QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Tác Giả

Võ Triều Dương

Tác Phẩm

* Chuyện Thầy Đồ Ninh Hòa

* Non nước xứ Đồng Hương 1, 2, 3

 * Hương sắc xuân xưa Ninh Hòa

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hương sắc xuân xưa Ninh Hòa

Võ Triều Dương

(Hội viên Hội VHNT Khánh Hòa. Ông hiện sống ở thôn Tân Tứ, xã Ninh Thượng, huyện Ninh Hòa, làm ruộng và viết biên khảo về văn hóa - lịch sử địa phương.)

Chúa xuân có từ vô thuỷ đến vô chung, ý xuân không thay đổi, chỉ tuỳ theo mỗi thời kỳ của xã hội mà hương sắc đổi thay. Một số nề nếp xuân xưa ngày nay đã mất hẳn, nếu còn cũng chỉ mờ nhạt rồi cũng lui dần vào quá khứ. Hằng năm mỗi dịp xuân về, hoa đào hoa mai đua nở, người dân cố cựu Ninh Hoà như thấy thiếu vắng một số hình ảnh quen thuộc trong ngày tết cổ truyền dân tộc, trước đây đã từng tồn tại qua nhiều thế kỷ.

Trước thềm năm mới chào đón chúa xuân, lớp người cao tuổi ít nhiều gì cũng cảm thấy hụt hẫng, khi nhớ lại cây nêu trồng trước sân, tiếng trống làng đón xuân khoan thai thúc lên từng hồi, những câu đối dán lên cột nhà và những sinh hoạt diễn ra trong thời điểm trước và trong ngày tết.

Ở Ninh Hoà các thứ ấy là tinh tuý của quê hương, chỉ qua bao cơn gió bụi, thoát một cái đã bay vèo vào quên lãng. Viết những trang này để ghi dấu lại cho mai sau.

Đến nửa tháng chạp người người nhà nhà đều chộn rộn lo việc tết nhứt. Trẻ nhỏ trông ngắn trông dài cho mau tới tết, người lớn càng lo đủ lo thiếu lễ vật đón xuân. Bắt đầu rằm tháng chạp hầu hết các làng quê Ninh Hoà nhà nào cũng lo chế biến rim mứt bí đao, mứt gừng, mứt khoai lang, mứt dừa v.v… Thời xưa đó chỉ ở vùng biển ngư dân mới mua mứt bán sẵn dưới chợ, chứ dân nhà quê thì không. Dù giàu hay nghèo, nhà nào cũng tự chế biến các món ăn ngày tết. Ngoài trừ đường cát, các thứ trái, củ…làm mứt không phải mua mà nhà nào cũng gieo trồng dự bị sẵn.

Người ta dùng cây xăm mua dưới chợ Ninh Hoà xăm các thứ bí đao, gừng hay gọt xắt khoai lang, ruột dừa khô… Sau nhiều công đọan tỉ mỉ sẽ thành rim mứt. So với sản phẩm bán ở chợ ngày nay thì rim mứt của người Ninh Hoà ngày xưa làm ra không bắt mắt nhưng chất lượng lại tuyệt hảo. Món nào ăn cũng ngon cũng thơm không hề có một chất gì độc hại. Ở làng quê Ninh Hoà thời ấy ngày xuân nhà nào cũng nấu xôi chè trộn với gừng và in cốm nếp. Những nồi bánh tét được nấu chín trước đêm giao thừa, ngọn lửa cháy bập bùng, nước trong nồi bánh sôi sùng sục, có những đứa nhỏ cố thức mắt nhắm mắt mở chờ cha mẹ vớt cho đòn bánh tét con con, để sáng mai mùng một tết mặc áo quần mới cầm đòn bánh tét mừng tuổi cha mẹ anh chị. Một không khí đầm ấm đặc sắc tình quê làm sao.

Những món ăn phụ được làm sẵn qua ngày 23 tháng chạp. Thời đó ở làng quê Ninh Hoà nhà nào cũng có món dưa cải làm chua, được trồng trước đó hơn một tháng. Người ta nhổ cải hăng đem rửa sạch phơi vừa héo và cắt ra từng đoạn dài khoảng hai ba phân. Sau khi trụng nước sôi để vừa ráo, cải dằm nước muối pha ít nước cơm vo gạo. Ngày ấy dưa cải chua mà chấm với nước hầm thịt ba chỉ gọi là thịt nhừ ấy cũng là hương vị ngon ở đồng quê Ninh Hoà.

