QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

Bài liên quan

- Tháp Bà (kỳ 1) - TS Nguyễn Công Bằng

- Tháp Bà (kỳ 2) - TS Nguyễn Công Bằng

- Tháp Bà (kỳ 3) - TS Nguyễn Công Bằng

 

 

 

 

 

ĐẶC SẮC PÔ NA GA

Nguyễn Man Nhiên

Thánh đô Pô Na-ga (Tháp Bà Nha Trang) là một trong những quần thể kiến trúc đền-tháp vào loại lớn nhất của vương quốc Chăm-pa xưa. Ngôi tháp chính 4 tầng cao 23,30m là nơi đặt tượng thờ Yang Pô Inư Na-ga - nữ thần tạo lập và khai sáng của dân tộc Chăm. Pho tượng này thật ra đã được người Chăm tạo dựng nhiều lần, bằng nhiều chất liệu khác nhau, ở những thời kỳ lịch sử khác nhau, nhất là sau những cơn binh lửa bị kẻ thù cướp phá.

Ngược dòng thời gian, người Chăm là một bộ phận của nhóm tộc nói ngôn ngữ Mã Lai - Pôlinêdi vốn cư trú từ rất sớm trên dải đồng bằng ven biển Trung bộ Việt Nam, có thể từ những thế kỷ trước Công Nguyên. Trước khi dựng nước, người Chăm gồm 2 thị tộc lớn: thị tộc Dừa sinh sống ở miền Bắc (từ đèo Ngang đến Bình Định ngày nay) và thị tộc Cau ở miền Nam (từ Phú Yên đến Thuận Hải ngày nay). Năm 192, sau khi thoát khỏi ách thống trị của nhà Hán, nhà nước Chăm-pa được thành lập với tên gọi ban đầu là Lâm Ấp. Kinh đô đầu tiên của vương quốc là Simhapura (thành phố Sư Tử) đóng tại Trà Kiệu (nay thuộc huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam). Đến thế kỷ VIII, với vương triều Panduranga và việc xây dựng thánh đô Pô Na-ga “ở cạnh Kauthara và cạnh biển”(1), trung tâm quốc gia chuyển vào miền Nam. Năm 774, người Mã Lai và Gia-va ”sinh sống ở những kinh thành khác, trông khủng khiếp và hung dữ như thần chết”(2), đi thuyền đến cướp phá và thiêu hủy ngôi đền thờ mukhalinga (hình tượng sinh thực khí nam có trang trí đầu thần) của thần Sri Sambhu ở xứ Kauthara (nay thuộc thành phố Nha Trang). Sau khi đánh đuổi được ngoại xâm, năm 784, trên nền cũ của ngôi đền bằng gỗ tương truyền do ông vua truyền thuyết Vichitrasagara xây dựng, vua Satyavarman dựng lên một ngôi đền tráng lệ bằng gạch. Ông đặt ở đó mukhalinga của nữ thần Bhagavati – “vị nữ thần của xứ Kauthara, được tôn thờ lộng lẫy với thân hình kiều mỹ dát vàng, với nét mặt đẹp như hoa sen, lóng lánh đồ trang sức”(3). Vua Satyavarman là người đã có công xây dựng và phát triển Pô Na-ga thành một thánh đường quốc gia, nơi thờ tượng nữ thần bảo hộ vương quyền. Từ giữa thế kỷ IX, với vương triều Indrapura, kinh đô Chămpa lại chuyển ra miền Bắc trong khi Pô Na-ga mờ nhạt hẳn đi. Năm 918, vị vua thứ bảy của vương triều Indrapura là Indravarman III dựng một pho tượng nữ thần Bhavagati “thân thể bằng vàng, thờ trong đền Yang Pô Nagar”(4). Được ít lâu, năm 945, vua Chân Lạp cất quân đánh Chăm-pa, phá hủy đền Pô Na-ga, “pho tượng thần chủ bằng vàng mà vua đã dựng lên với vẻ đẹp uy nghi vượt bậc đã bị người Khơme do lòng tham và những thói xấu khác chi phối lấy cắp đi mất”(5). Năm 965, vị vua kế ngôi là Jaya Indravarman I xây lại ngôi đền bị phá và dựng lại tượng nữ thần bằng đá vì không còn đủ sức đúc tượng bằng vàng nữa. Trong những thế kỷ tiếp theo, các vua Chăm-pa đã nhiều lần sửa sang, xây dựng thêm đền thờ, ngẫu tượng tại thánh đô Pô Na-ga, dâng cúng cho thần nhiều báu vật, ruộng đất, nô lệ, trâu bò và cả những chiến lợi phẩm sau những cuộc chiến tranh. Tuy nhiên không thấy bia ký ghi chép gì thêm về việc dựng tượng nữ thần. Như vậy, có thể đoán định rằng pho tượng Pô Na-ga bằng đá còn thấy hiện nay tại khu di tích chính là pho tượng đã được chế tác vào năm 965 dưới triều vua Jaya Indravarman I nói trên. Điều này cũng phù hợp với ý kiến chung của giới nghiên cứu, dựa trên các yếu tố phong cách, đã xác định tượng thờ nữ thần ở tháp Pô Na-ga có niên đại thế kỷ X. Tượng Pô Na-ga được tạc nguyên khối từ sa thạch thể hiện nữ thần đang ngồi trong tư thế bán kiết già trên đài sen, phần đo từ đài sen lên đến cổ cao 0,68m, khoảng cách giữa hai vai là 0,45m, phần eo lưng rộng 0,23m, khoảng cách giữa hai gối rộng 0,83m. Nhìn chính diện thần có 10 tay, biểu thị tính vạn năng. 2 cánh tay chính đặt trên đầu gối, bàn tay trái mở ra, lòng bàn tay ngửa lên trên trong tư thế ban phát; bàn tay phải dựng đứng, lòng bàn tay ngửa ra trước trong tư thế trấn an. Đằng sau là 8 cánh tay phụ, mỗi tay cầm một vật khác nhau tỏa ra thành hình rẽ quạt rất sinh động. 4 tay bên phải, theo thứ tự từ trên xuống, cầm một lưỡi giáo, một chiếc vòng, một mũi tên, một chiếc cung. 4 tay bên trái lần lượt cầm một cây roi, một chuỗi vòng, một cây búa gõ voi, một quyền trượng. Tất cả những vật đó tượng trưng cho trí tuệ, quyền uy và sức mạnh của nữ thần. Đáng tiếc là cái đầu nguyên thủy của pho tượng đã bị mất, cái đầu hiện nay được người Việt làm bằng gỗ mít sơn son thếp vàng gắn vào về sau và không phù hợp với tượng. Ngực tượng để trần, hai bầu vú căng tròn với 6 nếp nhăn ở bụng. Sau lưng tượng là tấm tựa (còn gọi là ngai) hình lá đề cao 1,7m được chạm trỗ tinh vi, hài hòa, tôn thêm sự uy nghi của tượng chính. Mặt trước tấm tựa là hình tượng Kala-Makara (thể hiện đầu hắc thần Kala ở giữa, hai bên là hai đầu thủy quái Makara nhìn nghiêng). Đây là mô-típ khá phổ biến trong các công trình kiến trúc và điêu khắc Chăm-pa. Phần dưới chân tượng là một bệ đá hình cánh sen. Toàn bộ pho tượng và tấm tựa được đặt trên một bệ yôni lớn bằng đá vững chắc. Nhìn chung, tượng được tạc bằng những khối tròn, khỏe, tràn trề sinh lực, taọ cảm giác gần gũi mà vẫn giữ đươc vẻ tôn nghiêm, kỳ vĩ. Trong tiếng Chăm, Pô Na-ga có nghĩa là Quốc Mẫu. Chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, hình tượng Pô Na-ga đã được thể hiện dưới dáng vẻ nữ thần Uma hay Bhagavati (âm tính của Siva). Đáng chú ý là nghệ nhân tạc tượng đã cố tình nhấn mạnh những chi tiết đặc biệt biểu thị hình tượng Mẹ, đó là: đôi vú nở nang căng sữa, hơi sệ xuống; 6 nếp nhăn ở bụng - dấu hiệu của sự sinh đẻ nhiều lần. Hai chi tiết này khác cơ bản với những chuẩn trắc trinh nữ của Uma: vú căng tròn và bụng thon nhỏ không gợn nếp nhăn. Ở đây, biểu tượng về người Mẹ thị tộc trong tâm thức và tín ngưỡng bản địa của người Chăm hiện diện rõ nét, tuy dưới vỏ bọc của tôn giáo ngoại lai. Ngày nay, chiêm bái tượng Pô Na-ga, ta không khỏi thán phục trình độ hoàn thiện tuyệt vời của nghệ thuật điêu khắc Chăm-pa cổ, từ sự hài hoà, cân đối trong bố cục tổng thể đến sự sắc sảo, tinh tế trong từng đường nét, chi tiết. Bằng đôi tay tài hoa, điêu luyện, những nghệ nhân Chăm cách ta bao thế kỷ đã gởi gắm tình cảm yêu quý và lòng sùng kính vào hình tượng Bà Mẹ truyền thuyết của dân tộc để ghi tạc công ơn lưu truyền cho thế hệ mai sau.

