QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

Bài liên quan

- Những gánh Bài chòi ở quê tôi

- Mùa xuân bàn chuyện xin xăm Đức Thánh Trần

- Gió đã chuyển mùa

- Cấu trúc thờ tự tại đền Trần Hưng Đạo - Nha Trang

- Lương Châu Từ và nỗi buồn chiến tranh

- Rượu Hồng Đào

- Bến Phong Kiều và tiếng chuông Hàn San

- Từ Đạt và Chu Nguyên Chương

- Cấu trúc hệ thống thờ tự trong đình làng Ninh Hòa ...

 

 

 

 

Tam thập lục kế có phải

là của Tôn Tử không?

Hình Phước Liên

 

 

Con gái tôi từ Sài Gòn gọi điện về hỏi, “cuốn sách Tam thập lục kế có phải là của Tôn Tử không?” Cũng như nhiều bạn trẻ thời nay, con gái tôi ít quan tâm đến những gì xưa cũ, nhất là những chuyện binh thư, kế sách. Hỏi ra mới biết, nó đang học về cạnh tranh thương trường, thầy giáo bảo ngày nay các nhà kinh doanh ở phương Tây cũng rất để tâm đến những kế sách dùng binh của Tôn Tử. Vậy chớ sao, thương trường như chiến trường mà! Nhưng giữa Tôn Tử và Tam thập lục kế có quan hệ thế nào? Xem ra để trả lời cho rõ ràng câu hỏi trên thì có khi cũng phải dài dòng văn tự.

1.

Tôn Tử Binh pháp (孫子兵法) là bộ binh thư cổ xưa và kiệt xuất nhất, được người Trung Hoa tôn sùng là một trong những bảo vật trấn quốc của dân tộc; được giới quân sự các đời sau vinh danh là Binh học Thánh điển (兵學聖典).

Tác giả của bộ binh thư này là Tôn Vũ (孫武), tự Trường Khanh (長卿), nhà quân sự, chính trị lỗi lạc; Đại Tướng quân của nước Ngô thời Xuân Thu - Trung Quốc; người đã từng sử dụng những kế sách trong bộ binh thư của mình giúp Ngô Vương Hạp Lư (闔閭) diệt nước Sở, xưng bá thiên hạ. Trãi qua hơn 2500 năm lịch sử, bộ binh thư này ngày càng được đời sau trọng vọng, nghiên cứu, ứng dụng; có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc hình thành, phát triển tư tưởng và học thuật quân sự của Trung Quốc.

Tôn Tử Binh pháp gồm 13 thiên, theo các nhà nghiên cứu quân sự có thể chia làm các phần như sau: Ba thiên đầu nói về chiến lược vận trù cho một cuộc chiến tranh gồm: Thỉ kế thiên (始計篇), Tác chiến thiên (作戰篇), Mưu công thiên (謀攻篇); ba thiên kế tiếp nói về phương pháp chỉ huy tác chiến gồm: Quân hình thiên (軍形篇), Binh thế thiên (兵勢篇), Hư thực thiên (虛實篇); các thiên 7, 8, 9 bàn về những cơ biến cần có trong thuật dùng binh gồm: Quân tranh thiên (軍爭篇), Cửu biến thiên  (九變篇), Hành quân thiên (行軍篇); thiên 10, 11 nói về địa quân sự gồm: Địa hình thiên (地形篇), Cửu địa thiên (九地篇); thiên 12 và 13 nói về những chiến lược đặc thù trong phép dùng binh gồm: Hỏa công thiên (火攻篇 ), Dụng gián thiên (用間篇).

Có thể khẳng định, Tôn Tử Binh pháp là cơ sở lý luận và thực tiễn đầu tiên về sách lược chiến tranh của Trung Quốc: đó là phép dùng quân của người làm tướng, đồng thời cũng hàm chứa phép trị quốc của một minh quân. Trong đó 3 thiên đầu tiên mang tính lý luận, là tư tưởng chủ đạo xuyên suốt bộ binh thư. Sau thời Xuân Thu, tác phẩm này đã được lưu truyền rộng rãi, tạo điều kiện để người đời sau nghiên cứu, áp dụng và tiếp tục sáng tạo nên nhưng bộ kỳ thư, binh pháp khác và Tam thập lục kế là một điển hình.