Trẻ con có lệ cắt tóc trong những ngày áp tết, để ngày đầu năm cái gì cũng đều mới, từ áo quần mới, dép mới, đầu mới (hoặc chừa ổ cu hay chừa mỏ át, đứa lớn hơn đến thợ cắt tóc thật ngắn gọi là hớt tóc ca-rê). Sáng ngày mùng một tết trẻ nhỏ người lớn ra đường, áo quần mới toanh xanh vàng trắng hồng chen nhau, hiện rõ sắc xuân làng quê địa phương. Ngày nay những hình ảnh ấy chỉ còn lại trên bài văn và tranh vẽ.

Ấn tượng nhất của ngày xuân xưa là tiếng pháo, cây nêu, tiếng trống làng đón xuân, câu đối tết, hát bội, hô đánh bài chòi… Tất cả âm thanh hình ảnh ấy càng làm cho lòng người đi chơi xuân thêm phấn chấn, tin tưởng những điều may mắn trong năm mới.

1. CÂY NÊU:

Ngày nay nếu có dịp đi về các làng quê ở gần núi, thỉnh thoảng ta

còn nghe vài bà cụ già nằm tòn teng trên chiếc võng đưa cháu bằng điệu hát ru Ninh Hoà thật khoan thai tha thiết:

Cu kêu ba tiếng cu kêu

Trông mau tới tết dựng nêu ăn chè

Chè gì chè đỗ chè khoai

Bắt tôi giã nếp canh hai chưa rồi.

Với các câu hát ấy luôn làm cho cây nêu hồi sinh hiện hữu lại trong ký ức. Cây nêu là một trong những biểu tượng thiêng liêng của ngày xuân cổ truyền dân tộc.

Ngày xưa ở Ninh Hoà từ đầu nguồn cho đến bờ biển, nhà nhà đều lo dựng nêu đón tết. Nếu gặp điều kiện khó khăn chi đó trong năm, gia đình đón xuân có thể chịu eo hẹp phần vật chất, thế nhưng không thể dựng cây nêu qua quýt chiếu lệ, mà phải chọn sao cho cây nêu ít ra tương đối vừa ý mình được ý người. Bởi vậy thời xưa ấy đất Ninh Hoà có câu tục ngữ: Nêu cao hơn pháo nổ, pháo nổ hơn cỗ đầy.

Sau năm 1945 trở lại đây tục lệ dựng nêu đón xuân từ từ bãi bỏ thì người ta đã sửa câu tục ngữ trên thành: Nêu cao không bằng pháo nổ / Pháo nổ không bằng cổ đầy.

Thông thường vào nửa tháng chạp ai cũng lo tuyển chọn cây nêu nhà nào có trồng tre người ta đã chọn tre nêu trước đó nhiều tháng, những nhà không có tre phải đi đặt mua hay xin nhờ nhà có tre. Cây tre làm nêu là loại tre đực dày ruột ,to bằng bắp tay, thân tre phải thẳng thớm và kiêng kị cụt đọt. Không ai dám dùng cây trảy để dựng nêu, bởi vì loài trảy rổng ruột ngày đầu năm rủi có gió chướng cây nêu bị gãy, thì có thể trong năm bị xui xẻo.

Ngày ấy các làng xã gần biển ở Ninh Hoà, như từ đèo Bánh Ít làng Hà Thanh trở xuống khu vực Hòn Khói, khoảng giữa tháng chạp người ta thường lên cái tổng xã vùng trên đặt mua tre nêu. Từ đó đã thành thông lệ, năm nào cũng vậy trên nông thôn những nhà trồng nhiều tre, gặp tháng chạp thiếu thì ngày 27 tết tre nêu được chặt xuống trảy nhánh, sang canh tư ngày 28 têt, thôn dân mắc bò vào xe kéo xuống Hòn Khói để bán. Với các vùng gần biển có sông ngòi lưu thông được thì chở bằng ghe xuống.

