QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

 

“NỐI ĐIÊU”- PHƯƠNG PHÁP DẠY MÔN VĂN ĐỘC ĐÁO CỦA NHÀ GIÁO - NHÀ VĂN VÕ HỒNG

NGÔ VĂN BAN

Năm 1969, trên nguyệt san Giáo Dục, xuất bản tại Sài Gòn, số ra ngày 30.5 có một bài viết nhan đề: “NỐI ĐIÊU, một phương pháp dạy quốc văn mới” của Võ Hồng. Bài viết có đoạn: “Thơ Kiều có câu: Lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu / Hay hèn lẽ cũng nối điêu ...”. Nối điêu là lời tự khiêm để chỉ việc viết tiếp một bài văn, một bài thơ vốn có giá trị. Hơn mười năm trước tôi có dạy một lớp Đệ Ngũ. Trong chương trình Luận của lớp Đệ Ngũ có đề mục Thuật sự (...). Tôi bày ra trò chơi “Nối điêu” này để học sinh có thêm hứng thú. Thật vậy, giữa một tác giả hữu danh và người học sinh nhỏ, cái hố cách biệt thật quá lớn, thế mà họ được ủy nhiệm viết tiếp câu chuyện của nhà văn hữu danh kia, xếp đặt cái gút như thế nào là tùy theo sáng kiến của họ. Tôi chọn dịch truyện “Những ngôi sao” (Les Étoile) của Alphonse Daudet là một chuyện tình nhẹ nhàng thuộc chương trình giáo khoa bậc Trung học, trao cho mỗi học sinh một bản dịch và, giữa lớp học, trong hai giờ, mỗi người học sinh phải kết thúc câu chuyện tùy theo ý họ”.

Tiếp đó, Võ Hồng “giới thiệu bản dịch “Những ngôi sao” và ba bài ”Nối điêu” viết khá hơn hết. Tác giả ba bài đó: Nguyễn Thị Kim Cúc, Ngô Văn Ban, Nguyễn Văn Hòa bây giờ đều đã thành đạt. Trong số ba người thì hiện có một đang đem những kiến thức Đại học của mình để phụng sự Văn học nghệ thuật. Con đường chí hướng như đã được vạch sẵn từ những ngày còn thơ “.

“Nối điêu”, theo Từ điển Truyện Kiều của Đào Duy Anh [1] đã cho ta biết thêm :

Điêu là một loài chồn, đuôi to lông dài, sống ở gần bắc cực. Ở Trung Quốc xưa quan hầu cận nhà vua thường dùng đuôi con điêu làm ngù mũ. Đến cuối đời Tấn, Triệu Vương Luân cướp ngôi, phong quan chức cho bọn tôi tớ, mỗi khi triều hội thấy đầy người đội mũ đuôi điêu, người đời có câu rằng: “Điêu bất túc, cẩu vĩ tục” nghĩa là đuôi điêu không đủ thì nối bằng đuôi chó. Và: Hay hèn lẽ cũng nối điêu, 1317: Câu này ý nói khiêm tốn rằng mình tuy kém, nhưng đáng lẽ cũng phải họa vần để nối tiếp thơ hay của Thúc Sinh“.

Với phương pháp “Nối điêu”, viết tiếp câu chuyện trong hai giờ (thật sự có 90 phút) tại lớp, lại là một tác phẩm của một nhà văn danh tiếng nước Pháp, thật là quá khó khăn với chúng tôi, những học sinh cấp 2 trình độ tiếp thu văn học chưa khá lắm. Nhưng chúng tôi cũng đã có nhiều cố gắng để hoàn thành những phần nào yêu cầu của Thầy.

