QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

VÕ TÁNH CÓ ĐƯỢC CẢI THEO HỌ CHÚA NGUYỄN KHÔNG?

Mộ Võ Tánh ở Bình Định

Tạp chí Nha Trang số Xuân Quý Tỵ - 2013 từ trang 136-142 có bài viết : “Ngày xuân kể chuyện Khánh Hòa xưa” của tác giả Nguyễn Viết Trung, ở phần “Các đời quan trấn thủ ở Khánh Hòa xưa” ghi: “ – 1799/ Nguyễn Văn Tánh: Tên thật là Võ Tánh, do có công nên được cải theo họ chúa Nguyễn. Theo ĐNTLTB, năm Kỷ Mùi (1799) Lưu thủ Bình Khang là Nguyễn Thoan mất sai Lưu Tiến Hòa thay, giao Nguyễn Văn Tánh làm Lưu thủ Diên Khánh, Đặng Trần Thường làm Hiệp trấn. Sau thăng Nguyễn Văn Tánh làm Chưởng dinh, làm Án trấn Diên Khánh, kiêm quản Bình Khang, Bình Thuận. Ông mất năm 1801 trong lúc cố thủ ở thành Bình Định”.

Thú thật khi đọc xong đoạn này, tôi thấy tác giả hình như “lấy râu ông này cắm cằm bà nọ” . Lâu nay tôi đọc sử sách viết về Võ Tánh chưa bao giờ thấy : “Võ Tánh, do có công nên được cải theo họ chúa Nguyễn”. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi gặp như vậy. Để chắc chắn  tôi lần giở sách Đại Nam thực lục chính biên; Đại Nam liệt truyện; Đại Nam nhất thống chí xem có đúng như tác giả Nguyễn Viết Trung viết không?

1- Bộ sách Đại Nam thực lục                                       

Quốc sử quán triều Nguyễn soạn bộ sách Đại Nam thực lục và bộ sách này chia làm hai phần : Đại Nam thực lục tiền biên (ĐNTLTB) và Đại Nam thực lục chính biên (ĐNTLCB). Phần Tiền Biên ghi chép về các chúa Nguyễn , bắt đầu từ năm Mậu Ngọ (1558) cho đến năm Đinh Dậu (1777). Phần Chính Biên chép về các vua triều Nguyễn và được chia thành nhiều “kỷ”. Đệ nhất kỷ chép về vua Gia Long, bắt đầu từ năm Mậu Tuất (1778) và kết thúc vào năm Kỷ Mão (1819).

Như vậy sự việc xảy ra trong năm 1799 mà tác giả Nguyễn Viết Trung ghi là : “Theo ĐNTLTB” là không đúng.

2- Nhân vật Võ Tánh – Nguyễn Văn Tánh

Theo như các sách do Quốc sử quán triều Nguyễn soạn thì Võ Tánh không hề cải họ theo họ chúa Nguyễn. Võ Tánh và Nguyễn Văn Tánh là hai nhân vật khác nhau, cả hai đều là tướng của Nguyễn vương Phúc Ánh .

a – Võ Tánh

Võ Tánh người huyện Phước An- Biên Hòa, sau dời về huyện Bình Dương- Gia Định. Tháng 9 năm Giáp Dần (1794): “Vua đem quân về Gia Định, để Chưởng Hậu quân Võ Tánh ở lại trấn thành Diên Khánh”.

Tháng 9 năm Kỷ Mùi (1799) : “Sai Chưởng Hậu quân Võ Tánh, hiệp cùng Lễ bộ Ngô Tùng Châu lưu trấn thành Bình Định”

Võ Tánh đã tử tiết tại thành Bình Định ngày 27/05 năm Tân Dậu (1801) (1)

b – Nguyễn Văn Tánh

Nguyễn Văn Tánh người huyện Long Thành – Biên Hòa. Tháng 11 năm Quý Sửu (1793), ông được đặt làm Lưu thủ Bình Thuận.

Tháng 11 nhuận năm Giáp Dần (1794): “Sai Lưu thủ Bình Thuận là Nguyễn Văn Tánh đem quân Kiến võ đi Diên Khánh theo Võ Tánh sai khiến”.

