QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

LỄ HỘI CÚNG ĐÌNH Ở NGỌC HỘI VÀ PHƯƠNG SÀI, NHA TRANG

NGUYỄN ĐÌNH LỰC

 

1. Lễ hội cúng đình

Nếu đất nước giỗ Tổ Hùng Vương thì mỗi làng có lễ tế Thần Hoàng - là các bậc có công khai khai hoang, mở cõi, lập ấp, lập làng, mỗi họ có giỗ Tổ của họ, mỗi nhà cũng phải thờ cúng Tổ tiên, Ông Bà. Đó là đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.

Thành phố Nha Trang có 33 ngôi đình. Trừ những xã phường mới lập, hầu như mỗi xã phường đều có từ 1 đến 2 ngôi đình, vài nơi có đến 3 hoặc 4 đình, như xã Vĩnh Trung, phường Ngọc Hiệp có tới 4 đình. Có thể chia thành 33 đình thành 2 dạng: 25 đình làng của cư dân nông nghiệp và 8 đình làng của cư dân ngư nghiệp. Thực tế thì mặc dầu ngày nay Phương Sài không còn hộ nào hành nghề ngư nghiệp nhưng thuở trước đây là một làng ngư nghiệp, nên cách cúng tế vẫn theo nếp cũ. Còn làng Ngọc Hội nay cũng chẳng còn ruộng cày, vườn dừa không đủ nuôi sống nên người dân chủ yếu làm lao động tự do hay công nhân viên nhà nước.

Lễ hội cúng tế đình làng ở Nha Trang là một trong những sinh hoạt văn hóa dân gian có tính truyền thống và kế thừa đã in sâu trong tâm thức của đồng bào ta về lòng tôn kính và biết ơn các bậc tiền nhân cuàng với tinh thần gắn kết cộng đồng, tình làng nghĩa xóm. Nên ca dao địa phương có câu:

             Mặc dầu sanh kế ở xa

             Nhớ  ngày lễ hội đình ta trở về

             Thương em chưa nói nên câu

             Chờ ngày lễ hội gặp nha tâm tình .

Lễ hội được diễn ra hai làn trong một năm , vào mùa Xuân và vào mùa thu : Xuân Thu nhị kỳ .Lễ Hội cúng xuân được gọi là Cúng  Xuân Kỳ An tức là cầu Thần dộ trì cho quố Thái dân an ; lễ hội Cúng Thu còn gọi là Thu Té tức là lễ Tạ ơn Thần.

Tùy theo điều kiện sinh hoạt , điều kiện kinh tế , mỗi nơi có cách chọn lế hội nào là lễ hội chính .

Chẳng hạn , ở Ngọc Hội cúng Xuân là lễ hội chính , còn ở Phương Sài thì chọn Cúng Thu vì xưa kia Phương Sài ( tức Phương Củi ) là một làng ngư nghiệp phải đến mùa Thu dân làng mới rảnh rang tham gia lễ hội.

Lễ hội thường gồm các lễ sau ; Lễ rước sắc , lễ tụng kinh cầu an ,Lễ tế Tiền hiến . lễ tế Thần , lễ tế bà Thiên Y A Na , lx dâng hao , lễ tống na …. Xen vào các lễ bà con phần hội và các tiết mục gải trí giúp vui cho bà con như múa lân , hát bội , các trò chơi dân gian….

Ngày xưa , ở nông thôn vào dịp nông nhàn lại được mùa , lễ hội có thể kéo dài đến 5 hay 7 ngày .

Ở Ngọc Hội , năm nào có trùng tu sửa chữa lớn đến ngày cúng lạc thành mới tổ chức phần hội tức có thêm phần múa lân , rước sắc và hát bội , còn thường thì chỉ có phần lễ diễn ra như sau :

Ngày thứ nhất:

Buổi sáng : Trang hoàng và chuẩn bị

Buổi chiều : 16g. tụng kinh cầu an ( cúng chay ) .

Ngày thứ hai :

Buổi chiều : 16g , Cúng Tiền hiền ,Hậu hiền , các Anh hùng liệt sĩ .