Truyện “Những ngôi sao” là chuyện anh mục đồng chăn cừu trên dãy núi cao, trơ trọi một mình với con chó và bầy cừu. Cứ mười lăm ngày một lần, thằng nhỏ người làm hay dì Norade mang lương thực lên tiếp tế. Và điều anh chú ý nhất, bắt kể cho nghe được là về nàng Stéphanette xinh đẹp nhất vùng, con của ông bà chủ, có những sinh hoạt gì ở làng, có ai ngấp nghé chưa... Tuy anh biết rằng những chuyện ấy chẳng có ích gì cho anh, một kẻ chăn cừu nghèo khổ ở xó núi này. Và một hôm, thật bất ngờ, nàng Stéphanette xinh đẹp xuất hiện trước mặt anh. Đó là vì dì Norade về nghỉ ở nhà dì, thằng nhỏ bị ốm, nên nàng phải mang lương thực lên cho anh. Đối với anh, thật không gì hạnh phúc hơn, sung sướng hơn khi đối diện, trao đổi với người đẹp nhất vùng ... Khi nàng xuống núi, anh vẫn còn bàng hoàng. Nhưng lại bất ngờ nữa, nàng lại xuất hiện khi trời vừa xẩm tối. Con lạch Sorgue tràn nước sau trận mưa nên nàng không thể lội qua về nhà được. Và tối đó, nàng ở lại trong căn lều nhỏ bé của anh. Còn anh ngồi bên đống lửa. Nàng không ngủ được, ra khỏi lều ngồi bên anh, ngước mặt lên bầu trời đầy sao, để rồi anh có dịp kể cho nàng nghe tên các ngôi sao, những sinh hoạt, cuộc sống, vận chuyển ... của chúng. Trong khi anh đang say sưa giảng giải về những ngôi sao thì anh cảm thấy có cái gì mát mẻ và êm ái đè nhè nhẹ lên vai anh. Đó là đầu của nàng Stéphanette xinh đẹp vì quá buồn ngủ đã dựa lên vai anh. “Xung quanh tôi, các ngôi sao tiếp tục cuộc hành trình lặng lẽ, ngoan ngoãn như bầy cừu lớn và đôi lúc tôi tưởng tượng rằng, có một trong các ngôi sao ấy, ngôi sao thanh tú nhất, ngôi sao rực rỡ nhất đi lạc đường và đậu trên vai tôi mà ngủ “.

Chuyện kết thúc ở đây, lũ học trò chúng tôi ... nối điêu.

Bạn Cúc thì kết thúc chuyện khi nàng Stéphanette mang lương thực lên lần sau đã báo cho anh biết nàng sắp lấy chồng. Tin như sét đánh đó làm anh bàng hoàng và tiếng vó của con ngựa chở nàng về “vang đều đều rồi nhỏ dần, nhỏ dần .. Cũng như hình bóng nàng dần dần phai mờ trong lòng tôi”.

Bạn Hòa thì “nối điêu” bằng câu chuyện kể, khi anh mục đồng lúa đàn cừu xuống núi về nhà tránh Đông đã chứng kiến nàng Stéphanette đang chuẩn bị hôn lễ về nhà chồng. Anh cảm thấy thân phận nghèo nàn của mình, buồn bã, bỏ đi cùng con chó Labri của mình, vì “tôi không đủ can đảm đứng nhìn cảnh này được“.

Riêng bài viết của tôi, tôi “nối điêu” theo hướng khác :

Thời gian cứ trôi qua ...

“Cuộc đời tôi vẫn theo thời gian mà âm thầm trôi mãi. Cứ đến mười lăm ngày, tiếng nhạc của con la vang lên, là tôi nhận được lương thực trong nửa tháng do Thằng nhỏ hay dì Norade mang lên.

“Thỉnh thoảng, có đêm ngồi ngắm các ngôi sao trên cao thăm thẳm, tôi lại mơ màng đến cô chủ tôi, đến cái đêm đẹp nhất đời tôi, cái đêm mà cô chủ Stéphanette xinh đẹp kia, như một vì sao lạc đường đã đến tựa trên vai tôi ngủ. Ai cấm tôi mơ tưởng đến cô, đến con người xinh đẹp ấy ? Mơ tưởng thì mơ tưởng nhưng tôi không thể nghĩ đến ngày cùng cô song song bước đến nhà thờ ... vì gì ai cũng hiểu. Tôi, một kẻ chăn chiên nghèo nàn làm sao sánh được với cô chủ tôi, con người giàu có sang trọng. Bên nàng, biết bao chàng trai giàu có khác đang ngấm nghé. Làm sao tôi dám mơ tưởng đến ngày ấy chứ ?

