QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

Những gánh Bài chòi ở quê tôi

 

Ở quê tôi – một làng biển nằm bên bờ Đầm Nha Phu, thị xã Ninh Hòa – đến nay vẫn còn lưu truyền câu hát: Bài chòi tôi đựng một vò/ tôi quên đậy nắp nó bò hết trơn. Ngẫm ra, câu hát tưởng như vu vơ ấy lại rất ứng với thực trạng của Bài chòi hiện nay. Bởi đâu phải Bài chòi ở đất Khánh Hòa không có, mà thậm chí có nhiều nữa là khác, nhưng do sơ ý, thiếu quan tâm hoặc bị bỏ bê…nên nó mới bò đi hết. Nhưng thế vẫn còn may, vì nó chỉ bò đi và lẫn khuất đâu đó, chứ chưa mất hẵn. Mà làm sao mất được, khi Bài chòi vẫn còn trong ký ức của mọi người. Với tôi, không thể nào nhạt phai ký ức về những đêm hát của các gánh Bài chòi thời thơ ấu.

1.

Còn nhớ, những năm 50, 60 của thế kỷ trước, Bài chòi là món ăn tinh thần không thể thiếu của bà con quê tôi. Cứ tầm từ sau Tết đến hết tháng ba âm lịch lại rộ lên mùa làm ăn của các gánh Bài chòi đến từ Bình Định, Phú Yên và cả các gánh Bài chòi sở tại. Hồi ấy, các làng làm nông thường tổ chức các hội chơi Bài chòi vào những ngày lễ tết và các tháng nông nhàn. Có làng mời các gánh hát về phục vụ ban đêm còn ban ngày thì tổ chức hội chơi Bài chòi, tiếng đàn, câu hát cứ gọi là thâu đêm suốt sáng; những làng không mời được cả gánh về phục vụ thì cũng có thể mời một anh Hiệu (người quản trò trong hội chơi Bài chòi) rồi tự tổ chức kiểu cây nhà lá vườn, ít tốn kém nhưng vẫn vui.

Ở làng biển, do đặc thù nghề nghiệp, cánh đàn ông thường ra khơi lúc quá nữa đêm rồi trở về khi trời hững sáng; ban ngày thì phải ngủ bù nên trò chơi Bài chòi ít được tổ chức, còn mấy gánh hát thì bao giờ cũng được hoan nghênh. Hầu hết các gánh đều do các làng mời về, bao ăn, bao ở và cứ tối xuống, thắp đèn măng-xông hát cho đến tận khuya… Và muốn có được gánh hát hay thì làng phải có hợp đồng với Bầu gánh đâu từ nửa năm trước đó. Nói vậy để biết, hồi đó ở vùng Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa các gánh Bài chòi nhiều lắm.

Làng tôi cũng vậy, cứ sau Tết (chừng mùng 4, mùng 5) thể nào cũng phải mời cho bằng được một gánh hát về hát cho bà con và có khi đến hết rằm mới thôi. Ban đêm hát, ban ngày đào kép rãnh rỗi lại tụ tập với mấy anh em có máu văn nghệ trong làng “đờn ca sáo thổi”; cuộc chơi ấy kết nối tình cảm của họ với nhau, cho nên nhiều khi cuộc giao duyên ấy kéo dài đến hết tháng giêng mới dứt. Nói vậy cũng là để cho biết, hồi đó ở quê tôi các điệu hát Bài chòi đã phổ biến lắm và có nhiều người biết hát. Hát hay, hát dỡ còn tùy, nhưng để hát được mấy câu Bài chòi thì chẳng ai là không có thể…

2.

Các đoàn hát lưu động ấy ở quê tôi gọi là gánh hát, gánh Bài chòi. Gọi vậy, có lẽ do cách vận chuyển của họ chăng (!?) Thường thì mỗi gánh Bài chòi chỉ có từ 5 đến 7 người của một hoặc hai gia đình gộp lại, trong đó ông bầu cũng thường là kép chánh, còn lại là đào kép, nhạc công. Tất cả vật dụng thường ngày cũng như đạo cụ, phục trang sân khấu đều cất hết vào vài chiếc rương gỗ và được họ gánh đi trên đường lưu diễn. Điểm diễn là những khoảng đất trống giữa làng, đôi khi là mảnh sân của nhà một gia đình nào đó. Sân khấu được quy định trong tầm vài ba chiếc chiếu trãi dưới đất. Vì vậy mà gọi là Bài chòi trải chiếu.

