QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

CHUYỆN CÁC LOÀI NGỰA NĂM NGỌ

NGÔ VĂN BAN

 

Loài ngựa xuất hiện rất sớm trên trái đất và đã trải qua gần một trăm triệu năm tiến hóa liên tục để có thế hệ ngày nay với sự hoàn chỉnh về cơ thể, từ hình dáng bên ngoài đến nội tạng bên trong. Ở Châu Á, quốc gia Mông Cổ là vùng nuôi ngựa sớm nhất. Còn ngựa có ở nước ta là do ngựa ở Trung Quốc nhập sang từ rất lâu. Ông cha ta đã biết dùng ngựa để vận chuyển và đánh giặc từ ngàn xưa. Ngày nay, ngựa tập trung nhiều ở các tỉnh miền núi và trung du, người dân dùng để cưỡi, thồ hàng hóa, các đơn vị bộ đội biên phòng dùng để tuần tra ..

Về loài ngựa nhà (có tên khoa học là Equus Domesticus) có khoảng 100 nòi ở tất cả các lục địa. Ngoài ra còn có loài ngựa rừng (Equus Przewalskii) sống hoang dã ở các vùng rừng núi và loài ngựa vằn (Hippotigris Zbera) có lông màu vàng sọc nâu cũng sống hoang dã thành từng bầy ở Châu Phi.

Trong từ Hán Việt, MÃ , THỐ , CÂU , cũng có khi gọi là LONG là những từ nói chung để chỉ về ngựa. Ngoài ra, TUẤN 駿 là chỉ con ngựa hay, phi nhanh, khỏe, dẻo dai. KỲ KÝ 騏 驥 là chỉ loài ngựa quý hiếm.

Ngựa to con là ngựa Bắc Thảo ở Trung Quốc, ngựa cổ rô là ngựa cổ lớn, mạnh mẽ, còn ngựa cổ nhỏ mà dài mình là ngựa cổ lãi. Ngựa mới lớn là ngựa tơ, ngựa cu (câu). Con ngựa mang tên Long câu, theo tích xưa Trung Quốc là kết quả của cuộc hôn phối giữa ngựa cáirồng. Đó là loại ngựa hay và khỏe. Ngựa hay, khỏe, quý đã từng nổi tiếng còn có ngựa Ký, ngựa Kỳ, ngựa Tiêu Sương, ngựa Hồ, Thiên Lý Mã, Vạn Lý Vân,  … Ở Trung Quốc nói đến con Long Mã 龍 馬 là nói đến con ngựa đã hóa rồng. Long Mã xuất hiện trên sông Hoàng Hà thời Phục Hy trước Công Nguyên, trên lưng mang một chiếc bát quái có dấu, có vạch, nhà vua dựa vào đó để hình thành Hà Đồ và đó là nội dung khởi thủy của Kinh Dịch.

Ngựa đẹp, ngựa quý còn có ngựa Thượng Tứ thành phố Huế. Thành Huế có Cửa Tây Nam, nhưng người dân thường gọi là Cửa Thượng Tứ. Đó Thượng Tứ Viện lập vào thời vua Minh Mạng (1820-1840) chăm lo ngựa của triều đình thuộc Bộ Binh. “Ngựa thao diễn chạy từ cửa Thượng Tứ về thấu ngã cầu Gia Hội. Ngựa thường hay giao cấu lộ liễu nên dân chúng nghĩ đến đoàn ngựa Thượng Tứ khi thấy những cảnh trai gái “ rượng ” với nhau lộ liễu [1] . Có người cho rằng, ngựa nuôi ở Viện thường là ngựa dữ, người nuôi dạy rất khó nhọc huấn luyện cho ngựa thuần thục. Dân Huế thường nói người đàn bà hung dữ, có lời ăn tiếng nói thô lỗ, cử chỉ không đẹp, lúc nào cũng có thể lồng lên như ngựa thì được ví kẻ đó là ngựa Thượng Tứ. Không hiểu sao ngựa Thượng Tứ lại được một số người mê, mê ngựa Thượng Tứ như tổ tôm, mê nôm Thúy Kiều.

Dân gian cho rằng ngựa có đức tính trinh tiết, khi truyền chủng không vi phạm mà con người gọi là loạn luân. Ngựa còn có đức tính trung thành, tiêu biểu là con ngựa Xích thố của Quan Vân Trường (tức Quan Công) thời Tam Quốc

Xích thố mỗi ngày đi nghìn dặm nên gọi là Thiên lý câu. Xích thố là ngựa của Ðổng Trác. Lý Túc và Lý Nho lập mưu bảo Đổng Trác đem vàng bạc châu báu và ngựa Xích thố tặng cho Lã Bố để mua chuộc Lã Bố bỏ cha nuôi là Ðinh Nguyên mà đầu quân bên Đổng Trác. Khi Lã Bố thua chạy về thành Hạ Bì, bị quân Tào Tháo vây khổn, thuộc hạ của Lã Bố là Hầu Thành ban đêm đi trộm Xích thố rồi dâng Tào Tháo. Hôm sau, thuộc hạ của Lã Bố lừa dịp Lã Bố ngủ trộm cây phương thiên họa kích và trói Lã Bố đem nạp cho Tào Tháo. Sau khi Lã Bố bị xử trảm, Xích thố thuộc về Tào Tháo. Khi Quan Vũ tá túc bên Tào Tháo, được Tháo hết lòng trọng đãi, và tặng ngựa Xích thố cho Quan Vũ nhằm mua lòng Quan Vũ. Về sau khi Quan Vũ bị Tôn Quyền chém chết, ngựa xích thố nhịn ăn mà chết theo chủ. Người đời sau lập miếu thờ Quan Vũ (Quan Công) cũng đắp tượng thờ ngựa Xích thố bên cạnh ngai thờ Ngài. Khi người Hoa sang Việt Nam, lập miếu thờ Quan Công (ta gọi là Chùa Tàu) cũng làm  tượng Xích thố để  thờ. Sự trung thành đối với chủ của ngựa cũng như chó luôn được người đời coi trọng và đối với kẻ xấu thường bị phê phán, khinh rẻ là thua cả loài chó ngựa. Những kẻ phản bội những người nâng đỡ, che chở cho mình cũng được gán cho là những con ngựa phản chủ.