Cũng trong tháng 9 năm Kỷ Mùi (1799) vua dừng chân ở thành Diên Khánh: “Lấy Quản dinh tiên phong Nguyễn Văn Tánh quản suất tướng sĩ bản dinh, hiệp cùng Tán lý binh vụ Đặng Trần Thường lưu trấn thành ấy”. (2)

Như vậy tướng Nguyễn Văn Tánh làm Lưu trấn thành Diên Khánh chứ không phải Lưu thủ như tác giả viết.

3- Các quan cai quản  dinh Bình Khang và thành Diên Khánh trong những năm đầu sau khi quân Nguyễn vương Phúc Ánh chiếm lại từ tay nhà Tây Sơn.

Sau khi chiếm lại vùng đất dinh Bình Khang (vùng đất Khánh Hòa ngày nay), Nguyễn vương Phúc Ánh đã đặt ở vùng đất này hai loại quan : 

- Quan công đường coi về mặt hành chánh. Đứng đầu quan công đường là bộ ba : Lưu thủ; Cai bạ ; Ký lục.

- Quan coi về quân sự gọi là Lưu trấn (trấn giữ thành Diên Khánh).

Chúng ta cần phân biệt rõ giữa hai chức quan Lưu thủ và Lưu trấn. Chức quan Lưu thủ coi về hành chánh. Chức quan Lưu trấn coi về quân sự.

a - Các quan công đường dinh Bình Khang.

Sau khi chiếm lại vùng đất dinh Bình Khang từ tay nhà Tây Sơn , vào tháng 5 năm Quý Sửu (1793) Nguyễn vương Phúc Ánh: “Đặt quan công đường dinh Bình Khang, lấy Quản Hậu thủy dinh là Nguyễn Thoan làm Lưu thủ, Hình bộ Tham tri Lê Đăng Khoa làm Cai bạ, Hàn lâm viện Đặng Hữu Đào làm Ký lục” (3).

Tháng 8 năm Quý Sửu (1793): “Triệu Tham tri Hình bộ hành Cai bạ Bình Khang Lê Đăng Khoa đến hành tại. Lấy Cai bạ Phú Yên là Nguyễn Y Mân làm Cai bạ Bình Khang” (4).

Tháng 11 năm Giáp Dần (1794): “Cai bạ Bình Khang Nguyễn Y Mân, Ký lục là Đặng Hữu Đào, vì gạo kho mất hơn 2000 phương mà không xét ra, đều bị bãi chức. Lấy Cai bạ Trấn Biên là Ngũ Khắc Bạn làm Cai bạ Bình Khang, Ký lục Trấn Định là Hoàng Tú Chung làm Ký lục Bình Khang” (5).

Tháng 7 năm Ất Mão (1795) : “Cai bạ Bình Khang là Ngũ Khắc Bạn và Ký lục Hoàng Tú Chung đều bị bệnh chết. Lại lấy Nguyễn Y Mân làm Cai bạ Bình Khang, Đặng Hữu Đào làm Ký lục” (6).

Tháng 9 năm Kỷ Mùi (1799): “Lưu thủ Bình Khang Nguyễn Thoan chết. Lấy Khâm sai Cai cơ chánh trưởng chi Tiền chi Tráng võ dinh tiên phong là Lưu Tiến Hòa làm Lưu thủ Bình Khang” (7).

Tháng 6 năm Canh Thân (1800): “Lưu thủ Bình Khang là Lưu Tiến Hòa thấy thành Diên Khánh không việc gì, dâng biểu xin đem 500 hương binh theo đánh giặc. Vua y lời. Lấy Lưu thủ Bình Thuận là Võ Văn Lân đến thay” (8).

Tháng giêng năm Tân Dậu (1801): “Sai Lưu Tiến Hòa trở về Bình Khang, Võ Văn Lân trở về Bình Thuận điều hành việc Lưu thủ như cũ” (9).

Tháng 3 năm Tân Dậu : “Lưu thủ Phú Yên là Phạm Tiến Tuân ốm; sai Lưu thủ Bình Khang là Lưu Tiến Hòa đem quân bản dinh đến giữ bảo Hội An, kiêm quản công việc binh dân ở Phú Yên” (10).

Tháng 4 năm Tân Dậu (1801): “Lấy Khâm sai Cai cơ  Lê Văn Vạn làm Lưu thủ Bình Khang” (11).