“Nhưng cuộc đời không thể ngờ được. Cũng như tôi cứ sống bình thản như dòng lạch Sorgue thì làm sao tôi lại có ngày hôm nay.

“Chiều hôm ấy, mặt trời đã ngả về Tây, đàn chim ríu rít bay về tổ. Tôi đuổi đàn cừu về chuồng. Đi dọc theo lạch Sorgue, bỗng tôi nghe tiếng kêu cứu ở phía trước. Tôi chạy nhanh đến khúc quẹo của con lạch thì thấy trên mặt nước, ẩn hiện một bóng hình người chơi vơi giữa dòng nước đang cuồn cuộn chảy vì cơn mưa hồi sớm.

“Không kể đến đàn cừu, không kể đến áo quần sẽ bị ướt lạnh, tôi liền nhảy xuống lạch bơi lại gần kẻ sắp chết đuối. Bơi đến nơi, tôi mới biết người gặp nạn là một thiếu nữ và khi rõ mặt, tôi kêu lên:

“- Trời ! Cô chủ ...

“Tôi kêu lên thế khi thấy gương mặt trái xoan, đôi mắt nhắm nghiền, đôi môi tái nhợt ... Tôi ôm nàng bơi nhanh vào bờ, xốc nàng lên lưng, cõng nàng vừa chạy vừa xua đuổi đàn cừu về chuồng.

“Về đến lều trại, tôi đặt nàng vào lều và dùng phương pháp xốc nước từ bụng nàng ra. Một đống lửa được đốt lên để sưởi ấm nàng.

“Một chốc thì nàng tỉnh dậy, mở mắt ra, nhìn quanh, nhìn tôi như thầm hỏi. Nhìn đôi mắt đen láy của nàng tôi cảm thấy thật bối rối. Một lát sau tôi mới thốt nên lời:

“- Cô đi đâu mà đến nỗi gần bị nước lạch cuốn trôi như thế ?

“Nàng hỏi tôi trong hơi thở yếu ớt:

“- Thế anh cứu tôi à?

“Tôi khẽ gật đầu. Nàng nhẹ nhàng nói tiếp:

“- Tôi đi lên trại đem lương thực cho anh và bảo anh lùa đàn cừu về sớm ngay sáng mai vì thời tiết trở lạnh sớm. Đi đến lạch, tuy thấy nước lớn, nhưng tôi cũng cố lội qua, tôi bị sẩy chân và nếu không có anh chắc tôi ... giờ này ...

“Nàng ngập ngừng không nói gì nữa, mắt đăm đăm nhìn tôi thầm vẻ biết ơn và tôi thấy sự trìu mến qua cái nhìn đó. Điều đó làm tôi xúc động... Tôi vội nói lãng đi, khuyên nàng hãy ngủ ngon cho lại sức để sáng mai xuống núi.

 “Tôi bước ra lều, ngồi cạnh đống lửa. Trời thu buồn buồn, gió núi cắt da. Nhưng tôi cảm thấy có một hơi ấm thoảng qua làm lòng tôi thấy âm ấm. Hơi ấm của cô chủ tôi thoảng qua hay hơi ấm của đống lửa ? Tôi nhìn lên trời. Các ngôi sao bị mây che phủ, nhưng tôi vẫn có cảm tưởng rằng ngôi sao sáng nhất không bị mây che mà đêm nay lại hiện đến nơi đây, trong lều vải nghèo nàn, bên cạnh tôi kia ...

“Sáng hôm sau, tôi thu xếp công việc, đến trưa thì chúng tôi lùa đàn cừu về đồng bằng. Đàn cừu về đến nhà an toàn. Ông bà chủ chạy ra cổng cùng dì Norade và lộ vẻ vui mừng khi thấy cô Stéphanette xinh đẹp của ông bà vắng mặt cả đêm, nay theo gót đàn cừu trở về.