Các Hoàng đế nước ta đa số đều cưỡi ngựa Bạch Mã, loại ngựa quý hiếm, có sắc lông trắng như tuyết, thân cao lớn, biết bảo vệ chủ, không sợ tiếng trống, tiếng rống của voi, tiếng hý của ngựa khác, tiếng va chạm binh khí … khi ra trận. Ngựa lại phi rất nhanh. Hoàng Đế Trần Duệ Tông (Trị vì 1373-1377) có một con ngựa quý tên là Nê Thông, là tên dùng để chỉ lông con ngựa có hai màu : trắng và đen, Thông là tên dùng để chỉ sắc lông ngựa màu xanh, một tuấn mã hiếm hoi, nhà vua đã cưỡi khi thân chinh tiểu phạt quân Chăm dưới thời Chế Bồng Nga vào năm 1377 : “ Ngày 24 vua mặc áo đen, cưỡi ngựa nê thông, sai Ngự Câu Vương Húc mặc áo trắng, cưỡi ngựa trắng, kíp truyền lệnh tiến quân [2] . Trận này, nhà vua chết trong trận. Vua Minh Mạng cũng có những con ngựa quý có tên Phúc Thông, Cát Thông, An Tường Ký, Thần Lương, Phúc Lưu, Cát Lưu, Thiên Mã

Thời vua chúa ở ta, xa giá Thiên tử tùy theo tháng mà ngựa kéo có sắc lông khác nhau, như tháng Mạnh Xuân (tháng Giêng) thắng ngựa Thương Long sắc xanh, tháng Mạnh Hạ (tháng Tư) thắng ngựa Xích Lưu sắc đỏ, tháng Mạnh Thu (tháng Bảy) thắng ngựa Bạch Lạp sắc trắng, tháng Mạnh Đông (tháng Mười) thắng ngựa Thiết Ly sắc đen.

Ngoài con ngựa là một loài động vật sống, trong truyền thuyết ta còn có con ngựa sắt của Phù Đổng Thiên Vương (Rõ ràng ông Phù Đổng Thiên Vương / Cỡi ngựa sắt, dắt cơn gươm vàng), con ngựa đá (thạch mã) trong câu thơ chữ Hán của Trần Nhân Tông : Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã. Truyền thuyết Hy Lạp có con ngựa gỗ Thành T’roi. Tây Du Ký có con ngựa là thái tử Tây Long biến hóa thành, cho Đường Tăng cưỡi và nhờ có nó, đường xa, núi hiểm đều vượt qua mà con ngựa trần gian không thể nào vượt được.

Về tướng ngựa, Lê Quý Đôn trong Vân Đài loại ngữ đã cho ta biết : ”Tương truyền Bá Nhạc có sách xem tướng ngựa, gọi là Tướng Mã Kinh. Trong sách ấy có nói :” Ngựa tốt, cần được đầu to, vuông; mắt sáng; xương sống cứng; bụng thon; bốn chân dài; quầng mắt cao; mũi to; đầu mũi có chữ vương; trong mồm đỏ; ống xương chân tròn, dài; tai gần nhau mà vểnh về đàng trước; vai nhỏ mà dày “. Phép xem tướng ngựa, phải kiêng trước hết là tam luy và ngũ nô; rồi hãy xem các bộ phận khác. Cổ to đầu nhỏ là nhất luy; xương sống yếu, bụng to là nhị luy; đùi nhỏ, mông to là tam luy. Đầu to, tai cúp là nhất nô; cổ dài, không vạy là nhị nô; nửa trên ngắn, nửa dưới dài là tam nô; chân to mà sườn ngắn là tứ nô; hông lõm, mà vế mỏng là ngũ nô “ [3] . Dân gian ta cũng có kinh nghiệm chọn ngựa : chữ tốt xem tay, ngựa hay xem khoáy (xoáy)

Thật ra, ngựa còn nhiều loài, nhiều chuyện khác nữa, nhưng thời gian có hạn, ta cưỡi ngựa xem hoa vậy.

N.V.B

 


[1] Bùi Minh Đức, Từ điển tiếng Huế, Nxb Văn Học, Hà Nội - Trung Tâm Nghiên cứu Quốc Học, TP Hồ Chí Minh, 2009, trg.1315.

[2] Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, trg.161.

[3] Lê Quý Đôn, Vân Đài loại ngữ, Phạm Vũ và Lê Hiền dịch, Nxb Miền Nam, Sài Gòn, 1973, trg.520.