(*) Các dòng in đậm từ (1) đến (5) đều trích từ nội dung các văn bia trên tháp Pô Na-ga, Nha Trang (bản dịch tiếng Việt của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam)

Nguyễn Man Nhiên

 

Bài cùng tác giả

 

>> Hồn quê xứ Vạn: đôi nét địa danh

>> Tri thức dân gian về nghề biển ở Khánh Hòa

>> Đình và lễ hội cúng đình ở các tỉnh Nam Trung bộ

>> Ngày xuân tản mạn về bonsai và cây kiểng

>> Văn miếu Diên Khánh

>> Rồng Việt

>> Thú chơi tranh Tết dân gian

>> Lỗ Lường - lễ tục độc đáo ở hòn Đỏ - Ninh Hòa

>> Tên làng xã Khánh Hòa hồi đầu thế kỷ 19 qua sưu tập địa bạ triều Nguyễn

>> Nha Trang xuống Chụt bao xa...

>> Nem Ninh Hòa (kỳ 2)

>> Nem Ninh Hòa (kỳ 1)

>> Ăn giỗ đi trước

>> Mỹ nghệ vỏ hải sản ở Nha Trang

>> Ngày xuân nhớ lại một số tục cổ, nếp xưa

>> Thiền sư Tế Hiển, chùa Thiên Bửu Thượng

>> Các đời quan trấn thủ ở Khánh Hòa xưa

>> Món ngon trên đời

>> Về địa danh Vịnh Vân Phong

>> Múa Lục Cúng Hoa Đăng Ninh Hòa

>> Chiều chiều mây phủ Đá Bia

>> Nếp xưa, Tết Việt

>> Ngày xuân đọc lại "Xứ Trầm Hương" ...

>> Địa danh gốc Chăm ở Khánh Hòa

>> Đi tìm di tích Dinh xưa

>> Phụ lục: Những câu hò giã gạo Ninh Hòa (kỳ 2)

>> Phụ lục: Những câu hò giã gạo Ninh Hoà (kỳ 1)

>> Hò Giã gạo - Dân ca Ninh Hoà