“Sau khi chào hỏi ông bà chủ, rồi để cho ông bà vui vẻ hỏi han đứa con gái xinh đẹp, tôi lùa đàn cừu vào chuồng, đem thức ăn, thức uống cho chúng và sau đó cùng dì Norade lo việc nhà.

“Sau bữa cơm chiều, ông bà chủ gọi tôi lên nhà.

“Vì có công cứu nàng Stéphanette thoát khỏi tai nạn và thấy tôi chăm chỉ làm ăn, coi sóc đàn cừu mập mạnh, an toàn nên ông bà chủ sẽ thưởng cho tôi và phần thưởng đó ông bà cho phép tôi lựa chọn. Ông bà chủ cho biết như thế khi tôi lên phòng khách ngồi vào chiếc ghế tựa.

“Thưa các bạn, tôi muốn gì bây giờ ... ngoài cô Stéphanette xinh đẹp kia? Nhưng ý tưởng đó bị dập tắt ngay khi nghĩ đến thân phận của mình. Không thể ước muốn như thế được.

“Thấy tôi chần chừ chưa quyết định, bà chủ tôi mở lời:

“- Tôi thương anh cũng như con trong nhà. Tôi thấy anh làm việc chăm chỉ và nhờ anh mà con Stéphanette khỏi chết đuối. Tôi cảm ơn anh bội phần. Hồi chiều con Stéphanette nó nói nó rất có cảm tình với anh, nó biết ơn anh đã cứu nó thoát chết. Vậy, vợ chồng tôi có ý định gả nó cho anh, anh nghĩ sao ?

“Còn nghĩ sao nữa ! Thật như vậy sao ? Tôi có mơ không ? Nếu như thế thì còn gì bằng. Sung sướng quá nên tôi chẳng nói nên lời, chỉ lắp bắp được trong miệng hai tiếng “cảm ơn”.

“Đám cưới của chúng tôi cử hành vào mùa xuân tươi đẹp. Hai chúng tôi song song bước vào nhà thờ để cha Sở ban phép lành cuộc hôn phối.

“Khi hai chúng tôi yêu nhau, những cách biệt giai cấp không còn nữa. Và vì vậy hai chúng tôi lấy nhau. Việc đó không ngờ lại có, cũng như ai đó có tin rằng, một ngôi sao xinh xắn có ngày sánh duyên cùng anh mục đồng xứ Provence nghèo khổ ”.                                         

Bài “nối điêu” của tôi cũng như của các bạn đồng lớp là những kỷ niệm vô giá trong đời đi học của tôi. Sau này, khi vào nghề sư phạm, trong giờ Làm văn, tôi cũng đã thực hiện theo phương pháp “nối điêu” của Thầy, gây nhiều hứng thú cho học sinh và là dịp để học sinh phát huy được óc tưởng tượng của mình trong việc kết cấu câu chuyện.

Như có năm, tôi cho học sinh thực hiện việc “nối điêu” chuyện HÀ BÁ LẤY VỢ.

HÀ BÁ là tên vị thần trông coi việc dưới sông nước, tích Phùng Di chuyên việc trị thủy, ngày tháng Tám sang sông bị chết chìm, trời phong làm Hà Bá. Truyện Tây Môn Báo trong Sử Ký Tư Mã Thiên, phần Hoạt kê truyện, có chép truyện Hà Bá lấy vợ, tóm tắt như sau: Thời Ngụy Vân Hầu, Tây Môn Báo người nước Ngụy, sống vào thời Chiến Quốc, rất thanh liêm, chính trực, lo cho dân.