Ngày thứ ba :

Lúc 24 g : Lễ Thỉnh  sanh

Từ 1 – 2g : Lễ Tế Thần cùng Chư Linh – Lễ Tống Na.

Buổi sáng : 8g – 12g : đón tiếp quan khách, các ban quản lý đình bạn và bà con lối xóm về dâng hương và dự lễ .

Buổi chiều : Tổng kết .

Ở Phương Sài , thứ tự các lễ hội có khác hơn :

Ngày thứ nhất :

6g sáng : Cúng Tiền hiền

8g sáng : Rước Sắc

9g – 11 g : Đón tiếp quan khách và ban quản lý các đình bạn .

14- 18g : Các chùa và các khuôn hội về tụng kinh cầu an.

Ngày thứ hai :

4- 5g : Tế bà Thiên Y ( Ban Nghi lễ Nữ )

5 -6g : Tế Thần

6 -9g : Hát thứ lễ trước đình Thần

6 – 12g : Đón tiếp bà con về xem hát , cúng bái và dự tiệc

12 – 14g : Hát trước đề bà với nội dung về Mẹ Xứ Sở

14g : Cúng Tống Na – Hồi Sắc – Bế mạc .

Ngày thứ ba :

Tiếp tục hát phục vụ cho bà con giải trí theo thời gian hợp đồng với đoàn hát. Bà con có yêu cầu thì cứ hợp đồng thêm.

Lễ rước sắc ở Phương Sài được tổ chức vô cùng trang nghiêm , long trọng đầy màu sắc lế hội , có cờ lọng , lỗ bộ (bộ kinh khí thời xưa ), trống chiên , nhạc lễ , gồm các lễ : khai sắc , rước sắc , hồi sắc.

Lễ khai sắc diễn ra tại miếu An Lạc trên đường Phan Đình Giót , là nơi giữ sắc .Khai sắc là mở hòm đựng sắc ra để kiểm tra về số lượng và chất lượng bên trong hòm , ngoài 15 tờ sắc còn có chất bảo quản , chống ẩm và chống mối mọt nhờ đó mà các tờ sắc vẫn còn nguyên vẹn. Nhừng tờ sắc mới nhất cũng đã 85 năm, còn những tờ xưa nhất thì đã 157 năm.

Lộ trình của đoàn rước sắc là từ miếu An Lạc về dinh Phương Sài, từ đường Phan Đình Giót ra đường Trần Quý Cáp về đường Phương Sài.

Dần đầu đoàn là quốc kỳ, cờ đình miếu, cờ đuôi nheo, một cụ cao tuối mặc sắc phục binh sĩ thời xưa cầm bảng Lễ rước sắc Thần Tế Thu cầu An Đình Phương Sài, tiếp theo là các cụ tròng ban nghi lễ trong sắc phục tế lễ, đi thành hàng đôi, một số cụ tay cầm các bộ binh khí xưa trông rất uy nghi. Saụ đó ỉà đoàn lân do các thanh niên của 2 phường Phương Sài và Phương Sơn đảm trách, rồi đội trống nghi thức của trường phổ thông cơ sở Vố Văn Ký, đội khiêng kiệu sác với đầy đủ tàng lọng trống chiêng, tiếp theo là đội nhạc lễ, đoàn nghi lễ nữ và thành phần nhân dân tháp tùng, đặc biệt có cô mặc áo dài đủ màu tay ôm những bó hoa tươi thắm và liên tục tung cao những hạt giấy ngũ sắc. Hiện nay,-một số đình làng đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh, tưởng cũng nên đưa bằng di tích vào lễ rước. Một số nhà dân ở 2 bên đoàn rước sác đi qua đã đặt bàn hương đăng trà quả để nghênh đón sắc Thần.

Tất cả xe cộ đang chạy trên đường đều dừng lại để nghênh đón và chiêm ngưỡng.

Một số du khách nước ngoài tình cờ chứng kiến cảnh lễ hội đầy trang nghiêm, cố kính đã không bỏ cơ hội đừng iại quay phim, chụp ảnh hầu ghi lại những hình ảnh đẹp về đất nước và con người Việt Nam.

