QUI KHUYEN HOC NINH HOA

Trở về

MỤC LỤC SƯU TẦM BIÊN KHẢO

 

S Ư U T Ầ M

BIÊN  KHẢO

 

Bài liên quan

- Mả ông Tướng

- Kiến trúc thành Diên Khánh và cách trùng tu tôn tạo hiện nay

- Võ Tánh có được cải theo họ chúa Nguyễn không?

 

 

 

 

 

 

TÊN CÁC TỔNG, XÃ, THÔN, ẤP, HỘ CỦA TỈNH  KHÁNH HÒA THỜI VUA ĐỒNG KHÁNH

 

 

Bức trấn đầu ở một ngôi mộ cổ Công giáo tại thôn Tiên Hương

(trước gọi là thôn Na Cai, nay thuộc xã Diên Lâm, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa)

 

Cách nay khoảng hơn nửa thế kỷ, để muốn biết danh sách các xã, thôn… trong một huyện đã là  khó huống chi là của cả tỉnh. Các sách địa chí thời ấy chỉ viết một cách chung chung. Ví dụ sách Đại Nam nhất thống chí thời Tự Đức ghi :tỉnh Khánh Hòa có 02 phủ là Diên Khánh, Ninh Hòa và 04 huyện. Huyện Phước Điền lãnh 06 tổng, 49 xã, thôn; huyện Vĩnh Xương lãnh 04 tổng, 49 xã, thôn ; huyện Quảng Phước lãnh 04 tổng, 106 xã, thôn; huyện Tân Định lãnh 03 tổng,74 xã, thôn (1). Sách Đại Nam nhất thống chí thời Duy Tân ghi: tỉnh Khánh Hòa có 02 phủ và 04 huyện. Huyện Phước Điền lãnh 05 tổng, 38 xã, thôn, huyện Vĩnh Xương lãnh 04 tổng, 45 xã, thôn; huyện Quảng Phước lãnh 06 tổng, 83 xã, thôn; huyện Tân Định lãnh 03 tổng, 73 xã, thôn (2) .

Rất may là năm 1997 Nhà xuất bản TP.HCM xuất bản tác phẩm Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn KHÁNH HÒA của tác giả Nguyễn Đình Đầu. Tác giả Nguyễn Đình Đầu đã nghiên cứu 275 quyển địa bạ của các xã, thôn… trong văn khố(trong lúc nghiên cứu tác giả phát hiện thêm 15 xã, thôn mất địa bạ) của trấn Bình Hòa và tác giả đã hệ thống các quyển địa bạ của các xã, thôn theo từng phủ, huyện, tổng. Nhờ đó mà độc giả  mới biết được tên các tổng, xã, thôn của trấn Bình Hòa (năm 1832 mới đổi tên thành Khánh Hòa) vào thời Gia Long năm thứ 10(1811) một cách đầy đủ và rõ ràng. Ngoài tác phẩm Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn KHÁNH HÒA ra, độc giả tỉnh Khánh Hòa nói riêng cũng như độc giả cả nước nói chung chưa đọc được tác phẩm nào khác dưới triều Nguyễn đã được dịch ra tiếng Việt có đầy đủ tên tổng, xã, thôn, ấp của cả tỉnh Khánh Hòa

A- Đồng Khánh dư địa chí

Năm 1886-1887 Quốc sử quán triều Nguyễn soạn bộ Đồng Khánh dư địa chí gồm 25 quyển tổng cộng 2832 trang giấy lệnh hội (khổ 38+27cm) kèm theo 314 bản đồ khổ lớn, mỗi quyển chép riêng từng tỉnh với đầy đủ danh sách các cấp hành chính trực thuộc (tỉnh kê tên các  phủ; phủ kê tên  các huyện; huyện kê tên các tổng; tổng kê tên các xã, thôn). Có tất cả 25 tỉnh từ Cao Bằng cho đến Bình Thuận (trừ 06 tỉnh Nam Kỳ đã thuộc về tay thực dân Pháp). Bộ sách này chép tay chưa được khắc in.

Năm 2003 Nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội cho xuất bản Đồng Khánh địa dư chí gồm 03 tập (nguyên văn bản chữ Hán là Đồng Khánh dư địa chí, nhưng ở trang bìa của 03 tập sách được xuất bản, trên cùng là 05 chữ Hán Đồng Khánh địa dư chí, bên dưới là 05 chữ quốc ngữ Đồng Khánh địa dư chí). Ban biên tập gồm: Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin, Phan Văn Các, Lê Việt Nga, Dương Thị The. Đồng Khánh địa dư chí xuất bản lần này chỉ giới thiệu 19 tỉnh từ Thừa Thiên trở ra Bắc, phần còn lại 06 tỉnh (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa , Bình Thuận)vì một vài lý do chưa thể xuất bản được.

B- Đồng Khánh dư địa chí quyển 10 – Tỉnh Khánh Hòa

Tại thư viện tỉnh Khánh Hòa có quyển Đồng Khánh dư địa chí viết về tỉnh Khánh Hòa bằng chữ Hán, mang ký hiệu ĐC 134/99 (ký hiệu cũ là TL: TLĐC 13/68). Quyển này là quyển photcopy gồm 20 trang giấy A4 chữ Hán (photocopy một trang để trống một trang). Chữ Hán được viết từ trên xuống và từ trái sang phải, thứ tự trang được tính từ trước ra sau (Theo nguyên tắc chữ Hán được viết từ trên xuống, từ phải sang trái, thứ tự trang được tính từ sau ra trước). Quyển này còn nguyên dạng chữ Hán chưa thấy công bố bản  dịch. Mở đầu quyển sách là dòng chữ (phiên âm): “Đồng Khánh dư địa chí lược quyển nhị thập ngũ chi thập. Tấu Khánh Hòa tỉnh lỵ thần đẳng khâm tuân phê thị biên hội đồ bản tiến trình sách. Khánh Hòa mục lục. Nguyên bản vô hữu. Khánh Hòa tỉnh, Diên Khánh phủ, Phước Điền huyện,Vĩnh Xương huyện; Ninh Hòa phủ, Quảng Phước huyện, Tân Định huyện”

