QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

VÓ CÂU ... TRONG TRUYỆN KIỀU

NGÔ VĂN BAN

 

 

Vó câu là bước chân ngựa, là CHUYỆN NGỰA trong Truyện Kiều của Nguyễn Du. Cùng với các nhân vật và những con vật khác trong Truyện Kiều, ta thấp thoáng thấy hình bóng CON NGỰA trong suốt cuộc đời của nàng Kiều bạc mệnh. Ngựa trong Truyện Kiều là phương tiện giao thông mà người xưa dùng để di chuyển trên đường bộ. Người ta dùng ngựa để cưỡi, hay ngồi trên xe do ngựa kéo.

Con ngựa trong truyện Kiều khi thì diễn đạt bằng từ ngựa, lúc thì bằng những từ ẩn dụ để chỉ con vật này, như: - Ngựa câu: Câu có nghĩa là ngựa hai tuổi, là ngựa còn non, còn khỏe, đang còn sức mạnh. - Vó câu: là bàn chân có móng, như chân trâu bò ngựa ... Vó câuvó ngựa, bước chân ngựa. - Roi câu: Roi dùng điều khiển ngựa.- Dây cương: Dây da buộc vào hàm thiếc răng mõm ngựa để điều khiển ngựa. Ngựa phải thắng dây cương để điều khiển, kềm ngựa, không cho ngựa tự do muốn chạy thì chạy, muốn ngừng thì ngừng, không cho chạy lung tung. - Tay khấu: Khấu là vòng dây buộc đầu ngựa, liền với dây cương. Khi ngựa đang chạy, người cưỡi ngựa kéo cương cho ngựa đi chậm lại hay cho ngựa dừng bước. Tay khấu là tay cầm dây cương ngựa gò cho ngựa đi thong thả hay cho ngựa đứng lại. - Nhạc vàng: Cổ ngựa thường đeo lục lạc là loại chuông nhỏ bằng đồng kết thành chuỗi, khi ngựa đi hay chạy, nhạc lục lạc vang lên như tiếng nhạc. Dùng từ vàng trong nhạc vàng là nói “ cho đẹp lời, dùng lời đẹp đẽ để nói về người quý [1] . - Yên: Bộ phận được bọc da, đệm mềm đặt trên lưng ngựa để người cưỡi ngựa ngồi điều khiển ngựa. Chiếc yên ngựa dùng trong việc quân gọi là nhung an dành cho các kỵ sĩ trong đoàn kỵ binh (Ba thước gươm một cỗ nhung an – Chinh phụ ngâm). Nếu người già cưỡi ngựa đi đường xa thì dựa vào yên là một cái gối mềm, êm, đó là gối yên. Và trong Truyện Kiều, ta cũng còn thấy được chiếc xe do ngựa kéo, xe ngựa, có khi gọi là xe châu là loại xe ngựa có rèm che cửa trang sức bằng hạt châu, hạt cườm, để chỉ loại xe tang (linh xa), chở linh cữu người mất đi an táng. Nhưng xe châu còn chỉ chiếc xe ngựa của những người sang trọng. Ngoài xe châu còn có xe hương, cũng là chiếc xe ngựa của người quý phái, dành cho phái nữ ngồi.

Nguyễn Du cũng không quên gán cho bọn sai nha hung hãn, ngang ngược, không có tình người, giống như loài quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa ở âm phủ.

Trong suốt truyện Kiều, ta thường thấy Kiều lưu lạc từ nơi này đến nơi kia bằng xe châu, xe hương, nhưng không phải chở người quý phái mà chuyên chở một thể xác, một tâm hồn tàn tạ, khổ đau. Và một điều nữa là những người đàn ông liên hệ đến đời nàng Kiều đều dùng ngựa làm phương tiện đến với nàng hay đưa nàng đi.

Xuất hiện đầu tiên trong Truyện Kiều là ngựa xe: Dập dìu tài tử giai nhân/ Ngựa xe như nước, áo quần như nen [2] . Đó là cảnh chị em Thúy Kiều tảo mộ nhân tiết Thanh Minh. Trong lễ hội, ngựa xe qua lại nối tiếp nhau, hết lớp này đến lớp khác như nước chảy, tạo ra được hình ảnh đông đảo của những người dùng phương tiện xe ngựa tham gia lễ hội.