Trên đây chỉ là một số nét khái quát về lễ hội đình làng, còn việc tố chức sao cho toàn vẹn là một điều khỏng đơn giản.

2. Tổ chức ỉễ hội cúng đình

- Ban quản lý đình miếu: Ở mỗi địa phương có di tích đình miếu đều có một ban quản lý do chính quyền địa phương ra quyết định công nhận. Ban quản lý có nhiệm vụ xây dựng phương án bảo vệ di sản văn hóa, chấp hành tốt luật di sản và tổ chức iễ hội truyền thống. Tuy nhiên  mọi việc liên quan đến trùng tu, sửa chữa hay cúng tế, ban quản lý đêu phải thỉnh ý các cụ kỳ lão ở địa phương.

- Thủ bổn: Mỗi đình miếu phải đề cử một thủ bổn là người làm công tác hậu cần, hương khói và giữ tiền quỹ. Đây là cộng việc đòi hỏi người phụ trách phải có nhiều tâm huyết và năng lực. Vì vậy ngày xưa thủ bổrì được cấp chỗ ở, đất ruộng để có hoa lợi mà lo việc công quả.

Các ban tố chức lễ hội: Trước ngày cúng tế khoảng một tháng, ban quản lý phải triệu tập một vài buối họp đê phân công việc tô chức. Mỗi người tronệ ban quản lý sẽ đảm nhận vài phần việc như: khánh tiểt, tiếp tân, tài vụ, kiểm soát, ẩm thực, an ninh...

Ai được phân công cũng đều vui vẻ, nhiệt tình với công việc được giao.

- Tư lễ: Đó là người đảm trách phần việc chọn ngày cúng te, chuan bị văn sớ, cùng các nghi iề cúng tế. Ngày cúng tế cũng có cách chọn riêng theo ỉệ ỉàng. Có nơi chọn ngày ân định trước, hàng năm cứ theo đó mà cúng tế. Có nơi chọn ngày lành tháng tốt. Đặc biệt ở Phương Sài lấy ngày vía Bà Thiên Y (23.3 ÂL) làm ngày cúng Xuân.

- Nghi thức cúng tế: Nghi thức cúng tế được lưu truyền từ đời này sang đời khác theo quan niệm xưa bày nay giữ, từ đó mà mỗi nơi đều có nghi thức riêng. Để tránh sự sai lệch do thất truyền, Phòng Văn hóa Thông tin Thể thao thành phố và Trung tậm Quản lý Di tích- Thắng cảnh khi lập hồ sơ xếp hạng di tích đều có ghi thêm nội dung nghi thức và nghi lễ cho các di tích đình làng.

Nghi thức cúng tế của đình Phương Sài: Nghi thức cúng Thần

LỜI XƯỚNG                                                 DIỄN GIẢI

Củ soát tế vật                                Chánh tế, bồi tế soát xét lễ vật dâng cúng

Chấp sự giả các tư kỳ sự            Tất cả đứng về vị trí

Kích thác                                         Trưởng lão khai mõ (3 hồi 9 tiếng)

Khởi chinh cổ                                  Đánh chiêng trống (3 hồi 3 tiếng)

Nhạc sanh khởi nhạc                     Nhạc lễ hòa nhạc

Đông tây bồi tế phân hiến             Các bồi  tế đứng nghi đúng vị trí các tựu vị       

Chánh tế tựu vị                                Chánh tế về vị trí

Nghệ quán tẩy sở                            Chánh tế đến chỗ rửa mặt

Quán tẩy                                           Rửa mặt          

Thuế cân                                                        

Phục vị                                                  Lấy khăn lau mặt

Nghệ hương án tiền                       Chánh tế vòng qua hướng đông về vị trí

                                          Chánh tế bước lên chiếu trên đứng trước bàn

Chánh tể quỳ                      Hội đồng, 4 lễ sĩ nâng đài hương bước lên Quị

Giai quị                                        Lễ sĩ quỳ quanh chánh tế

Phần hương                                 Đốt trầm. Lễ sĩ dâng đài hương cho chánh tế

