QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

 

 

 

CHUYỆN NGƯ DÂN BIỂN ĐẢO KHÁNH HÒA

Ngô Văn Ban

1.

Những làng chài ven bờ biển Khánh Hòa đã có 3 – 4 ngàn năm nay. Cư dân từ xưa đến nay sống đối mặt với biển, coi biển là nguồn sống của mình. Biển cùng với rừng núi bên cạnh trong đất liền là nguồn cung cấp lương thực cho cư dân. Cư dân từ ngàn xưa cũng đã biết chế tạo ra những công cụ lao động, vật dụng và cả những đồ trang sức để làm đẹp cho mình. Tuy biển cả đầy hiểm nguy, nhưng ngư dân vẫn bám biển để mưu sinh, đánh bắt hải sản không những cung cấp cho gia đình mà còn cung cấp cho cư dân các vùng nông thân, thị thành trong tỉnh và sau này xuất khẩu đến một số nước trên thế giới. Biển Khánh Hòa với những sản vật phong phú, đủ loại cá tôm, là vùng biển có nhiều yến sào, hải sâm là những thức ăn cực kỳ bổ dưỡng. Người Khánh Hòa cũng biết chế biến những loại hải sản đánh bắt được thành những món ăn ngon, bổ, đầy màu sắc, hương vị hấp dẫn.

Về tín ngưỡng, ngư dân Khánh Hòa hầu hết theo đạo thờ cúng ông bà, tổ tiên. Họ rất coi trọng việc thờ cúng các vị thần hữu hình, vô hình của biển cả, nhất là việc thờ cúng cá voi được gọi là Ông Nam Hải. Những lăng, đình thờ Ông Bà Nam Hải cùng các vị thần linh khác được xây dựng khắp các làng chài, những miếu thờ trên các đảo, với những lễ nghi hội hè độc đáo, nổi bật là lễ hội Cầu Ngư, múa hát bá trạo, tục thờ Bà Lỗ Lường, lễ hội Yến sào ... biểu lộ rõ lòng thành kính, bày tỏ lòng biết ơn, niềm tin tưởng tuyệt đối của ngư dân, để cầu mong được phù hộ cho cuộc sống an lành trên đất liền cũng như trên biển cả, mùa đánh bắt thu hoạch nhiều cá tôm ... Lễ hội cũng là dịp để ngư dân giải trí, sinh hoạt văn hóa, thưởng thức nghệ thuật, bù đắp những ngày lao động vất vả, hiểm nguy, lẻ loi trên biển cả.

Sống với biển cả, ngư dân cũng biết ứng xử với biển cả, với các vị thần linh, với những luật lệ làng chài .... nhưng sau này, việc đánh bắt khó khăn, nhất là việc đánh bắt xa bờ ngày càng khó khăn nên việc đánh bắt gần bờ đã làm cho biển, đầm, vịnh ngày càng cạn kiệt. Tuy ngày nay nhà nước có hổ trợ vốn cho việc đánh bắt xa bờ, nhưng số lượng tàu thuyền thực hiện đi đánh bắt không nhiều.

Thêm vào đó, nhiều nơi, việc nuôi tôm cá ... bằng bè, lồng cũng gây nhiều cho việc ô nhiễm môi trường.

Cuộc sống tinh thần, tín ngưỡng cũng như đời sống vật chất, nghề nghiệp của ngư dân cần được quan tâm, nghiên cứu, bảo tồn, phát triển và có những ứng xử phù hợp.

2.

Chuyện ăn uống của cư dân ven biền đảo Khánh Hòa từ thuở xa xưa...

Không phải đến năm 1653 dười đời Chúa Nguyễn Phúc Tần vùng đất Khánh Hòa thuộc về  Đại Việt, cư dân vùng ngoài mới vào sinh sống mà trước đó, hàng ngàn năm, tại bản địa đã có những cộng đồng người cư trú, sinh hoạt, lao động. Qua những di chỉ khảo cổ những vùng ven biển Khánh Hòa đã chứng minh điều đó.