Giá cả tuỳ theo tốt xấu, hoặc mua bán bằng tiền hoặc trao đổi bằng cá tôm… Đúng ngày cận tết 29 hay 30 tuỳ theo tháng thiếu hoặc đủ là thủ tục dựng nêu bắt đầu. Trên đọt nêu treo một cái giỏ nhỏ đan bằng tre hay dây dang giống như cái mồm bịt miệng con bò, trong đó đặt những trầu cau thuốc dún đã têm quấn sẵn, có nhà còn cho vào thêm những bánh mứt đường tán. Lại thêm một khổ giấy hồng đơn to bằng bàn tay viết 4 chữ Thần Sầu Uất Luỹ tên 2 vị thiên thần mua nơi các cụ đồ. Theo truyền thuyết dị đoan thì đúng sáng ngày đầu năm, trên nhà trời có hai loài thiên cẩu trốn xuống trần gian phá phách lê thứ nhà nào có viết danh hiệu của 2 vị thiên thần ấy treo trên đọt cây nêu, lũ thiên cẩu kia trông thấy phải sợ mà tránh xa, không dám lai vãng gây tai hoạ.

Dựng nêu xong là phải có lễ cúng xôi chè trong nhà và cả ngoài sân, bởi thế ngày xưa kia có câu hát ru: Trông mau tới tết đựng nêu ăn chè.

2. TiẾng trỐng làng mỪng xuân:

Lễ tục này được thống nhất trong khắp mọi làng quê ở Ninh Hoà ngày xưa. Kể từ sau năm 1945 đến tháng 4-1975 đa số các làng còn duy trì tục lệ này, tuy nhiên một số tình tiết trong lễ tục được giảm bớt, chỉ còn lại hồi trống làng khởi lên mừng xuân mới. Lễ tục diễn ra như sau:

Trời vừa hừng đông sáng ngày mùng một tết, vị lý trưởng (thôn trưởng) phục sức chỉnh tề áo dài khăn đóng, cùng gia nhân bưng ra hương xá( nhà làng) một mâm lễ vật gồm có: một con gà cồ giò luộc chín tréo cổ bỏ trên lưng ít muối hột, chè xôi, trầu cau, rượu…. và hai câu đối viết trên giấy đỏ. Trước tiên vị lý trưởng lấy hai câu đối mừng xuân dán lên hai bên cửa chính ra vào, nếu 4 câu thì dán thêm hai câu trên hai cột bên trong. Tiếp theo trần thiết lễ vật trên bàn và thắp hương khấn vái cầu nguyện cho quốc thái dân an, sang năm mới xóm làng người người hạnh phúc thạnh vượng. Vị lý trưỏng khoan thai khởi đánh trống hồi ba (ba hồi chín tiếng), nghe tiếng trống làng mừng xuân ai cũng cảm thấy phấn chấn.

Trường hợp làng có tổ chức hát bội, hay hô đánh bài chòi, khi nào nghe trống làng đã khởi thì mới được phép giục trống chiến trống chầu theo. Nếu năm đó ngày xuân lý trưởng bị bệnh, ban hương lý phải cử người đại diện làm thay thủ tục đó.

Những câu đối dán ở đầu làng có thể mỗi năm thay khác, hoặc vẫn giữ từ cú y câu cũ mà chỉ viết lại bằng giấy hồng đơn mới. Ý nghĩa của các câu đối này không ngoài mục đích cầu cho quốc thái dân an xóm làng nhân dân thạnh vượng. Dưới đây là một số câu sưu tầm được tại Ninh Hoà:

Gia tường thế diễn vô cương khánh

Quốc thái thiên hoà bất lão xuân

Dịch là:

Nhà vui đời đẹp mừng no ấm

Nước thạnh trời yên xuân mãi tươi.

Hoặc cầu mong cho năm mới xuân về hoa nở, làng xóm đều gìn giữ thuần phong mỹ tục, nhân dân mạnh khoẻ sống lâu:

Hoa khai thôn lý thuần phong trị

Xuân đáo lương dân phước thọ trường

Dịch là:

Hoa nở xóm làng gìn tục tốt

Xuân về dân chúng tuổi càng cao.

Làng xã khác cầu mong sang năm mới nhân dân sẽ được trời đất ban cho may mắn tươi đẹp, mọi người yêu thương đùm bọc nhau bằng hai câu đối dán trên cây cột nhà làng:

Thục khí tự thiên lâm, thôn ấp xuân dung nhật lệ

Tường quang tuỳ tuế chuyển, nhân dân thuỵ ái hoà phong.

Dịch là:

Tiết tốt tự trời ban, thôn ấp ngày xuân soi bóng đẹp

Điềm lành do năm chuyển, nhân dân hớn hở biết thương nhau.