Thượng hương                                       Chánh tế niệm hương

Phủ phục                                         Lạy sát chiếu

Hưng bình thân                               Đứng thẳng    

Phục vị                                       

Nghinh chư tiên linh cúc     Chánh tế đi lui, xoay góc 90 độ về chỗ cũ cung bái  

Hưng                                       Đứng dậy

Bái                                              Lạy (3 lần)

Hưng bình thân                            Đứng dậy

Phục vị                                       Về chỗ cũ

Hành sơ hiến lễ                             

Nghệ chánh hiến vị tiền             Làm lễ lần thứ nhất    

Giai quị                              Chánh tế, lễ sĩ bước lên bàn Thần Quị

Tấn tước

Hiến tước

Phủ phục

Hưng bình thân

Phục vị

Chuyển chúc

Nghệ độc chúc vị

Giai quị                                        Chuẩn bị nghe đọc văn tế Qụi

Phủ phục

Hưng bình thân

Phục vị

Hành á hiến lễ nghệ chánh hiến vị tiền

Quị

Giai quị

Tấn tước

Hiển tước

Phủ phục

Hưng bình thân

Phục vị

Hành chung hiến lễ                              Nghệ chánh hiên vị tiền

Qụi

Giai quị

Tấn tước

Hiến tước

Phủ phục

Hưng binh than

Tứ phước tộ                                 Hưởng lộc

Nghệ ẩm phước vị                        Chuẩn bị uống rượu

Ẩm phước                                    Chánh tế dưa ly vào môi

Thọ tộ                                          Cầm chén thịt đưa lên môi

Phủ phục

Hưng

Bái

Hưng binh thân

Phục vị

Tạ Thần cúc cúng bái

Hưng- Bái- Hưng- Bái

Hưng bình thân

Phần chúc                                                     Xong lễ

Lễ tất                                                           Đọc to khi có hát bội

Cung hiến ca viên

Ngoài phần nghi thức cúng Thần còn nghi thức cúng Tiền hiền, Thỉnh sanh…

- Ban nghi lễ: Trong mỗi kỳ cúng tế ban quản lý phải chọn khoảng 24 nhân sự làm nhiệm vụ trong suốt thời gian tế lễ gồm: từ 1 đến 2 chánh tế,1 đến 2 bồi tế (chia cho 2 lễ cúng), 2 bồi tế đông tây, 1 thông xướng, 1 đọc văn, 4-6 lễ sĩ, 4-6 thị lập(người đứng hầu ở bàn thờ lo việc hương, đèn, trà, rượu.,.) 1 đánh chiêng, 1 đánh trống, 1 đánh chuông, 1 đánh mõ.

Đặc biệt ở Phương Sài ngoài ban nghi lễ nam còn có thêm 1 ban nghi lễ nữ phụ trách cúng tế tại miếu Bà.

Khi được đề cử vào ban nghi lễ ai cũng xem đó là một điều vinh dự vì trong chốn xóm làng mình là người có đủ đạo hạnh để được lễ bái trước Thánh Thần nên tự nguyện chấp hành giò giấc và mọi động tác trong nghi lễ. Tất cả thành viên trong ban nghi lễ phải có đủ sức khỏe, không được có tang và không có dị tật. Riêng chánh tế và bồi tể, phấi chọn người có đủ uy rín, gương mẫu, đạo đức, diện mạo ngay ngắn, gia đình toàn vẹn, gia đạo an vui.

- Lễ phục: Tất cả thành viên trong ban nghi ỉễ và ban nhạc lễ phải mặc lễ phục, áo rộng xanh hay đen, quần đài trắng, đầu đội khăn đóng cùng với màu áo. Các lễ sĩ mặc sắc phục riêng, đầu đội mão, chân đi hia. Hiện nay, ở các đình miếu đều có sắm sẵn lễ phục và có nhiều màu xanh, đỏ, vàng trông rất đẹp mắt.

 - Vật lễ dâng cúng: Ngoài hương đăng trà quả, vật lê dâng cúng còn có trầu cau, chè xôi, rượu thịt.