2.

Tam thập lục kế (三十六計) còn gọi là  Tam thập lục sách (三十六策) gồm 36 sách lược trong phép dùng quân. Bộ sách là sự đúc kết những tư tưởng trác việt và kinh nghiệm chiến tranh của các nhà quân sự, chiến tướng lỗi lạc của Trung Hoa thời cổ đại và là một trong những di sản văn hóa phi vật thể quý giá nhất của đất nước Trung Quốc. Các nhà nghiên cứu cho rằng, chính Đàn Đạo Tế (檀道濟) là người đã có công tổng kết các kế sách chiến tranh của người xưa thành Tam thập lục kế.

Đàn Đạo Tế (? - 436) là người nước Tống thời Nam Bắc triều (420 – 589). Ông sinh tại Kinh Khẩu  (nay thuộc Trấn Giang, tỉnh Giang Tô) trong một gia đình nông dân nghèo. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, lớn lên theo nghiệp binh đao. Qua hơn 20 năm trời chinh chiến, từ một chiến binh ông đã đi lên dần đến chức vụ Đại Tướng quân, rồi thăng trật làm Chinh Nam Đại Tướng Quân khi Lưu Dụ (劉裕) diệt được Hậu Tần để trở thành Tống Vũ Đế - vị vua đầu tiên của nước Tống thời Nam Bắc triều. Với những kinh nghiệm chiến tranh, trận mạc và những tri thức học được của người xưa ông đã tổng kết lại thành 36 kế sách quân sự tuyệt vời, lưu danh vào sử sách.

Trong cuốn Nam Tề thư – Vương Kính Tắc truyện (南齊書 - 王敬則傳) có chép lại câu nói của vị tướng quân này khi luận về chiến công thuộc tướng của mình có liên quan đến “36 kế” như sau::Đàn Công tam thập lục sách, tẩu vi thượng kế, nhữ phụ tử duy ứng chi nhĩ.”(檀公三十六策, 走為上計, 汝父子唯應走耳.) Nghĩa là: “Theo Tam thập lục kế của Đàn Công,  thì chạy là cách tốt nhất, (trong trận chiến đó) cha con các ngươi chỉ ứng dụng mà thôi.” Về sau, câu “Tam thập lục sách, tẩu vi thượng kế” đã trở thành câu thông dụng của nhiều người (cả ở Việt Nam ta). Cuối đời Minh, đầu đời Thanh, những người có tâm đã sưu tập và biên soạn thành bộ sách Tam thập lục kế. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa thể xác định được rõ ràng về thời gian cũng như người biên soạn bộ sách này.

Nguyên bản của bộ sách ngoài Tổng thuyết Bạt, được chia làm 6 phần gồm: Thắng chiến kế, Địch chiến kế, Công chiến kế, Hỗn chiến kế, Tịnh chiến kế và Bại chiến kế. Ba phần đầu là những kế sách dành cho bên đang chiếm thế thượng phong  ứng dụng; ba phần sau là những kế sách dành cho bên đang trong tình trạng thất thế ứng dụng. Mỗi phần gồm 6 kế, tổng cộng là 36 kế. Mỗi kế đều có Tiêu đề và phần Giải thuyết. Tiêu đề của mỗi kế là một câu thành ngữ gắn liền với một hoặc những điển cố tiêu biểu, còn nội dung giải thuyết thì hầu như đều vận dụng lý thuyết âm dương biến hóa của Kinh Dịch; các mối quan hệ trong phép dụng binh như: cương nhu, kỳ chính, công phòng, bỉ kỉ, hư thực…đối lập và chuyển hóa lẫn nhau để hình thành nên kế sách. Sau  phần giải thuyết là Án ngữ, bằng những dẫn chứng thông qua những câu chuyện, trận chiến điển hình liên quan đến kế sách nhằm làm rõ thêm giải thuyết. Những sự kiện được trích dẫn trong sách hầu như đều từ thời Tống trở về trước, đặc biệt là từ các sách lược và tư tưởng quân sự của Tôn Tử  đã được các vị tướng đời sau như Tôn Tẫn, Hàn Tín, Gia Cát Lượng, Tào Tháo, Nhạc Phi …ứng dụng thành công. Và nếu đọc kỷ chúng ta cũng sẽ phát hiện ra nhiều kế sách trong đó như: Vi Ngụy cứu Triệu, Ám độ Trần Thương, Viễn giao cận công, Giả đạo phạt Quắc, Mỹ nhân kế, Không thành kế, Liên thành kế(1) đều gắn liền với chiến công của các nhân vật đời sau Tôn Tử và nhất là Tẩu vi thượng như trên đã nói đã được nhiều người cùng thời khẳng định là của Đàn Đạo Tế.