Cũng có làng ban hương lý đều giỏi chữ nghĩa, mỗi tâm hồn đượm nét thi tứ thanh tao, nhân ngày đầu xuân cầu chúc cho cả đất trời bằng hai câu đối khá mượt mà xuân sắc, tựa như bức thảm dệt gấm thêu hoa:

Mai liễu độ giang xuân, vạn lý hoa khai giao bích thuỷ

Vân yên lưu hải thự, nhất thiên minh mỵ chiếu thanh sơn.

Dịch là:

Mai liễu đón xuân qua sông, vạn dặm hoa cười soi nước biếc

Khói mây vờn trên biển sáng, một trời tươi đẹp chiếu non xanh.

3 . TiẾng pháo:

Ngày xưa tại Ninh Hoà người ta đã biết làm pháo, một loại do người Minh Hương sản xuất thành pháo dây và pháo chuột. Người làng quê làm pháo bằng ống tre già còn gọi là pháo trống, tuy không đẹp nhưng tiếng nổ rất lớn. Mỗi làng chỉ có một vài người làm ra sáu bảy ống pháo để cho nổ ngày 30 tiễn năm cũ, sang năm mới khai pháo chỉ nổ một tiếng thật to treo xa ngoài ngõ, người nhà ai nấy đều rất hớn hở thú vị.

Những nhà khác mua pháo dưới chợ Ninh Hoà chừng một vài dây, nhà giàu mua pháo dài khoanh, nhà nghèo mua pháo chuột, mục đích đốt tượng trưng vài dây pháo để cầu điềm may. Trong ngày đầu xuân chỉ có đám chó là khiếp sợ khi nghe pháo nổ, chúng chui vô gầm giường trốn trong xó nhà. Những đứa trẻ choai choai ngịch ngợm, lấy viên pháo chuột cột vào đuôi chó châm ngòi nổ, con chó thất kinh hồn vía bung chạy ra đồng nhịn ăn suốt ngày. Đám trẻ nhỏ ôm nhau hay vỗ tay cười nức nẽ. Đó cũng là những hình ảnh sinh động với tiếng pháo đón xuân Ninh Hoà ngày xưa.

4. Câu đỐi nhà dân:

Thời nhân tin rằng ngày xuân dán câu đối lên cột là để cầu vận may năm mới. Vì thế trên nửa thế kỉ trở về trước người làng quê có tục dán câu đối mừng tết. Những người dốt chữ họ cũng xuống chợ mua tượng trưng hai câu, không cần biết đó nghĩa là gì miễn có chữ nho là được, hoặc mua ngay trong làng nếu có cụ đồ viết chữ liễn. Nhà giàu hay những ai rành chữ nghiã thì ngày xuân dán nhiều câu đối trên các cây cột trong nhà, cột ngoài thềm và câu liễn bốn chữ dán trên cửa cái.

Ngày xuân mà có những câu đối ấy càng làm thêm sự long trọng ấm cúng trong nhà, như cũng để giữ gìn lại bao nề nếp thuần phong mỹ tục và điểm xuyến cho hương sắc xuân.

Ngày nay tại Ninh Hoà vào đầu xuân tục lệ dán câu đối không còn nữa, tuy nhiên để lưu lại cái bối cảnh ấy, xin sưu tầm những vết tích cũ và giơi thiệu một số câu đối tượng trưng hay nhất. Câu đối cũng là một thể thơ, nếu xuất tứ sẽ thành một bức tranh đẹp thể hiện đầy màu sắc xuân như:

Xuân dung lệ nhật oanh thanh hoạt

Hoa diễm trùng môn yến ngữ thanh

Tạm dịch:

Nét xuân soi bóng oanh ca hót

Hoa đẹp cài song yến líu lo.

Xuân mỗi năm mỗi đến, hoa luôn cười đón xuân trong cảnh tuyệt vời ấy người người đều cầu mong mưa thuận gió hoà, gái lịch trai thanh giao hoà tình cảm:

Xuân tự hà xứ lai, xuân phổ phong điềm giai lãng tịnh

Hoa khai thử nhật phát, hoa hân trúc lục cộng đào hồng.

Dịch:

Xuân từ đâu mà đến , xuân toả làm gió yên sóng lặng

Hoa cười ngày nay nở, hoa vui thấy trúc với đào xinh. Cũng có những nhà dùng câu đối tập cổ ( câu đối cũ), không cần tứ ý diễm lệ hoa mỹ mà chỉ cần thực tế trời yên đời thịnh phướcnhà nhà:

Thiên tăng thế nguyệt nhân tăng thọ

Xuân mãn càn khôn phước mãn đường.