Trên đường ra về, trong nghĩa trang, Kiều phát giác ra một ngôi mộ hương khói vắng tanh, và được giải thích cuộc đời người nằm dưới mộ là nàng ca nhi Đạm Tiên, nổi danh tài sắc một thì, nhưng khi nàng chết đi, chủ chứa định vứt xác ra khe suối, nhưng có người khách phương xa nghe tiếng nàng tới thăm, buồng không lặng ngắt như tờ/dấu xe ngựa đã rêu lờ mờ xanh. Chàng khóc than và lo an táng nàng, dùng xe châu (xe tang) đưa đám nàng, sắm sanh nếp tử xe châu/vùi nông một nấm mặc dầu cỏ hoa. Những người ngày xưa từ xa nghe tiếng nàng là danh kỹ đệ nhất Bắc Kinh đã đến với nàng trên những chiếc xe trang hoàng rực rỡ, xôn xao ngoài cửa thiếu gì yến anh, nhưng nay, trâm gãy bình rơi, chỉ còn lại những dấu xe rêu rong xanh mờ mọc đầy...

Trong lúc chị em Kiều dùng dằng nửa ở nửa về, thì bỗng nghe nhạc vàng đâu đã tiếng nghe gần gần/Trông chừng thấy một văn nhân/Lỏng buông tay khấu, bước lần dặm băng. Đó là chàng Kim Trọng cưỡi ngựa mang những chiếc lục lạc đồng vang dội những tiếng nhạc, từ xa tiến đến chỗ chị em Kiều, gây chú ý cho mọi người. Chàng lỏng buông tay khấu cho ngựa bước chậm lại. Tuyết in sắc ngựa câu giòn/Cỏ pha mùi áo nhuộm non da trời. Đó là chưa kể: Đề huề lưng túi gió trăng/Sau chân theo một vài thằng con con. Tiếp đó khách đà xuống ngựa, tới nơi tư tình. Cuộc gặp gỡ đầu tiên, tình trong như đã mặt ngoài còn e. Rồi bóng tà như giục cơn buồn/Khách đà lên ngựa, người còn ghé theo.

Kim Trọng, cuối cùng rồi cũng xa lìa người yêu dấu lên ngựa đi Liêu Dương: Buộc yên quẩy gánh vội vàng/Mối sầu sẻ nửa bước đường chia hai. Rồi gia biến xảy ra trong nhà Kiều, người nách thước, kẻ tay dao/đầu trâu mặt ngựa ào ào như sôi. Trong lời trối trăn trước khi bán mình chuộc cha, nàng Kiều  đã thốt lên: Tái sinh chưa dứt hương thề/Làm thân trâu ngựa đền nghì trúc mai. Kiếp sau nàng nguyện sẽ hóa thành thân trâu ngựa để trả món nợ tình nghĩa mà kiếp này chưa trả được như theo thuyết luân hồi của đạo Phật.

Mã Giám Sinh, người cùng Tú Bà mua Kiều, sau một đêm ở trú phường (phòng trọ), sáng sớm, Mã sinh giục giã vội vàng ra đi, đi về Lâm Tri. Đoạn trường thay lúc phân kỳ/Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh. Đứt ruột, đau đớn chia lìa, mỗi người mỗi ngả, đường đi khấp khểnh, gập ghềnh như báo trước cuộc đời nàng Kiều đầy những long đong, vất vả. Người cha chưa kịp tiễn con thì mé ngoài, nghỉ (nó) đã giục liền ruổi xe. Xót con lòng nặng ê chề/Trước yên ông đã nằn nì thấp cao. Trước yên ngựa của Mã người cha đau lòng thốt lên những lời khóc thương cho con gái mình, thân phận liễu yếu đào thơ trôi dạt không biết về đâu. Thế rồi Mã cho xe lên đường nhanh như gió: Đùng đùng gió giật mây vần/Một xe trong cõi hồng trần như bay.

Về đến Lâm Tri, xe châu dừng bánh cửa ngoài/rèm trong đã thấy một người bước ra. Xe châu đây còn có nghĩa là xe của người quý phái dành cho phụ nữ, xe của Mã Giám Sinh chở Kiều về Lâm Tri (huyện, thuộc tỉnh Sơn Đông). Một người bước ra đây là mụ Tú Bà, thoắt trông nhờn nhợt màu da/ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao ?  Mụ ta trước xe lơi lả han chào/vâng lời nàng mới bước vào tận nơi. Thế là nàng Kiều đã bắt đầu sa chân vào “lầu xanh”, bị đày đọa làm gái bán thân.