Xét về phương diện ẩm thực, cư dân vùng ven biển đảo của tỉnh Khánh Hòa từ xưa đến nay chủ yếu sống dựa vào sản vật của biển. Lại có những vùng liền kề với những vạt rừng chân núi, gần nguồn nước ngọt và cũng chính nơi đây là nguồn cung cấp thức ăn dồi dào cùng với biển cả cho cư dân cổ xưa cũng như ngày nay.

Qua những di chỉ khảo cổ vùng đất Khánh Hòa cách đây ba bốn ngàn năm, ta có thể xác định được nguồn sống của họ là những sản vật của biển, họ biết sống dựa vào biển, vươn ra biển để kiếm tìm nguồn thức ăn để sống. Tại các hố khai quật ven biển, hố nào cũng có những di tích của bếp và các phế phẩm còn lưu lại rất rõ, nhiều đến nỗi để lại thành đống rác bếp trong các di chỉ. Sản vật của biển trong khẩu phần ăn hàng ngày của cư dân cổ còn lưu lại trong di chỉ những phế phẩm là sò, vẹm, ốc, cá, rùa ... cùng xương của những động vật ăn cỏ, thú rừng nhỏ ...

Như tại di chỉ Xóm Cồn thuộc khóm II, phường Cam Linh, TP Cam Ranh là một vùng gò cao nằm sát thềm biển, qua vài lần khai quật vào những năm 1980, 1991, những di vật thu được là những công cụ không những được chế tác bằng đá mà còn có những công cụ chế tác từ xương động vật. “Khối lượng vỏ nhuyễn thể và tàn tích xương răng động vật trong di chỉ Xóm Cồn thể hiện với mật độ lớn “(...).”Có 3 loại hình công cụ được chế tác từ xương động vật và vỏ nhuyễn thể...” (1) . Như vậy, ngoài việc khai thác thức ăn từ các loại nhuyễn thể nước mặn như ốc, sò, cá, rùa ..., cư dân Xóm Cồn còn khai thác thức ăn từ nguồn động vật. Các dấu tích xương răng động vật tại di chỉ cho thấy, cư dân cổ Xóm Cồn là ”các loài sống trên cạn chủ yếu là các loài thú lớn ăn cỏ và bò sát, rất hiếm những loài thú lớn ăn thịt “ (2). Đây là những di tích có trên dưới 4.000 năm cách ngày nay.

Tại TP Cam Ranh, thôn Hòa Diêm thuôc xã Cam Thịnh Đông, cách bờ biển Cam Ranh khoảng 500m về phía tây, cũng là nơi các nhà khảo cổ  cũng đã tìm thấy những công cụ làm bằng xương thú và những vỏ các loài nhuyễn thể có niên đại cách đây trên dưới 2.000 năm.

Tại huyện Cam Lâm, tại di tích Văn Tứ Đông thuộc xã Cam Hòa, cách bờ biển khoảng 2km “có cấu trúc chủ yếu là sò điệp, những sản phẩm của con người thải qua sau khi bắt về ăn” (3). Đồ xương thu được tại di chỉ này chiếm một tỷ lệ cao, phần lớn là xương ống động vật của các loài thú lớn và xương vây cá. Đặc biệt tại di chỉ này các vỏ sò ốc xuất hiện nhiều “chúng bao gồm các loại : Điệp gương, sò, hàu, ngao, ốc nhảy, ốc mặt trăng, ốc vụ, ốc nhớt, ốc ngựa, tê tê, xút, ốc xa cừ, ốc gai, vộp, hến tím, ốc len, sò lông, ốc cối và ốc ngọt Li-nê” (4). Các nhà khảo cổ, từ đó có nhận định cư dân cổ sống ở đây có điều kiện thuận lợi cho việc khai thác nguồn thức ăn chính như thú rừng, rau cỏ, sò, điệp, ốc ... và khai thác nhiều nhất là các loài nhuyễn thể biển, những loài cá nhỏ... (5)  .