Tạm dịch:

Trời thêm năm tháng người tăng thọ

Xuân khắp đất trời phước mọi nhà.

Với những nhà quan lại quyền quí câu đối tết lại nhiều hơn, nào là liễn treo vách, câu đối viết bằng giấy hoa tiên có ren hoa hai đầu treo trên cột, càng tăng thêm sự quý phái của nhà quan vào ngày xuân. Khác với dân thường chỉ cầu bình an, vui kh oẻ… nhà quan họ cầu xuân về sang năm mới sẽ được thăng quan tiến chức, con cháu đỗ đạt cao:

Xuân đáo nhuận hoàng âm, quan phẩm thừa mông gia tướcvị

Hoa khai triêm tổ đức, tử tôn vinh thí đạt khôi khoa.

Tạm dịch:

Xuân đến thắm ơn vua, quan chức hưởng thêm nhiều tước vị

Hoa cười nhờ đức tổ, cháu con thi cử đỗ đầu khoa.

Câu đối không những dán treo trong nhà mà còn được dán trước cổng, người ta tin rằng câu đối có tận ngoài cổng chúa xuân sẽ chiếu cố đưa mọi sự may mắn như ý hơn, như 2 câu:

Lư nghênh xuân đáo khang minh tại

Môn tiếp hoa khai phước thọ đa.

Tạm dịch:

Cổng làng rước mừng xuân đến có mang theo sự khang vinh

Cửa ngoài nhà đón hoa nở đem theo nhiều phước thọ.

5 . Tiếng trỐng chẦu:

Trong những hương sắc ấy chỉ có tiếng trống chầu trống chiến của đám hát bội và hô đánh bài chòi ở đình làng là tưng bừng rộn rã nhất trong các làng quê đất Ninh Hoà khi xưa.

Thời ấy hầu như vào các ngày đầu xuân, làng xã nào ở Ninh Hoà nếu không hát bội thì cũng hô đánh bài chòi.

Tiếng trống khai xuân của làng vừa dứt, tức thì trống chiến trống chầu của hát bội khởi lên tại đình làng. Lòng đám trẻ nhỏ đều nôn nao, chỉ cần cha mẹ cho phép là chúng củn cởn trong bộ áo quần mới cõng em níu anh chạy ra đình liền. Với không khí tưng bừng lễ hội đón xuân ấy, tại Ninh Hoà vẫn còn các bà cụ già nơi miền quê hát ru bằng hai câu vè:

Tai nghe trống chiến trống chầu

Cõng em chạy bộ cho mau tới đình.

Với những đứa trẻ không có anh chị dẫn dắt, nó thấy ngoài đưòng làng các bạn chừa tóc ổ cu mỏ át đi nhanh lên đám hát bội, lòng nó càng thúc dục miệng bệu bạo, hai chân nhảy khụng khận trước sân nhà làm nũng nịu với mẹ, được mô tả bằng hai câu vè đưa em rất dễ thương:

Trống chầu đã đánh thùng thình

Cho con chạy bộ một mình dú ơi!

Những câu vè hát ru ấy đã vẽ lại một góc cái bối cảnh đón xuân rất rộn ràng tươi vui của trẻ con đất Ninh Hoà đi xem hát bội, mà ngày nay đã không còn nữa.

Để điểm xuyết thêm còn có tiếng trống chầu, làm cho hương sắc xuân tưng bừng trổi dậy cả đất trời. Thuở ấy gần như mọi làng xã đều có tiếng trống hát bội hoặc tiếng trống hô bài chòi, nhìn nơi nào cũng thấy xuân,sắc xuân trên ngàn cây nội cỏ, trên gương mặt e ấp tươi rói của các cô thô nữ, trên áng mây trôi lờ lững trong ánh ban mai.

Vị được dân làng đề cử cầm roi chầu khai lễ hát bội phải thiện thủ ngón chầu, thông tuồng tích hiểu từng câu hát. Biết khen thưởng đúng tài năng của đào kép đang diễn xuất, tiếng trống biến tấu theo câu hát bi thương hay hùng tráng, kèm theo trống chầu đó là thẻ thưởng tiền. Người giỏi đánh chầu sẽ làm cho người sành điệu nghe chầu dù ngồi ở nhà gần đó, vẫn biết là tuồng hát đang diễn xuất đoạn nào, nam ai hay nam xuân hoặc tẩu mã…

Cũng là ngày xuân đang không khi tưng bừng của đám hát bội, với đám trẻ nhỏ, trai gái cập kê lòng vui sướng biết bao, thế nhưng với người thiếu phụ khi nghe tiếng trống chầu đánh điệu nam ai, lòng chợt gợi dậy một nỗi buồn trái ngang duyên phận, nàng ru con bằng các câu vè:

Khúc nam ai điểm trống chầu

Nghe qua như oán như sầu vì ai

Đưa tay vuốt ngựcthở dài

Trách người điểm trống làm cay đắng lòng.