Ớ Phương Sài, người dân chính gốc theo nép ông bà cha mẹ thường dâng cúng mâm xôi hay mâm ngũ quả. Xôi cúng cũng nhiều thứ, nhiều màu như xôi nếp, xôi vò, xôi đậu, xôi gấc, xôi cẩm..Mâm ngũ quả phải chọn 5 loại trái có 5 màu khác nhau tượng trưng cho ngũ hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ.

Những nhà ăn nên làm ra thường cúng vài mâm với ý thức chia sẻ vì sau khi cúng xong khách có thể mang về cho con cháu và xem như được hưởng lộc của Thánh Thần. Đôi khi có người cúng cả con heo quay. Theo tục xưa, lễ vật dâng cúng phải đặt lên mâm và đội trên đầu. Nếu vật quá nặng thì đặt vào thúng 2 người khiêng ở 2 đầu. Vật hiển tế ngày trước thường là bò và heo. Ngày nay chỉ cúng heo. Heo tế phải chọn heo đực, đồng màu, không có khoen đốm, không có dị tật. Nếu có 2 con thì 1 con chong, 1 con tễ. Heo chong chỉ cắt tiết và cạo sạch lông, đặt nằm sấp trên một cái mâm lớn, đầu quay về phía bàn Thần. Bên cạnh đặt một đĩa nhỏ bỏ một nhúm lông và một ít huyết. Heo tế được luộc chín và xẻ thịt phân phối trên các bàn thờ, đầu và lòng heo đặt trên bàn Hội đồng (bàn thờ ngay trước bàn thờ Thần).

Bà con dự lễ hội: Nếu được tận mắt thấy cảnh bà con về dự lễ hội cúng tế đỉnh làng ta thấy lòng mình như đang mở hội vì những hình ảnh mang đầy sắc thái văn hóa của đồng bảo mình trong khuôn viên đình khác hẳn với cảnh xô bồ trên đường phố.

Các cụ ông thật trịnh trọng trong bộ lễ phục truyên thống, áo dài khăn đóng. Các cụ bà áo the, áo gâm, đâu chít khăn mỏ quạ hay đội nón lá. Một sô bà ãn mặc đẹp như đi ăn cưới nhưng cũng không ít cô, bà mặc áo dài lam như khi đi chùa. Đám thanh niên trai trẻ mặc Au phục đều bỏ áo vào quần, cũng có vài người thắt cà vạt. Nhìn chung ai nấy đều rất nghiêm trang, 2 tay luôn chắp trước ngực, gặp các cụ cao tuối liền vái chào kính cẩn. Lứa trẻ không hề thấy ai mặc áo chim cò, áo vẽ chữ, vẽ hình hay áo dây, áo đầm, váy ngắn. Ai ai cũng lịch, sự, cũng nhỏ nhẹ, không hề nghe một tiếng chửi thề, một lời thô tục hay cười đùa ồn ào vô ý thức.

Đình Phương Sài là ngôi đình chung của bà con 2 phường Phương Sài và Phương Sơn. Ớ Ngọc Hội cũng vậy, mỗi khi có cúng tế bà con ở Lư cấm, Vĩnh Hội, Ngọc Thảo, Ngọc Sơn, Vĩnh Ngọc... không phân biệt lương giáo đều theo nếp của ông cha về đình hương khói dế tỏ lòng biết ơn các bậc tiền bối, các anh hùng liệt sĩ cùng thắt chặt tình cảm bà con iàng xóm, đúng như 2 câu đối trên bàn thờ Tiền hiền đình Ngọc Hội:

Hữu công tắc tự thiên thu tự

Minh đức kỳ  lai vạn đại lai

Nghĩa là:

Có  công phái thờ  ngàn thu thờ mãi

Đức sảng mà  tới. muôn thuở tới hoài.

Sau đó là dự bữa tiệc chung vui đầm ấm thân mật. Tại mỗi bàn tiệc 10 người, thực đơn là những món dân dã đậm đà săc thái quê hương nhưng chỉ có một chai xị rượu lễ, mỗi người chia nhau một chung nên làm sao có cảnh chè chén say sưa, chiếu trên, chiếu dưới?

