mấu Xuân Danh cùng nâng tô rượu cần lên để nghe Chủ Nhang và các phụ lễ dặn dò gia đình, từ nay đừng buồn nữa mà phải lo làm ăn cho gia đình ngày thêm giàu có.

Những người thân đến dự lễ, giờ thì cũng đã xong việc. Họ quây quần cùng nhau uống rượu cần, cùng nhau ca hát, nhảy múa, biến ngày lễ thành một ngày hội vui vẻ, tự do vui chơi đến thâu đêm suốt sáng.

III. Giá trị di sản văn hóa phi vật thể:

Lễ Bỏ mả chị Cao Thị Bông – do gia đình và chồng là anh Mấu Xuân Danh tổ chức - đã khép lại sau ba ngày với rất nhiều nghi thức đậm đặc bản sắc văn hóa dân tộc Raglai. Điều đáng trân trọng nhất trong Lễ Bỏ mả ấy là sự trách nhiệm, lòng thuỷ chung của người đang sống dành cho người đã khuất.

Những đặc thù về địa bàn cư trú và diễn biến lịch sử bao giờ cũng là nguyên nhân chủ yếu tạo thành nét riêng về văn hóa của một vùng đất, một dân tộc. Trong thời gian dài từ thời kháng chiến chống Pháp đến khi thống nhất nước nhà, người Raglai ở Khánh Sơn đã chung vai sát cùng với các chiến sĩ cách mạng đấu tranh giành quyền độc lập tự do cho dân tộc. Quá trình cộng sinh ấy, đã tạo nên sự tiếp biến văn hóa cho đồng bào và đó cũng chính là đặc điểm lớn nhất của người Raglai ở Khánh Sơn vậy.

            Trong Lễ Bỏ mả miêu tả trên, chúng ta nhận thấy một số nghi thức có dấu hiệu của sự ảnh hưởng các nền văn hóa tộc người khác (trong đó có người Kinh), đã được người Raglai ở Khánh Sơn mà đại diện là gia đình anh Mấu Xuân Danh và cộng đồng người Raglai ở Ba Cụm Bắc mặc nhiên chấp nhận như nghi thức truyền đời của ông cha để lại. Thiết nghĩ, điều ấy không có gì đáng bàn cải, bởi văn hoá là một dòng chảy, ở đó bao giờ cũng có sự truyền thừa và tiếp biến.

Cũng trong Lễ Bỏ mả này, các hình thức nghệ thuật dân gian được truyền thừa từ nhiều thế hệ như nghệ thuật chạm khắc gỗ (trụ nhà mồ, kagor), các nghệ thuật trình diễn (múa, âm nhạc) đã phản ánh thật sắc nét sự sáng tạo của cộng đồng và góp phần tạo nên tính đa dạng cho nền văn hóa việt Nam.

...

Lễ Bỏ mả của người Raglai ở Khánh Sơn có đủ các tiêu chí được quy định tại Điều 10 của Thông tư 04/2010/TT-BVHTTDL của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngày 30/6/2010 và đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xét công nhận và đưa và Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc - loại hình Tập quán xã hội và tín ngưỡng – theo Quyết định số: 5079/QĐ – BVHTTDL ngày 27/12/2012.

*Chú thích:

1. Kagor: Là một dạng biểu trưng có hình dáng con thuyền dài chừng 120 cm và cao chừng 80 -  100 cm dùng để đặt trên nóc Nhà mồ trong Lễ Bỏ mả của người Raglai ở Khánh Sơn. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng biểu trưng này là những gì còn sót lại trong ký ức về biển của người Raglai - là miền quê hương xa vời, là Tổ Tiên mà người Raglai luôn hướng về với tất cả tấm lòng thành kính.

2. Múa Tumaya: Bài mã la nhịp 4/4, có giai điệu trầm buồn được diễn tấu kết hợp với động tác múa dùng riêng trong lễ Bỏ mả của người Raglai ở Khánh Sơn.

3. Khóc tế (Choq hia): Là một nghi thức bắt buộc trong lễ Bỏ mả của người Raglai. Lời văn khóc tế thường có vần điệu nên khi khóc, nhất là lúc nhiều người cùng khóc thì nghe như một bản tụng ca bi thương nhiều bè hết sức độc đáo.

4. Lá mít têm: Người Raglai cho rằng hồn ma chỉ ăn những thứ không phải là thật. Vì vậy, trong lễ Bỏ mả họ lấy lá mít thay lá trầu; dùng than, chuối xắc lát thay cho lòng heo, lòng bò...

5. Gai-tuah: Chiếc đũa tre dài chừng 30cm, được xem là vật-thiêng-dẫn-hồn-người-chết, được chủ Nhang cầm trong suốt cuộc lễ.

6. Tô-đầu-chẩm-than: Một chiếc tô bằng sứ đường kính chừng 15 – 20 cm gắn chung với chiếc Gai-tuah treo ở nơi thờ người chết. Người Raglai tin rằng đấy là nơi trú ngụ của linh hồn người chết khi chưa được bỏ mả.