Ngoại trừ những đêm diễn được mời, còn lại những đêm diễn do đoàn tự đến thì thu nhập của các đoàn hoàn toàn phụ thuộc vào lòng hảo tâm của bà con, mà lòng hảo tâm ấy thì lại lệ thuộc vào những vụ mùa, những lần đi biển của dân làng. Vả chăng, những thành viên trong các gánh Bài chòi thời bấy giờ đều là những người bán chuyên, họ chỉ trở thành các nghệ sĩ mỗi khi rỗi việc đồng áng, còn việc hô hát chỉ là để thỏa mãn sự đam mê và tất nhiên cũng để có thêm thu nhập. Và vì không hoạt động chuyên nghiệp như những nghệ sĩ Hát bội, Cải lương nên việc thu nhập xem ra không phải là điều họ xem là quan trọng nhất.

Vì rằng, bắt đầu từ cách hô hát của trò chơi dân gian, khi chuyển sang hình thức sân khấu thì tuồng tích các gánh Bài chòi hầu như đều dựa vào các truyện thơ dân gian quen thuộc như: Phạm Công – Cúc Hoa, Lâm Sanh – Xuân Nương, Thoại Khanh – Châu Tuấn, Chàng Nhái – Kiểng Tiên, Lang Châu – Lý Ân, Ông Xã – Bà Đội… để chuyển sang hình thức hát kể chuyện. Qua tít đề của các vở diễn, chúng ta cũng dễ nhận thấy các câu chuyện kể hầu hết là câu chuyện của hai người được diễn với theo một cấu trúc: Lời kể chuyện đan xen với các lớp diễn của nhân vật, mà chủ yếu là cặp đào kép chính. Với cấu trúc này, lời kể giữ vai trò chủ đạo dẫn dắt người xem theo dõi trình tự câu chuyện, còn các lớp diễn là điểm nhấn tạo thêm hương sắc. Chính vì vậy, vai trò người dẫn chuyện trong các vở bài chòi thời ấy là cực kỳ quan trọng, quyết định sự thành bại cho vở diễn và đa phần người dẫn chuyện cũng kiêm luôn cả các nhân vật chính. Về sau, để tăng sự phong phú cho dàn kịch mục, người ta có bổ sung thêm một số vở lấy từ sân khấu Hát bội như: Tam hạ Nam Đàng, Ngũ hổ bình Tây…nhưng cũng chỉ trích các đoạn có cặp đôi biểu diễn như: Cao Quân Bảo – Lưu Kim Đính, Địch Thanh – Thoại Ba… Từ nội dung, hình thức biểu diễn như trên, Bài chòi trải chiếu nói theo kiểu ngày nay là lối sân khấu hóa truyện thơ, một hình thức tương cận với thời “Ca ra bộ” của sân khấu Cải lương Nam bộ.

Nhà soạn tuồng lỗi lạc Nguyễn Hiển Dĩnh có câu đối viết về đặc trưng nghệ thuật Hát bội rất hay: Thốn thổ thị triều đình châu quận/ Nhất thân kiêm phụ tử quân thần, nhưng xem ra lại quá đúng với hoạt động của các gánh Bài chòi. Bởi lẽ, với diện tích chừng mươi, mười lăm mét vuông, không có cảnh trí, diễn viên không thay đổi trang phục trong suốt đêm diễn và một người đôi khi phải thủ nhiều vai trong cùng vở diễn thì cũng chỉ có ở Bài chòi trải chiếu mà thôi. Với hình thức sân khấu hết sức giản đơn và nội dung câu chuyện cũng rất quen thuộc, được hát đi, hát lại mãi mà sao vẫn hấp dẫn được người xem?

3.

Thưa rằng, sức hút nằm ngay trong nghệ thuật hô hát Bài chòi!

Không được may mắn như các loại hình sân khấu khác, Bài chòi đi lên sân khấu với vốn liếng chỉ có mỗi lối “Hô thai” – làn điệu hát mang tính chất mô hình, được viết theo thể thơ lục bát và lục bát biến thể. Về sau, cũng từ điệu thức Nam hơi Oán và hơi Lụy (Ai) ấy, các nghệ sĩ đã cải biến thêm để hình thành nên hai làn điệu chính cho sân khấu Bài chòi.

Mặt khác, khi đã lên sân khấu thì không chỉ sử dụng cách hát đẹp giọng mà còn phải hát theo diễn tiến của câu chuyện kể, theo tâm trạng của nhân vật, nhất là khi có sự đối đáp của các nhân vật với nhau. Thế là, cùng với cách hát khoan thai, đều đặn của “Hô thai”, các nghệ sĩ lại cải biến thêm lối hát “đạp nhịp” để tạo ra những phách đảo, phách nghịch nhằm diễn tả các trạng thái tình cảm của nhân vật và diễn biến kịch.