Tại lầu xanh, nàng gặp chàng Sở Khanh. Nàng Kiều bị hắn lừa, bảo đi trốn bằng ngựa cùng hắn. Hắn khoác lác, khoe có ngựa tốt, chạy nhanh có thể đuổi theo được gió (ngựa truy phong), có thủ hạ khỏe mạnh hộ vệ, rằng ta có ngựa truy phong/có tên dưới trướng vốn dòng kiện nhi. Thế là nàng cũng liều nhắm mắt đưa chân, rồi cùng nhau lẻn bước xuống lầu/song song ngựa trước, ngựa sau một đoàn. Đoàn người đi trốn đến gần sáng, thì có người theo đuổi phía sau, ngó qua ngó lại Sở Khanh đã rẽ dây cương lối nào! Thế là nàng Kiều bị bắt về cho Tú Bà đánh đập, buộc nàng tiếp khách.

Cũng tại lầu xanh, nàng gặp Thúc Sinh, người quê huyện Tích châu Thương (thuộc tỉnh Giang Tô ngày nay) và được Thúc Sinh chuộc nàng, đưa nàng về giấu ở tiệm buôn của hắn ở Lâm Tri, cho đến nửa năm hơi tiếng cừa quen thì cha của Thúc Sinh đến, gối yên đã thấy xuân đường tới nơi. Và trong lúc Thúc Sinh chia tay nàng Kiều về quê, hai câu thơ thật là đẹp: Người lên ngựa, kẻ chia bào/Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san. Khi Sinh về đến nhà, Sinh đà về đến lầu hồng xuống yên, được Hoạn Thư ra đón, hương tình mặn nồng như xưa, coi như không biết Sinh ngoại tình. Sinh nhớ thương Kiều, nhưng không biết làm sao trở về Lâm Tri, mới nói dối về thăm cha. Hoạn Thư đồng ý, thế là được lời như cởi tấc son/vó câu thẳng ruổi  nước non quê người. Thúc Sinh đi, roi câu vừa dóng dặm trường, Hoạn Thư cũng lên đường về thăm cha mẹ, xe hương nàng cũng thuận đường quy ninh. Tại nhà cha mẹ, Hoạn Thư kể lể, tâm sự cùng mẹ và tìm kế bắt nàng Kiều về hành hạ. Khuyển, Ưng hai tên tay sai Hoạn Thư đi thuyền buồm đến Lâm Tri trước Thúc Sinh, bắt cóc nàng Kiều, vực lên ngựa, Thuốc mê đâu đã tưới vào/Mơ màng như giấc chiêm bao biết gì!Vực ngay lên ngựa tức thì/Buồng đào viện sách bốn bề lửa dong. Chúng đốt thư phòng, bỏ vào đó một xác chết vô chủ, coi như nàng Kiều bị chết thiêu trong lửa đỏ. Ai cũng nghĩ rằng nàng Kiều chết, nên lập bàn thờ. Thúc Sinh đến nơi, khóc than.

Khi nàng Kiều bị bán ở lầu xanh lần thứ hai, nàng gặp khách biên đình sang chơi. Đó là họ Từ, tên Hải, vốn người Việt Đông (thuộc tỉnh Quảng Đông). Chàng Từ sống với Kiều, nửa năm hương lửa đương nồng/Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương/Trông vời trời bể mênh mang/Thanh gươm, yên ngựa, lên đàng thẳng dong. Khi nàng Kiều được Từ Hải rước về dinh, Từ cho kéo cờ lũy phát súng thành/Từ công ra ngựa thân nghênh cửa ngoài. Lần đầu trong đời Kiều, nàng được trân trọng đón tiếp như thế.

Chàng Kim Trọng cùng với Vương Quan, em Thúy Kiều cùng thi đỗ, được bổ nhiệm ra làm quan, một lần nữa xe ngựa được nhắc đến: Sắm sanh xe ngựa vội vàng/ Hai nhà cùng thuận một đường phó quan. Và cuối cùng, nàng Kiều sau 15 năm lưu lạc, đầy long đong, sầu khổ, nạn tai, nay nàng được rước về nhà, đoàn viên sum họp bằng kiệu hoa, kiệu hoa giục giã tức thì/Vương ông dạy rước cùng về một nơi. Ngày bán mình, nàng bị rước về Lâm Tri làm thân phận gái lầu xanh bằng xe châu do ngựa kéo, và xe châu đó đúng là xe tang, đưa nàng đi đến những hoàn cảnh tưởng phải bỏ mình, đầy thương đau, sầu hận gần suốt cả cuộc đời. Nay bình yên, sum họp, nàng về quê bằng kiệu hoa do người khiêng, âu cũng là ... có hậu cho cuộc đời nàng, khổ tận đến ngày cam lai.

N.V.B.


 

[1] Đào Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1975, trg.293.

[2] Sử dụng văn bản Truyện Kiều của Phạm Đăng Quế so sánh, đối chiếu và chú giải, Truyện Kiều và Kim Vân Kiều truyện, Nxb Văn Học, Hà Nội, 2000.