Ngày nay ở Trung Quốc vẫn còn lưu truyền một bài thơ dân gian về Tam thập lục kế, trong đó trích mỗi kế một chữ để làm thành bài thơ nhằm giúp cho mọi người dễ thuộc lòng “36 kế” và ngay câu đầu bài thơ cũng đã khẳng định đấy là sách của Đàm Công. Bài thơ như sau:

“Kim ngọc Đàn Công sách/ Tá dĩ cầm kiếp khách/ Ngư xà hải gian tiếu/ Dương hổ đào tang cách/ Thụ ám tẩu si cố/ Phủ không khổ viễn khách/ Ốc lương hữu mỹ thi/ Xuất Ngụy liên phạt Quắc.”(2)

Sau đây là danh mục của Tam thập lục kế:  

Phần I: Thắng chiến kế (勝戰計) gồm các kế từ 1 đến 6:

1. Man thiên quá hải (瞞天過海): Che trời qua biển. 2. Vi Nguỵ cứu Triệu (圍魏救趙): Vây Ngụy để cứu Triệu. 3. Tá đao sát nhân (借刀殺人): Mượn đao giết người. 4. Dĩ dật đãi lao (以逸待勞): Lấy nhàn rỗi đối phó với nhọc nhằn. 5. Sấn hỏa đả kiếp (趁火打劫): Thừa lúc lửa cháy để đánh cướp. 6. Thanh đông xuất tây (聲東出西): Khua hướng đông, ra hướng tây.

Phần 2: Địch chiến kế (敵戰計) gồm các kế từ 7 đến 12:

7. Vô trung sinh hữu (無中生有): Trong cái không sinh cái có. 8. Ám độ Trần Thương (暗渡陳倉): Âm thầm đưa quân qua ải Trần Thương. 9. Cách ngạn quan hỏa (隔岸觀火): Cách bờ sông xem lửa cháy. 10. Tiếu lý tàng đao (笑裡藏刀): Miệng cười dấu dao. 11. Lý đại đào cương (李代桃僵): Mận chết thay đào.12. Thuận thủ khiên dương (順手牽羊): Thuận tay dắt dê.

Phần 3: Công chiến kế (攻戰計) gồm các kế từ 13 đến 18:

13. Đả thảo kinh xà (打草驚蛇): Đánh cỏ để làm cho rắn sợ. 14. Tá thi hòan hồn (借屍還魂): Mượn xác trả hồn. 15. Điệu hổ ly sơn (調虎離山): Dụ hổ lìa rừng. 16. Dục cầm cố túng (欲擒故縱): Muốn bắt phải thả. 17. Phao chuyên dẫn ngọc (拋磚引玉): Vứt gạch đi để dụ người đưa ngọc ra. 18. Cầm tặc cầm vương (擒賊擒王): Bắt giặc trước tiên phải bắt tướng.

Phần 4: Hỗn chiến kế (混戰計): gồm các kế từ 19 đến 24:   

19. Phủ để trừu tân (釜底抽薪): Rút củi dưới nồi. 20. Hỗn thủy mạc ngư (混水摸魚): Nước lũ mò cá. 21. Kim thiền thoát xác (金蟬脫殼): Ve sầu thoát xác

22. Quan môn tróc tặc (關門捉賊): Đóng cửa bắt cướp. 23. Viễn giao cận công (遠交近攻): Ngoại giao với nước xa, công kích với nước gần. 24. Giả đạo phạt Quắc (假道伐虢): Mượn đường đánh nước Quắc.