Tháng 6 năm Tân Dậu (1801): “Triệu Cai bạ Bình Khang Hoàng Ngọc Uẩn về kinh để điều dụng” (12).

Tháng 7 năm Nhâm Tuất (1802): “Lấy Thư ký Nguyễn Văn Ngữ làm Cai bạ Bình Khang” (13).

b - Các quan Lưu trấn thành Diên Khánh.

Các quan Lưu trấn thành Diên Khánh  đều là tướng giỏi của Nguyễn vương Phúc Ánh

Tháng 9 năm Quý Sửu (1793) đắp thành Diên Khánh xong, sai tướng Nguyễn Văn Thành làm Lưu trấn đầu tiên thành Diên Khánh (14)

Tháng 11 năm Quý Sửu (1793): Triệu Nguyễn Văn Thành về. Sai Đông cung Nguyên soái Cảnh quận công trấn thành Diên Khánh, cho Bá Đa Lộc và bọn thị học đi theo(15).

Tháng 9 năm Giáp Dần (1794) cho Đông cung Cảnh về lại Gia Định, để Chưởng Hậu quân Võ Tánh ở lại trấn thành Diên Khánh (16).

Tháng 8 năm Ất Mão (1795): “Chưởng Tiền quân Tôn Thất Hội ở lại trấn thành Diên Khánh thay Chưởng Hậu quân Võ Tánh” (17).

Tháng 6 năm Bính Thìn (1796): “Triệu Tôn Thất Hội về, sai Chưởng Hữu quân Nguyễn Hoàng Đức thay trấn thành Diên Khánh” (18).

Tháng 8 năm Đinh Tỵ (1797) trao cho tướng Nguyễn Văn Thành làm Lưu trấn thành Diên Khánh, Tán lý Đặng Trần Thường hiệp đồng Lưu trấn để trù biện việc quân (19)

Tháng 7 năm Mậu Ngọ (1798): “Triệu Lưu trấn Diên Khánh  Nguyễn Văn Thành về Gia Định thương nghị việc binh. Sai Lê Văn Duyệt kiêm quản tướng sĩ dinh Tiên phong, hiệp cùng Đặng Trần Thường tạm trấn Diên Khánh, hơn một tháng thì Thành ra trấn, lại gọi Duyệt về” (20).

Tháng 10 năm Mậu Ngọ (1798) triệu Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường về, sai Đông cung Cảnh ra trấn giữ Diên Khánh, cho Bá Đa Lộc đi theo (21).

Tháng 9 năm Kỷ Mùi (1799): “Lấy Quản dinh Tiên phong Nguyễn Văn Tánh quản suất tướng sĩ bản dinh, hiệp cùng Tán lý Binh vụ Đặng Trần Thường lưu trấn thành Diên Khánh” (22).

Tháng giêng năm Canh Thân (1800) sai tướng Nguyễn Văn Trương ra Lưu trấn Diên Khánh (23).

Tháng 4 nhuận năm Canh Thân (1800) sai Hoàng tử thứ hai là Hy, lưu trấn Diên Khánh (24).

Tháng 5 năm Canh Thân (1800) triệu Hoàng tử thứ hai là Hy đem quân sở bộ tiến đóng bảo Hội An, ủy cho quan công đường dinh Bình Khang là bọn Lưu Tiến Hòa giữ thành Diên Khánh (25).

Kể từ đây quan công đường dinh Bình Khang kiêm luôn việc lưu trấn thành Diên Khánh

Mộ Ngô Tùng Châu (trái) và mộ Võ Tánh ở bình Định

c – Chức Án trấn thành Diên Khánh

Đến tháng 4 năm Nhâm Tuất (1802) tướng Nguyễn Văn Thành dâng sớ nói: “… Lại chín phủ từ Bình Thuận đến Bố Chánh (Diên Khánh, Bình Khang, Phú Yên, Quy Nhơn, Quảng Ngãi, Điện Bàn, Thăng Hoa, Triệu Phong, Quảng Bình) và một châu (Bố Chánh), dẫu đã đặt quan công đường mà chưa đặt binh vệ. Dinh thần chỉ coi việc dân, chợt có sự biến phải đợi triều đình điều động quân nơi khác đến, lâm cơ ứng việc sợ không nhanh chóng, Nay sắp có việc Bắc phạt, xin hạ lệnh cho các dinh đều đặt tinh binh coi giữ và ở nơi quan trọng thì cho đại thần trấn trị mà kiêm lãnh dinh khác, khiến cho cánh tay và ngón tay giúp đỡ lẫn nhau, khi hoãn khi cấp đều sẳn sàng cả, như thế ngõ hầu không phải lo bề trong nữa”. Vua khen lời ấy phải (26).

