QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

THƯƠNG NHỚ TRÁI CÂY RỪNG

NGÔ VĂN BAN - VÕ TRIỀU DƯƠNG

 

Thời trước, cách đây sáu, bảy mươi năm, những trái cây mọc trên rừng bán đầy ở chợ. Những lần mẹ đi chợ về, tôi được ăn những trái cây rừng là món quà quê, sực sực của trái đát, thơm tho của trái thị, ngọt ngọt chua chua của trái xay, trái đỏ, trái da ... Và lạ lùng nhất là trái ư khô, ngâm vào nước lạnh, nó nở bung ra gấp chục lần ..., sau đó trộn với đường cát, ăn thật thơm ngon ..

Có một thời xa xưa, người dân quê trong tỉnh, cư trú ở những vùng gần miền núi, có người lên rừng hái lượm sản vật của rừng đem về bán, coi như một nghề. Có người, nhân lúc nông nhàn cũng lên rừng tìm sản vật đem về dùng hay bán, cải thiện bữa ăn hay chống đói những năm mất mùa. Họ hái lượm những loại trái cây không những dùng để ăn chơi mà còn bán được để lấy tiền mua gạo như trái say, trái đỏ, trái da, trái thị, trái ư ... hay trái cây dùng làm thuốc như sa nhân, tô hạp … Họ còn hái lượm những loại cây có củ có thể chống đói như trái đát, trái gấm, khoai mài ... Ngoài ra còn có củ nần là nguồn dự trữ lương thực sau khi chế biến, dùng ăn ghé trong mùa mưa bão, mất mùa. Có những loại khai thác được trên rừng núi để dành nhiều ngày, đưa ra bán từ từ, như mật ong, dầu rái, dầu chai, trái bồ kết ...Ngoài hái lượm những cây trái nói trên, người dân quanh năm còn khai thác những cây lá khác, như lá trầu nguồn, môn rừng, nấm mối, nấm mèo, sợi mây, vỏ cây giún, lá buông, dây máu... hay chặt củi đốt than.

Ăn của rừng rưng rưng nước mắt, những người đi rừng hái lượm sản vật nay về già, họ cho là rất đúng. Hiểm họa nằm trong tai nạn (khi leo trèo té ngã), bị thú dữ tấn công hay có thể bị bệnh sốt rét.

Trái đát

Người đi rừng khai thác cây đát kể lại : Cây đát có hình dạng tương tự như cây chà là hay như cây dừa, cao hàng chục mét, thân cây lớn bằng một vòng tay ôm của người lớn. Bẹ đát và tàu lá cũng giống bẹ dừa, chỉ có khác là hai bên phần trong của bẹ đát có gai. Buồng đát, treo những trái đát thành chuỗi dài hơn cả thước. Cây đát ra bông kết trái suốt tháng quanh năm, vào rừng hái lúc nào cũng có. Trái đát to bằng trái cau nhưng dáng tròn trịa hơn, một buồng đát có từ vài ngàn trái, phải hai người mới khiêng nổi một buồng đát. Hột đát màu trắng, mịn, cùi thịt dày có hình bầu dục, thường nấu chè, nhai ăn “sực sực” rất ngon. Người dân khai thác đát còn để lấy bẹ đát, ủ nóng cho mềm, đập cho tơi ra từng sợi nhỏ để lấy chỉ, gọi là chỉ đát. Ngày trước, người làm nón lá trong tỉnh dùng chỉ này để chằm nón lá. Những tàu lá khô của cây đát cũng được đem về, dùng cước kết lại thành những tấm vạt giường êm mát. Người ta lại còn dùng thân cây đát khô để làm đũa ăn cơm nữa. Khi đã phát hiện ra cây đát, người ta thắt cái nài bằng dây rừng để leo lên ngọn để xem thử trái đát có thể hái được không. Chung quanh thân của cây đát cũng như trong buồng trái đát, bám rất nhiều có chất phấn bụi trắng, nếu để bụi phấn ấy bám vào da người sẽ gây ra những cơn ngứa rất khó chịu, rất khủng khiếp.