Khi nhịp phách đã thay đổi thì sự tiến hành giai điệu buộc cũng thay đổi theo. Để thích ứng với lối hát “đạp nhịp”, các nghệ sĩ Bài chòi đã thêm các hư từ, điệp từ vào các câu lục bát trong truyện thơ nhằm làm phong phú thêm điệu hát. Nhiều nghệ sĩ còn trộn cả các hơi để tạo thêm màu sắc mới. Chỉ một câu lục bát mà câu sáu thì hơi Oán còn câu tám lại hơi Lụy, đôi khi chỉ trong mỗi câu tám mà nghệ sĩ sử dụng cả hai hơi. Cách hát đầy ngẫu hứng và tài hoa ấy đã được chấp cánh bởi tính chất mô hình của làn điệu Bài chòi và thiết nghĩ cũng chỉ ở Bài chòi mới có. Về sau, Bài chòi lại tiếp thu cách hát Nam Xuân của Hát Bội, Xàng Xê trong nhạc Lễ để vào sân khấu của mình và định hình thành hệ thống làn điệu đặc trưng gồm: Hơi Oán, hơi Lụy, hơi Xuân và hơi Dựng mà ngày nay ta vẫn gọi là: Xuân Nữ, Xàng Xê lụy, Nam Xuân và Xàng Xê dựng. Với bốn làn điệu mang tính chất mô hình ấy, đã tạo điều kiện cho các nghệ sĩ Bài chòi thỏa sức sáng tạo theo cảm xúc của mình, làm cho vai diễn của mình mới trong từng đêm diễn để không làm khán giả bị nhàm chán.

Đấy là nói về tiến trình phát triển của cách hô hát Bài chòi. Nhưng, hát không đàn như chàng không thiếp, vì dàn nhạc bao giờ cũng là kẻ giữ hồn, là người nâng đỡ cho tiếng hát bay lên. Thoạt đầu, dàn nhạc Bài chòi chỉ có cây đàn Nhị, một bộ Song loan và thêm cái trống Chiến. Đào kép đều hát chung bậc nữ, còn nhạc công thì đánh tòng theo hơi của diễn viên. Về sau, mà theo tôi có lẽ tiếp thu từ sân khấu Cải lương, nên đào kép hát riêng thành hai bậc cách nhau một quãng 4 đúng. Để chuyển giọng thì đàn phải có đoạn lưu không. Những bản nhạc đàn của Bài chòi cũng hoàn chỉnh dần theo từng năm tháng, nhưng sự tách giọng nói trên chính là cái mốc quan trọng trong sự phát triển của Bài chòi.

4.

Năm 1964, chiến cuộc bùng phát. Các làng quê và nhất là các làng ven biển đều trở thành vùng tranh chấp. Địa bàn hoạt động của các gánh Bài chòi vì thế cũng bị thu hẹp lại. Cũng giai đoạn này, nghệ thuật Cải lương đang trên đà phát triển mạnh, các đoàn Cải lương không chỉ hát ở các tỉnh phía Nam mà tràn ra tận miền Trung. Hơn thế nữa, Đài Truyền hình đầu tiên ở miền Trung được xây dựng tại Quy Nhơn cũng đã phủ sóng đến Khánh Hòa, càng làm cho hoạt động của các gánh Bài chòi thêm những khó khó khăn. Một số nghệ sĩ Bài chòi đã đầu quân sang các đoàn Hát Bội và cũng từ đó có thêm những vở Tuồng pha – Hát Bội pha với hô Bài chòi – thịnh hành ở quê tôi cho mãi đến những năm đầu giải phóng. Về học thuật xin được miễn bàn, nhưng cách hát, cách diễn ấy rất được bà con ái mộ. Điển hình là vở Cao Quân Bảo – Lưu Kim Đính mà cho đến nay, khi nhắc đến các gánh Bài chòi nhiều người ở quê tôi vẫn còn hít hà tiếc nuối.

Gần đây, cùng với trào lưu chấn hưng văn hóa truyền thống, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Khánh Hòa cũng đã có những bước đi ban đầu trong việc sưu tầm, phục dựng trò chơi Bài chòi và Bài chòi trải chiếu. Qua công tác kiểm kê Di sản văn hóa phi vật thể, một số vở Bài chòi cổ đã được ghi chép lại và điều đáng mừng là vẫn còn những nghệ nhân đang khỏe mạnh và tha thiết với bộ môn nghệ thuật này.

Vừa qua, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Khánh Hòa đã mời Nghệ sĩ Minh Đức và Hoàng Việt của Bình Định vào Nha Trang trực tiếp truyền dạy và phục dựng trò chơi Bài chòi để tổ chức tại festival Biển Nha Trang 2013. Điều không ai ngờ là trò chơi đã được đông đảo nhân dân và du khách trong và ngoài nước nhiệt liệt hưởng ứng. Còn tôi, ngồi xem bà con chơi Bài chòi bên bờ biển Nha Trang mà lòng rưng rưng nhớ… Hồi ấy ở quê tôi có những gánh Bài chòi hay lắm!

 Hình Phước Liên