- Hát bội: Hát bội có thể xem là phần hội chủ yếu của mỗi lần cúng tế. Người dân có quan niệm là Thần Hoàng cũng thích xem hát. Nên những năm được mùa thì cả Thần lẫn dân đều phải được thưởng thức nghệ thuật tuồng. Ngay sau khi cúng nếu có hát thì sẽ hát liền 3 tiếng, gọi là hát thứ ỉễ, hát cho Thần xem. Vì vậy mỗi đình phải có một sân khấu ở đối diện bàn Thần, được gọi là võ ca.

Ở Ngọc Hội đã xây dựng võ ca rộng trên 20m2 vuông cỏ mái che rât thuận tiện với việc tô chức hát bội, còn ở Phương Sài ngay trước miếu Bà cũng có võ ca nhằm phục vụ ỉễ dâng hoa, múa bông và múa (ục cúng. Còn sân khâu hát bộ thì các vị trong ban quảq lý đã mua sẵn 2 bộ ván ngựa bằng danh mộc, khi có hát mới bày ra. Đã là tuồng phải có tích, mà tích thì phải xưa, lây chuyện xưa mà mà răn dạy người nay. Người trung, người hiên dầu cho lao đao lận đận thế nào thì cuối cùng cũng phải thắng kẻ nịnh, người gian. Đó mới là đạo lý. Những nhà soạn tuồng xưa ỉà những người thông thái, uyên bác, nhả ngọc phun châu, đối đáp thần tình nên người xem vừa thích phần diễn ỉậi ưa phần lời. Câu chữ của tuồng tích hát bội thường là chữ Hán Nôm, cho nên các cụ ông cụ bà ở lứa tuổi 90 mới hiếu được nên ham thích là phải. Còn đào kép cũng phải có học có hiểu lời thoại của mình mới có sức lôi cuốn khán giả. Bây giờ có không ít nghệ sĩ lên sân khấu chỉ quơ tay quơ chân cho có lệ, còn miệng thì cứ ứ ư ứ ự cho hết giờ. Tôi đã chứng kiến nhiều cụ bà nghe ở đâu có đám hát đình thì tìm tới xin ở lại mà xem. Đó là hồi ức của ông bà, cha mẹ ta đó. Thật là cảm động.

Còn chuyện cầm chầu ném thẻ thưởng cũng phát sinh nhiều chuyện không hay. Tôi đã chứng kiến cảnh  một nữ nghệ sĩ bị thẻ tre đâm vào mặt máu chảy đầm đìa. Tôi đã kịp thời cầm máu ngay tức khắc. Sau này lại thay thẻ tre bằng những bó nang mỏng, hốt tới hốt lui thì bụi bay mù mịt, xem chăng ra sao!

Cho nên chuyện hát bội rất cần cho việc hội nhưng phải cấp thời, bàn lại cách làm.

Ngoài các vở để phục vụ hát thứ lễ, Nhà hát tuồng Khánh Hòa đã dựng thành công nhiều vở liên quan đến lịch sử tại tỉnh nhà như Trần Quý Cáp, Đại nguyên soái Trịnh Phong và đặc biệt là vở Huyền thoại Mẹ Xứ Sở mỗi khi công diễn đã tạo bầu không khí lễ hội một màu sắc vô cùng linh thiêng.

     * * *

Lễ hội cúng tế đình làng là một trong những nét đẹp văn hóa truyền thống với đạo lý uống nước nhớ nguồn. Lễ hội đã hướng con người vừa gỉữ được phấm hạnh vừa tạo được moi giao lưu trong quan hệ cộng đồng, có tác dụng nâng cao tình dân tộc, nghĩa đồng bào.

Qua lễ hội, ta có thể đánh giá năng lực tổ chức, ý thức kỷ luật, trình độ văn hóa nghệ thuật, tinh thần đoàn kết cùng tiềm năng kinh tế của một địa phương.

Tuy nhiên, có nên chăng, chỉ thu hẹp chức năng của đình làng qua 2 lần lễ hội. Điều cần nêu là làm thế nào cho ngôi nhà chung ấy phát huy tác dụng tích cực hơn đế xứng đáng là một di sản văn hóa của địa phương mà toàn dân phải hết lòng chăm sóc, bảo quản và tôn tạo.

N.Đ.L