Tại di chỉ Vĩnh Yên, nằm ở thôn Vĩnh Yên, xã Vạn Thạnh, huyện Vạn Ninh, trong khu vực bán đảo Hòn Gốm thuộc vịnh Vân Phong nhiều di vật vỏ nhuyễn thể như hàu, ốc nhảy, ốc tai tượng, ốc mặt trăng, ốc ngựa, ốc len, xút, vộp, sò ... là những tàn tích thức ăn của cư dân cổ thời đó vào khoảng niên đại 2.500 – 2.000 năm trước Công nguyên (6) .

Tóm lại, qua những di tích khảo cổ một số khu vực gần vùng biển Khánh Hòa, cư dân các làng chài cổ xưa đã sử dụng những sản vật của biển làm nguồn thức ăn chính mà tàn tích ngày nay còn sót lại trong các hố được khai quật.

Ngày nay, các cư dân vùng ven biển trong tỉnh Khánh Hòa ngoài những sản vật từ đồng ruộng, núi rừng cung cấp cho cuộc sống của họ, họ vẫn còn sống bằng sản vật của biển mà họ đánh bắt được, nuôi trồng được, nhưng sản vật biển đó dồi dào, phong phú hơn thời kỳ cổ sơ. Đó là nhờ phương thức đánh bắt ngày càng hiện đại, đánh bắt xa bờ hơn, lại thêm việc nuôi trồng có kỹ thuật trên các vùng biển ven bờ. Sản vật biển không những cung cấp cho sự sống của ngư dân mà còn phân phối các chợ, các nhà hàng, quán ăn, xuất ra tỉnh ngoài và cả nước ngoài. 

3.

Chuyện ứng xử của ngư dân biển đảo Khánh Hòa đối với biển :

Ngư dân sống ở các vạn chài ven biển luôn đối mặt với biển. Cuộc sống với biển tuy có nhiều bất trắc, e ngại, nhưng môi trường buộc họ phải thích ứng và có những ứng xử phù hợp. Rồi cuộc sống càng ngày càng hòa nhập với biển, gắn liền mật thiết với biển suốt cả một đời người, khiến họ có những linh hoạt hơn trong thế ứng xử với thiên nhiên. Biển không những là nguồn sống của họ, mà còn là nơi họ gửi gấm biết bao tâm tư tình cảm của cá nhân, lẫn cộng đồng.

Ứng xử của con người với biển đối với mội trường thiên nhiên thể hiện rất rõ trong các lĩnh vực, như khai thác, đánh bắt, nuôi trồng, chế biến.

Như trong lĩnh vực khai thác thủy sản là nghành kinh tế mũi nhọn không những của tỉnh mà còn cả toàn quốc. Tuy nhiên, việc phát triển tàu thuyền lại không tương xứng với sản lượng đánh bắt. Sự phát triển thiếu tương xứng giữa công suất đánh bắt và sản lượng khai thác cho thấy nghề khai thác hải sản của chúng ta vẫn mang nặng tính chất nghề cá quy mô nhỏ. Các tàu công suất nhỏ hơn 90CV chiếm 84%, ngư trường hoạt động chủ yếu là vùng ven bờ, vì vậy vùng ven bờ đang bị khai thác quá mức, nguy cơ cạn kiệt. Ngư dân cạnh tranh trong khai thác hải sản vùng ven bờ ngày càng ráo riết, làm cho nguồn lợi hải sản bị suy kiệt nhanh chóng đã ảnh hưởng đến nghề khai thác cá xa bờ.

