QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

LÊN THÀNH, XUỐNG CỬA

NGUYỄN MAN NHIÊN

Thành là cách dân gian gọi tắt Thành Diên Khánh, thành trì quân sự và cũng là tỉnh l tỉnh Khánh Hòa thời Nguyễn; năm 1988 đã được Nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia.

Sách Đại Nam Nhất Thống Chí (ĐNNTC) của Sử quán triều Nguyễn, bản khắc in đời Tự Đức, khi chép về Thành tỉnh Khánh Hòa” có đoạn: “Trước kia lị sở của dinh ở địa phận xã Phước Đa huyện Quảng Phước, sau dời đến chỗ hiện nay, tức là thành Diên Khánh cũ”.    

Thành Diên Khánh được Nguyễn Ánh xây dựng vào năm 1793, trên địa phận xã Phú Mỹ, tổng Trung, huyện Phước Điền, phủ Diên Khánh, nay là khóm Đông Môn, thị trấn Diên Khánh. Sách Đại Nam Thực Lục Chính Biên (ĐNTL) chép về việc xây thành như sau: “(Vua) ngự giá về Diên Khánh. Thấy đồn cũ Hoa Bông địa thế tốt, đánh hay giữ đều tiện, bèn sai các quân và phát 3000 dân Bình Thuận, 1000 dân Thuận Thành khởi đắp trọn một tháng thì thành xong, gọi là thành Diên Khánh”.  

Cũng theo ĐNTL, “Thành cao 1 trượng, chu vi hơn 510 trượng, mở sáu cửa, đông và nam đều một cửa, tây và bắc đều hai cửa, trên cửa có lầu, bốn góc có cồn đất”. Sách ĐNNTC bổ sung thêm: Ngoài thành có hào, ngoài hào có xây lũy chắn ngang. Các cửa thành đều có xây cầu đi qua, trước thành sau thành đều có núi sông bảo vệ, thật là một nơi hiểm trở vô cùng”.

Đến nay vẫn chưa biết một cách chính xác các cơ quan đầu não ở địa phương đã được chuyển từ Bình Khang vào Diên Khánh từ lúc nào. Nhiều ý kiến cho rằng đó là năm 1793, ngay sau khi Nguyễn vương Phúc Ánh xây dựng xong Thành Diên Khánh và giao cho Tiền quân Bình Tây Đại tướng quân Nguyễn Văn Thành trấn giữ. Theo chúng tôi, thực ra ban đầu Thành Diên Khánh chỉ có chức năng như một căn cứ quân sự, là nơi tích trữ lương, tiền ở Gia Định, Bình Thuận chở ra để dùng cho quân đội Bắc phạt, là một cứ điểm quan trọng trong hệ thống phòng thủ của quân Nguyễn trong cuộc chiến tranh với nhà Tây Sơn. Vì vậy, vào năm 1793, cùng với việc triệu tướng Nguyễn Văn Thành về giữ Diên Khánh, Nguyễn vương vẫn “đặt quan công đường dinh Bình Khang, lấy quản Hậu thủy dinh là Nguyễn Thoan làm Lưu thủ, Hình bộ tham tri Lê Đăng Khoa làm Cai bạ, Hàn Lâm viện Đặng Hữu Đào làm ký lục” (ĐNTL). Rõ ràng là vào thời gian này lỵ sở của dinh vẫn ở Bình Khang.

Phải đến sau khi Gia Long lên ngôi (1802), rồi đổi dinh Bình Khang thành dinh Bình Hòa vào năm 1803, đây mới chính là thời điểm chuyển lỵ sở của dinh từ Bình Hòa vào Thành Diên Khánh. Sự kiện này đã được sử thần Lê Quang Định (1759-1813) xác nhận trong sách Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí (1806) như sau: “Nay thành ấy lập làm l sở của dinh Bình Hòa, ở đó có kho lương và nhà cửa quân dân nhưng hãy còn thưa thớt”. Từ đó, Thành Diên Khánh mới có thêm chức năng là một trung tâm chính trị, trở thành l sở của các cơ quan đầu não của triều Nguyễn ở địa phương, là tỉnh l tỉnh Khánh Hòa thời Nguyễn (thành lập năm 1832) cho đến Cách Mạng tháng 8 năm 1945.

Cũng theo sách HVNTDĐC,  Thành Diên Khánh còn có tục danh là Thành Nha Trang. Thật vậy, dựa vào các ghi chép tỉ mỉ của Lê Quý Đôn (1726-1784) trong Phủ Biên Tạp Lục, có thể thấy rằng vào thời bấy giờ tên Nha Trang là tục danh để gọi chung phủ Diên Khánh, tức vùng đất bao gồm cả huyện Diên Khánh và TP. Nha Trang hiện nay. 

Thành Diên Khánh cách Nha Trang khoảng 10 km về phía tây nam. Ngày xưa, đường cái quan từ Nha Trang lên Diên Khánh là đường đất gập ghềnh hiểm trở, nhiều bờ bụi. Vì thế người dân địa phương còn dùng đường thủy theo sông Cái để đi lại, vận chuyển hàng hóa... 

Sông Cái là một trong hai con sông chính của tỉnh Khánh Hòa, chảy qua địa phận huyện Diên Khánh và thành phố Nha Trang. Xưa kia sông Cái vừa sâu vừa rộng, là tuyến giao thông đường thủy quan trọng nối liền l sở Thành Diên Khánh xuống cửa biển Nha Trang. Ngày nay sông cạn đi và hẹp hơn nhiều. Dòng sông uốn lượn ngoằn ngoèo, lúc thì bạc trắng, lúc thì trong xanh, lúc thì vàng đục đất phù sa mùa lũ. Dọc ven sông và các hương lộ quanh co là những xóm làng đơn sơ, cổ kính… 

Đò Thành ghe gốm lên rồi,

Sao không đi chợ còn ngồi chi đây?

Câu ca dao vẽ lên cảnh sinh hoạt sầm uất một thời của bến đò Thành gắn liền với chợ Thành và các vùng lân cận. Những con đò hàng ngày đưa người dân qua lại, mua bán… từ làng Phú Lộc, vùng Tứ thôn Đại Điền vào chợ Thành, rồi từ chợ Thành lại đi về các làng xã xa xôi phía bắc. Những chuyến đò chở nông sản, thực phẩm, hàng hóa... từ vùng Vĩnh Xương, Nha Trang lên. Những chuyến đò từ vùng trên Phước Điền xuống… Tất cả tạo nên khung cảnh giao thương nhộn nhịp trên dòng sông Cái, đúng như câu nói cửa miệng một thời của người dân địa phương: “Lên Thành, xuống Cửa”. 

NMN

Bài liên quan