Tiếng trống chầu làm tưng bừng vui nhộn ngày xuân, tuy nhiên nó cũng làm tủi lòng cho một vài người vợ hiền thân cò lặn lội. Nếu gặp phải đức ông chồng thiện thủ ngón đánh trống chầu và đam mê thưởng thẻ, đồng tiền chắt chiu của vợ, nhân ngày xuân ông cao hứng khen thưởng cho đào kép hát trên sân khấu tất cả. Người vợ đau lòng khi nghe tiếng trống vì khúc ruột đã tiếp tục rời khỏi mình, được mô tả bằng các vần vè hát ru:

Roi chầu gặm nửa con heo

Gặm hết bồ bắp gặm leo dàn bầu

Chàng mê thưởng thẻ cầm chầu

Chầu vang từng tiếng thiếp đau từng hồi.

Đám hát bội ngày xuân tại Ninh Hoà ngoài tiếng trống chầu ra còn có những câu đối đỏ dán trên cột rạp. Thời ấy một đám hát bội mà không có câu đối dán như thế, xem ra có vẽ mộc mạc khô cằn rạp hát, các câu đối tựa như những cành hoa cài lên các trụ cột. Thêm một điểm nữa nếu thiếu các câu đối đỏ, khách quan đến coi hát có thể hiểu rằng làng xã này dốt chữ. Như vậy câu đối còn thể hiện lên sự học chữ nghĩa văn vẻ của làng.

Các câu đối có thể là những nụ cười ruồi đối với đào kép hát bội, ngày nay đọclại vẫn thấy có duyên và dễ thương:

Năm bảy bước tới lui, ngâm Tông thất ngâm Đường ban, thành thị chiến trường coi cũng dễ.

Chín mười người qua lại,nọ công hầu nọ mỹ nữ, quan binh tướng sĩ thấy còn dư.

Hay:

Ngàn dặm quan san, tốc lực lại qua năm bảy bước

Trăm năm sự nghiệp, thành công thâu lại một hai giờ.

Hoặc nhìn cảnh đào kép dốt nát đóng vai sắm tuồng xưng ông nghè này quan trạng nọ, gặp gỡ thoáng qua thắp lại thì đã nên đạo vợ chồng, các cụ ngày xưa còn làm câu đối dán lên cột, trong đó ẩm hiện nét hóm hỉnh:

Lục lễ vị giai, bán khắc kết thành phu phụ đạo.

Ngũ kinh bất đọc, phiến thời thí trúng trạng nguyên khoa.

Dịch là:

Sáu lễ chưa trình, nửa phút vợ chồng duyên kết hợp

Năm kinh chẳng học tức thời thi đậu bản trạng nguyên.

Hoặc để nói lên cái hay của nghệ thuật diễn tuồng hát bội, qua cách thể hiện của giới đào kép cũng có câu:

Tướng hữu dũng tướng hữu tài, vạn cổ binh qua can bất chiết

Hề hà trung hề hà hiếu, nhất trường oanh liệt mã vô đề.

Dịch là:

Tướng đủ mạnh tướng đủ tài, vạn cổ chiến tranh gươm chẳng gãy.

Nọ là trung nọ là hiếu, một trường oanh liệt ngựa không chân.

Những hình ảnh, âm thanh, sự kiện diễn ra trong mỗi mùa xuân xưa ở đất Ninh Hoà như cây nêu, tiếng pháo, tiếng trống làng mừng xuân, câu đối, hát bội v.v… đã thể hiện một cảnh trí mừng xuân êm đềm như bức gấm, sinh động hớn hở như bức tranh kiệt tác, thánh thoát diu dàng như tiếng sáo câu thơ… mà giờ đây đã không còn nữa. Viết lại những cảnh trí này cũng để sưởi ấm lòng người cao tuổi đất Ninh Hoà ngày nay.

VÕ TRIỀU DƯƠNG

 

Về trước

Mọi thông tin về Website xin gởi về webmaster@ninhhoatoday.net