Tương truyền, có lần ông được cử làm huyện lệnh ở đất Nghiệp, thấy dân khổ sở nên mới tìm đến các vị trưởng lão để hỏi duyên cớ. Trưởng lão trả lời : “Khổ vì chuyện Hà Bá lấy vợ nên dân nghèo “. Trưởng lão giải thích thêm: Quan Tam Lão (chức quan ngày xưa coi việc giáo huấn trong làng) thu thuế trích ra mấy mươi vạn cưới vợ cho Hà Bá, còn lại giao cho ông đồng bà cốt chia nhau bỏ túi. Các bà đồng cốt, bói toán lên đồng nói rằng ở dưới sông có thần Hà Bá, mỗi năm lấy một bà vợ đẹp, nếu không, Thần sẽ nổi giận, làm nước sông dâng lên, mùa màng hư hại, người chết, nhà cửa tiêu tan. Do đó, bọn đồng cốt đi khắp trong xứ, thấy con gái đẹp là dọa bắt đem về gả cho thần Hà Bá. Ai có tiền chuộc thì khỏi. Ai không có tiền chuộc thì chịu. Tây Môn Báo nói khi nào làm lễ cưới vợ cho Hà Bá, báo cho ông biết để dự và mời Tam Lão đến cùng để đưa dâu. Đến ngày đưa dâu, có mặt Tây Mô Báo, Tam Lão và các bà cốt. Một lát, có tiếng reo hò báo cho biết người con gái sắp làm vợ Hà Bá đến. Tây Môn Báo nhìn mặt người con gái, giả bộ chê xấu, Ông nói người con gái này không đẹp, phiền bà cốt xuống sông báo cho Hà Bá biết, đợi tìm người đẹp, hôm khác sẽ đưa dâu. Nói xong, ông ra lệnh quân lính bắt một bà cốt liệng xuống sông. Đợi một lát sau, ông nói sao bà cốt xuống dưới lâu thế. Lại sai quân khiêng ba tên đệ tử của bà cốt ném xuống sông, bảo xuống giục bà cốt về. Sau đó, không thấy ai từ dưới sông lên, ông sai khiêng một Tam lão ném tiếp xuống sông để hỏi rõ sự tình. Ông lại ngỏ ý muốn sai một người thuộc hàng trưởng lão xuống sông để nắm đầu đuôi câu chuyện. Các ông này mặt mày tái mét, vội vàng quỳ xuống giập đầu van xin, sắc mặt xanh xám như tro, sẵn sàng chịu tội. Quan, dân, bà cốt đất Nghiệp từ đó vô cùng khiếp sợ, nên về sau không ai dám nói đến chuyện Hà Bá lấy vợ nữa [2] .

Sau khi tóm tắt xong cốt chuyện, tôi bảo học trò “nối điêu”. Tôi bảo nếu em là Tây Môn Báo thì em dùng cách gì để trừ nạn mê tín dị đoan kể trên. Nghĩa là Tây Môn Báo làm cách gì cho Hà Bá không còn lấy vợ nữa để cho những người con gái xinh đẹp không bị chết oan.

Thế là học trò tôi ... “nối điêu”. Khi chấm bài, tôi thấy một số học sinh có óc tưởng tượng rất phong phú.

Có em kể rằng Tây Môn Báo liệng một bà đồng xuống sông mời Hà Bá lên nhận vợ. Lâu quá, không thấy lên, Tây Môn Báo nói như thế là Hà Bá không muốn cưới vợ nữa.

Có em kể rằng Tây Môn Báo đêm trước cho người lặn giỏi vẽ mặt mày vằn vện, hung ác núp dưới nước trong khóm tre um tùm nào đó, đến khi có lệnh của Tây Môn Báo, người đó từ dưới sông vọt lên la to : “ Ta không muốn cưới vợ nữa” rồi lặn xuống.

Có em kể rằng Tây Môn Báo dùng chất nổ cho nổ dưới sông và nói rằng Trời cho Thiên Lôi xuống đánh chết Hà Bá rồi, kể từ nay không đưa cô gái nào cho Hà Bá lấy vợ nữa.

V...v...

Với phương pháp này, giờ Văn trở thành sinh động hứng thú hơn.

NVB.

 


[1] Đào Duy Anh, Tự điển Truyện Kiều, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1974.

[2] Tư Mã Thiên, Sử ký Tư Mã Thiên, bản dịch của Nhữ Thành, NXB. Văn học, Hà Nội, 1988, trg.796.

 

Bài liên quan