Do đó vào tháng 7 năm Nhâm Tuất (1802) nhà vua : “Lấy Quản Dinh tiên phong là Nguyễn Văn Tánh làm Chưởng dinh hành chức Án trấn thành Diên Khánh (27). Bây giờ không còn gọi là Lưu trấn mà gọi là Án trấn.

Tháng 9 năm Giáp Tý (1804) triệu Án trấn Diên Khánh là Nguyễn Văn Tánh về kinh, rồi cho về lại Diên Khánh (28).

Năm Gia Long thứ 4 (1805) Nguyễn Văn Tánh chết ở nơi làm quan (29). Vậy tướng Nguyễn Văn Tánh đã hai lần trấn thành Diên Khánh : một lần đảm nhận chức Lưu trấn thành Diên Khánh; một lần đảm nhận chức Án trấn.

Tháng 4 năm Đinh Mão (1807) bãi bỏ chức Án trấn thành Diên Khánh (30).

Đối với các nhà nghiên cứu khi viết về lịch sử cần phải cẩn trọng, vì khi đưa ra những thông tin sai lạc sẽ kéo theo rất  nhiều độc giả cũng lầm lạc như vậy!

 

Nguyễn Văn Nghệ

Tổ dân phố Phú Lộc Tây 1

Thị trấn Diên Khánh – Khánh Hòa

 

Chú thích:

1- Đại Nam liệt truyện tập 2, Nxb Thuận Hóa – Huế, 1993, trg 92 – 103.

- Đại Nam nhất thống chí tập 5. Nxb Thuận Hóa , trg 238.

2-Đại Nam liệt truyện tập 2 , Nxb Thuận Hóa – Huế, 1993,  trg  226-228

- Đại Nam nhất thống chí tập 5 , Nxb Thuận Hóa , trg 82

3- Đại Nam thực lục tập 1 , Nxb Giáo dục, trg 293

4-Đại Nam thực lục tập 1 , trg 298.

5- Đại Nam thực lục tập 1 , trg 313

6- Đại Nam thực lục tập 1, trg 326

7- Đại Nam thực lục tập 1 , trg 397. Nguyễn Thoan còn gọi là Nguyễn Suyền. Mộ ông hiện nằm sau lưng Trường Phổ thông Trung học Hoàng Hoa Thám (Cơ sở 2)

8- Đại Nam thực lục tập 1, trg 415

9- Đại Nam thực lục tập 1, trg 430

10- Đại Nam thực lục tập 1, trg 434

11- Đại Nam thực lục tập 1 , trg 438

12- Đại Nam thực lục tập 1, trg 454

13- Đại Nam thực lục tập 1 , trg 509. Mộ Cai bạ Nguyễn Văn Ngữ  nằm tại cánh đồng Lăng , làng Đại Điền Tây , xã Diên Sơn

14- Đại Nam thực lục tập 1 , trg 299; 301

15-Đại Nam thực lục tập 1 , trg 302

16- Đại Nam thực lục tập 1, trg 311

17- Đại Nam thực lục tập 1, trg 326

18- Đại Nam thực lục tập 1 ,trg 337

19- Đại Nam thực lục tập 1 , trg  357

20- Đại Nam thực lục tập 1 , trg 370

21- Đại Nam thực lục tập 1 , trg 372

22- Đại Nam thực lục tập 1, trg 397

23- Đại Nam thực lục tập 1 , trg 406

24- Đại Nam thực lục tập 1, trg 410

25- Đại Nam thực lục tập 1, trg 414

26- Đại Nam thực lục tập 1, trg 489

27- Đại Nam thực lục tập 1, trg 509

28- Đại Nam thực lục tập 1 , trg 616

29-Đại Nam liệt truyện  tập 2, trg  228

30- Đại Nam thực lục tập 1 , trg 698.