     

Trái ư (ươi)

Cây ư là tiếng địa phương trong tỉnh, các vùng khác gọi là cây ươi, là loại cây  sinh trưởng nơi núi rừng, thuộc loại cổ thụ, cao từ 30 – 40m, nhiều cành nhánh. Cây ư ra hoa kết trái vào mùa xuân và khi trái ư sắp già, lá trên cành rụng hết, trơ ra những cành khẳng khiu, chỉ còn những trái ư kết thành chùm. Vào giữa mùa hạ đến đầu mùa thu, lúc này trái ư chín, cây ư trổ lá non màu đỏ pha nâu, đứng xa nhìn thấy rõ. Trái ư hình trứng, màu nâu đỏ nhạt, vỏ nhăn nheo, ngâm vào nước một thời gian thì nở rất to gấp 8 – 10 lần thể tích của hạt. Trái ư không phải là loại trái cây ăn trừ cơm mà chỉ để ăn chơi, hợp với khẩu vị một số người, lại có chất bổ và tính mát, các thầy thước Đông y thường dùng làm thuốc trị ho, chảy máu cam, nôn ra máu, cổ họng sưng .... Ngoài lượm trái ư rơi rụng dưới đất, người dân còn leo lên cây chặt nhánh cho trái ư rơi xuống đất để nhặt. Sau này, thay vì chờ quả ươi khô, bay xuống đất để lượm, nhiều người dân đã sử dụng cưa tay, cưa máy triệt hạ cả nguyên cây để tận thu từ quả già đến quả non. Với cách thu hoạch như vậy, tài nguyên về cây ư ngày càng cạn kiệt và ngày nay khó mà tìm được.

Trái xay

Cây xay thường mọc ở núi cao, ở các khu rừng già.  Không như các loại trái khác, trái xay không thòng xuống mà hướng ngược lên trời, nằm trên những tán lá. Đứng dưới gốc cây nhìn lên cành không thể nào thấy được trái, phải leo lên tận đọt mới thấy. Vì thế, người hái dễ bị tai nạn, vì cây say cao 6 - 7m, thân cây thẳng đuột như trụ điện, có cây lớn một người ôm không xuể. Vì thế, chỉ những người “có nghề” mới leo được cây xay. Người không có kinh nghiệm, không có sức đeo bám thì tốn cả buổi cũng không leo cây được. Có người leo lên cây nhìn xuống thấy rợn người, đành leo xuống. Hay khó nhọc leo lên được đến đọt cây thì mới biết trái còn xanh, phải đành tụt xuống. Trái xay kết quả thành từng chùm, trái nhỏ bằng đầu ngón tay út, tập trung ở đọt, nên muốn hái phải chặt cành rớt xuống đất. Cành cây xay rất cứng, rựa rìu chặt vào thường bị mẻ, nên thật mệt nhọc khi chặt được nó. Có trường hợp anh chồng leo lên chặt cành, chị vợ ở dưới chờ lượm trái, nhưng cành không rơi xuống đất mà găm vào bàn chân anh chồng, phải nhờ nhiều người leo lên gỡ cành ra, đưa anh chồng bị thương xuống đất. Người dân đi hái trái xay nhiều gian nan, nguy hiểm như thế, nhưng họ cũng đành mạo hiểm để kiếm miếng cơm manh áo. Người dân đi hái trái  xay cũng có người tàn phá cả rừng xay. Gặp những cây xay thân to, không thể leo lên được, họ dùng rìu chặt tiện gốc để cây ngã xuống mà hái trái. Những người hái xay cho biết, bình thường nếu cây xay chặt nhánh hái quả thì khoảng 9-10 năm sau lại ra quả, còn nếu chặt gốc thì phải 20-30 năm sau cây mới nứt lại, đủ sức ra trái. Nhiều khi cây xay bị chặt không gượng nổi, chết luôn. Chính vì sự tàn phá của những người hái xay hám lợi, không ít những cánh rừng xay ở vùng rừng núi trong tỉnh bị xóa sổ sau mỗi mùa xay đi qua...