Từ đó, năng suất khai thác bị giảm sút cả ở vùng ven bờ và xa bờ. Các hoạt động khai thác bị thua lỗ. Khi bị thua lỗ, nhưng vẫn phải khai thác, bám nghề để mưu sinh, thế là ngư dân dùng mọi biện pháp để đánh bắt như giảm kích thước mắt lưới (mắt lưới thu hẹp lại để bắt những loại cá nhỏ), tăng cường độ khai thác, đánh bắt vào cả những vùng cấm, sử dụng cả những biện pháp khai thác có hại như chất nổ, xung điện, chất độc, đánh bắt tất cả các cỡ cá, kể cả những đàn cá non tuổi... sức ép khai thác ở các vùng nước ven bờ càng trở nên trầm trọng ...   Việc tập trung số lượng lớn khai thác ven bờ, bằng mọi thủ đoạn  đã ảnh hưởng đến việc duy trì, tái tạo nguồn lợi thủy sản, là ứng xử nghề cá thiếu trách nhiệm.

Vì thế, cần phải giảm tàu khai thác ven bờ, để tăng cường tàu công suất lớn đánh bắt xa bờ. Tuy nhiên, không thể phát triển khai thác xa bờ nếu nguồn lợi vùng ven bờ vẫn tiếp tục bị đánh bắt quá mức. Vì vậy cần phải có chính sách, hỗ trợ của Nhà nước để giải quyết đồng thời hai vấn đề trên. Không chỉ điều chỉnh về cơ cấu, quy hoạch nghề khai thác cá, mà cần áp dụng những quy tắc ứng xử về đánh cá có trách nhiệm như: thả các rạn san hô nhân tạo, lập các khu bảo tồn, quy định các khu vực cấm đánh bắt, cấm và hạn chế tác dụng xấu của các ngư cụ có hại, các biện pháp khai thác hủy diệt.

Bên cạnh đó, cần thông qua mô hình quản lý cộng đồng để giáo dục và quản lý người dân chấp hành và tự nguyện chấp hành các quy định bảo vệ nguồn lợi biển.

Trong thực tế hiện nay, việc chuyển đổi đánh bắt từ gần bờ thành xa bờ gặp phải nhiều khó khăn như ngư dân không có vốn để đóng tàu công suất lớn, giá nhiên liệu ngày càng tăng, chi phí tăng, giá hải sản thấp... trình độ nhận thức thấp, quen điều kiện khai thác gần bờ … nên dẫn đến lỗ vốn, nhiều ngư dân lại chuyển sang đánh bắt gần bờ.  Cái vòng luẩn quẩn cứ kéo dài …

Việc nuôi trồng thủy sản ở ven bờ như ở Vạn Ninh, Nha Trang, Cam Ranh …, có nơi người nuôi trồng không giữ được môi trường trong sạch, dẫn đến cá tôm bị bệnh, bị chết…

Trong việc ứng xử với biển, ngư dân còn cần trang bị những hiểu biết về kỹ năng phòng tránh bão và tai nạn trên biển, những hiểu biết về các quy luật, sự hình thành và diễn biến của các cơn bão trên biển Đông, sự phức tạp khó dự đoán của những cơn bão trái quy luật, những hiểu biết về quy tắc phân bố luồng gió, phân bố sóng, phân chia vùng báo bão, phương pháp xác định vị trí tàu, cách tìm vùng an toàn trong cơn bão… để đưa tàu tránh xa tâm nguy hiểm của bão. Ngoài ra, ngư dân còn phải biết cách phòng tránh tai nạn trên biển do thiên tai gây ra như: sét đánh, vòi rồng…

Biển - thứ tài nguyên vô giá, vậy mà lâu nay, chúng ta đã đối xử với biển một cách thô bạo, để rồi hậu quả, những gì biển trả lại con người còn dữ dội hơn nhiều. Đã đến lúc, chúng ta phải ứng xử với biển một cách có văn hóa, có trách nhiệm

 Ngô Văn Ban

Bài liên quan