Phần 5: Tịnh chiến kế (并戰計) gồm các kế từ 25 đến 30:

25. Thâu lương hoán trụ (偷梁換柱): Trộm rường thay cột. 26. Chỉ tang mạ hòe (指桑罵槐): Chỉ cây dâu để mắng cây hòe. 27. Giả si bất điên (假痴不癲): Giả dại, chẳng  điên. 28. Thượng ốc trừu thê (上屋抽梯): Đưa người lên mái nhà rồi rút thang. 29. Thụ thượng khai hoa (樹上開花): Hoa nở trên cây. 30. Phản khách vi chủ (反客為主): Đổi khách thành chủ.

Phần 6: Bại chiến kế (敗戰計) gồm các kế từ 31 đến 36:      

31. Mỹ nhân kế (美人計): Dùng người đẹp để mê hoặc đối phương. 32. Không thành kế (空城計): Bỏ trống thành để đối phương nghi ngờ có phục binh. 33. Phản gián kế (反間計): Dùng kế của địch để phản lại địch. 34. Khổ nhục kế (苦肉計): Tự hũy hoại thân thể mình để kẻ địch tin dùng. 35. Liên hoàn kế (連還計): Dùng nhiều kế mắc xích vào nhau liên tục. 36. Tẩu vi thượng (走為上): Chạy là thượng sách.…

Đến đây, phần nào đó chúng ta có thể thấy được mối quan hệ giữa Tôn Tử Binh pháp Tam thập lục kế. Theo đó, Tam thập lục kế là tác phẩm mang tính trí tuệ của nhân dân Trung Hoa đã được đúc kết từ kinh nghiệm máu xương của hàng năm chiến tranh tàn khốc, mà tư tưởng chủ đạo của nó là cũng chính là tinh thần cốt lõi của Tôn Tử Binh pháp đã được các nhà quân sự kiệt xuất đời sau ứng dụng, phát huy và cụ thể hóa thành những kế sách trong từng tình huống. Giá trị của cả hai không chỉ ở sách lược quân sự mà ngày nay khi đọc lại chúng ta còn có thể tìm thấy được trong đó những bài học lịch sử, cách đối nhân xử thế và nhất là trong môi trường cạnh tranh thương mại hôm nay. Lời dặn của Tôn Tử: Tri bỉ tri kỷ, bách chiến bất đãi (知彼知己, 百戰不殆)(3) vẫn mãi là chân lý. Thế mới biết ôn cố tri tân là điều chúng ta cần phải nhớ.

HPL

Chú thích:

(1) Ngay từ tên gọi thì các kế nêu đã không phải của Tôn Tử. Vi Ngụy cứu Triệu: Kế sách rất nổi tiếng của Tông Tẫn phá Bàng Quyên; Ám độ Trần Thương: Kế sách của Hàn Tín giả vờ sửa sạn đạo rồi âm thầm đem quân đánh chiếm ải Trần Thương thời Hán Sở tranh hùng; Viễn giao cận công: Là kế sách của Tể tướng nước Tần Phạm Thư áp dụng với các nước thời Xuân Thu và giúp nước Tần trở nên hùng mạnh; Giả đạo phạt Quắc: Tấn Hiến Công theo kế của Tuân Tức hối lộ nước Ngu để mượn đường đi đánh nước Quắc; Mỹ nhân kế: Văn Chủng dùng sắc đẹp của Tây Thi mê hoặc Phù Sai; Không thành kế: Khổng Minh tọa lầu dọa Tư Mã Ý; Khổ nhục kế: Tôn Tử dùng kế này để Yếu Ly có cơ hội giết Cảnh Kỵ, nhưng trong sách thì chủ yếu nói đến kế của Nhạc Phi chặt tay Vương Tá để phá Kim; Liên hoàn kế: Vương Doãn dùng sắc đẹp của Điêu Thuyền mê hoăc Đổng Trác và Lữ Bố, sau đó  ly gián họ để Lã Bố giết Đổng Trác.

(2)金玉檀公策,借以擒劫賊,魚蛇海間笑,羊虎桃桑隔,樹暗走痴故,釜空苦遠客,屋梁有美屍,出魏連伐虢

(3) Biết người biết ta, trăm trận đánh, không nguy. (Trích “Mưu công thiên” của Tôn Tử).