Trái xay có hình bầu dục hơi dẹp, trái sống có màu vàng, khi chín, vỏ chuyển màu đen đen hay nâu thẫm, có một lớp lông tơ mịn như nhung phủ lên bên trên vỏ, nên có người gọi là trái nhung. Trái xay còn sống, thì cơm và vỏ dính liền nhau, không thể bóc rời ra. Khi chín, hai thành phần ấy có thể tách ra dễ dàng. Xay ăn chín mới ngon. Lớp vỏ bên ngoài rất giòn, chỉ cần dùng tay ấn nhẹ là sẽ làm vỡ lớp vỏ để lộ ra lớp thịt bên trong. Thịt bên trong trái thường có màu vàng đậm, thịt xốp và mềm bao quanh hột cứng nhỏ. Khi ăn vào miệng, cảm giác đầu tiên ta có thể nhận thấy là vị chua chua, nhưng để lâu hơn một chút ta sẽ thấy vị chua chua ấy tan biến mà đọng lại  là vị ngọt thanh rất riêng biệt trong miệng... Có nơi người ta lột vỏ xay ra rồi rim với đường, là món ăn chua chua ngọt ngọt được nhiều người ưa thích.

Trái thị

Trái bay mùi thơm tho là trái thị. Cây thị là loại cổ thụ, sinh trưởng trong rừng già, mọc thành đám có hằng năm bảy chục cây, cao khoảng 5 – 6m. Trái thị chín vào cuối mùa hè đến hết mùa thu. Trái thị chín tỏa hương thơm dịu nhẹ, rất hấp dẫn và quyến rũ, cả trẻ già ai cũng thích. Trái thị có hai loại : thị hột và thị tràm. Thị hột trái tròn như trái lựu, đường kính từ 3 – 5cm, bên trong trái có ba bốn hột nhỏ. Còn thị tràm thì hơi dẹp như hình bánh xe, bên trong trái không có hột. Thị hộtthị tràm mọc hai cây khác nhau. Thị chưa chín da màu xanh, ruột có vị chát, không ăn được. Khi trái thị vừa chín, màu vỏ xanh chuyển sang màu vàng tươi và tỏa ra mùi thơm “không che dấu” được. Lúc này ruột trái thị mọng nước, có vị ngọt, thường chia thành sáu đến tám “múi”, không những được con người yêu thích ngửi và ăn mà các con vật trên rừng như chim, khỉ, vượn, cọp gấm ... cũng rất thích, có con ăn no thì thôi. Quả thị chín ăn rất ngon nếu biết cách ăn : dùng tay xoay và bóp nhẹ trái thị chín cho đến khi thịt trái thị mềm và nứt ra một khe nhỏ thì cho lên miệng hút. Theo các nhà khoa học, thịt trái thị và lá thị phơi khô có tác dụng chống oxy hóa nhẹ, bổ sung vitamin C và đường, có tác dụng bổ máu, kháng khuẩn, kháng nấm và kháng sốt rét. Ngày nay, cây thị trên rừng không còn nhiều nữa, và cũng không còn cảnh trái thị rớt bị bà già, đem về bà ngửi chứ bà không ăn trái thị chỉ còn lại trong truyện cổ tích Tấm Cám của người Việt mà thôi.

Còn biết bao những quả thơm ngon trên núi rừng, nhưng rừng ngày nay con người khai thác cạn kiệt, còn đâu những món quà quê đó. Hương vị những trái cây rừng chỉ còn là hoài niệm. Ôi! Thương nhớ thay những trái cây rừng ...

N.V.B - V.T.D

Bài liên quan