Như vậy quyển viết về tỉnh Khánh Hòa là quyển 10 trong tất cả 25 quyển của bộ sách Đồng Khánh dư địa chí

Bắt đầu trang 02 được viết: “Khánh Hòa tỉnh. Đồng Khánh sắc chế ngự lãm.Tỉnh thành tại Phước Điền huyện, Ninh Phước tổng, Trường Thạnh, Phú Mỹ  nhị xã địa phận…”       

Lỵ sở của tỉnh Khánh Hòa ghi là thuộc địa phận hai xã là Trường Thạnh và Phú Mỹ , tổng Ninh Phước, huyện Phước Điền nhưng sự thật đầu đời Đồng Khánh khu vực thành Diên Khánh đã được tách ra khỏi hai xã Trường Thạnh và Phú Mỹ  để thành lập thôn Khánh Thành  rồi (thôn Khánh Thành thuộc tổng Ninh Phước, huyện Phước Điền, phủ Diên Khánh). Tỉnh Khánh Hòa thời Đồng Khánh (1886-1888) có 02 phủ : phủ Diên Khánh kiêm lý (3) huyện Phước Điền và thống hạt (4) huyện Vĩnh Xương; phủ Ninh Hòa  kiêm lý huyện Quảng Phước và thống hạt huyện Tân Định.

Tổng Phước Tường được tách thành tổng Phước Tường Nội và tổng Phước Tường Ngoại vào năm nào?

Trong bài viết “Chùa Báo Ân” ở huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, tác giả Trí Bửu khi nhắc đến các tổng của huyện Quảng Phước như sau : “Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) phủ Bình Hòa đổi lại thành phủ Ninh Hòa, gồm các tổng Phước Tường Ngoại, Phước Tường Nội, Phước Thiện, Phước Hà Nội, Phước Hà Ngoại, Phước Khiêm”.

Bài viết “Vạn Ninh, đất và người” của tác giả Nguyễn Man Nhiên cũng ghi vào thời điểm 1831 có 6 tổng giống như tác giả Trí Bửu. Với bài viết “Hồn quê xứ Vạn : đôi nét địa danh” của tác giả Nguyễn Viết Trung đã nêu tên các tổng thuộc huyện Quảng Phước: “…Năm 1831 thuộc phủ Ninh Hòa, gồm 4 tổng: Phước Khiêm, Phước Thiện, Phước Tường, Phước Hà. Đầu niên hiệu Đồng Khánh (1886) chia các tổng Phước Hà và Phước Tường thành Phước Hà Nội, Phước Hà Ngoại, Phước  Tường Nội, Phước Tường Ngoại”.

Thời vua Đồng Khánh, huyện Quảng Phước chỉ có 5 tổng  mà thôi. Mãi đến tháng 4 năm Nhâm Dần (1902) “Tổng đốc Thuận-Khánh Hồ Đệ tâu nói tổng Phước Tường phủ Ninh Hòa thuộc hạt hơi nhiều xã thôn (31xã thôn), nhân đinh (hơn 1190 người), ruộng đất (hơn 5370 mẫu), đường đi lại kéo dài (qua hơn 3 dịch trạm) đều là men theo chân núi, chạy dọc bờ biển, lại có nhiều côn đồ tụ tập, xin trích đặt làm hai tổng Phước Tường Nội, Ngoại (trích 14 xã thôn: Hội Khánh, Tân Phước, Long Hòa, Lộc Thọ , Nhơn Thọ, HảiTriều, Tiên Mao, Ninh Hội, Ninh Phước,Tuần Lễ, Diêm Điền, Ninh Mã, Ninh Lâm, Ninh Thọ từ xứ Tu Bông lên phía Bắc tới trạm Phú Hòa và 4 xã thôn: Vĩnh Dật, Khải Lương, Đầm Môn, Ninh Đảo của tổng Phước Hà Ngoại cộng 18 xã thôn đặt làm tổng Phước Tường Ngoại; 17 xã thôn : BìnhTrung, Bình Lộc, Tứ Chánh, Trung Dõng, Phú Hội, Quảng Hội, Mậu Thạnh,Phú Cang,Tân Mỹ, Hiền Lương, Tân Đức, Mỹ Tương, Mỹ Thủy, Xuân Tự,Vinh Huề, Quảng Tân, Điệp Sơn từ Tu Bông về phía Nam làm tổng Phước Tường Nội) (5)

Như vậy vào gần cuối đời vua Thành Thái, tổng Phước Tường mới chia thành hai tổng : Phước Tường Nội và Phước Tường Ngoại.

Tên các tổng, xã, thôn…trong tỉnh Khánh Hòa thời vua Đồng Khánh (1886-1888)       

1- Huyện Phước Điền: 05 tổng, 36 xã ,thôn, ấp    

a- Tổng Thượng Châu  04 xã, thôn, ấp : x (6)Phú Cốc, x Xuân Phong Thượng, t (7)Tiên Hương, â (8) Khánh Xuân

b- Tổng Trung Châu 05 xã, thôn :   x Đại Điền, x Phú Lộc, x Phú Ân, x Phú Cấp, t Phú Nẫm

c- Tổng Phương Châu 04 xã, thôn : x Xuân Phong, x Đắc Lộc, x Như Xuân, t Hồi Xuân

d- Tổng Vĩnh Phước 05 xã :  x Bình Lộc, x Đảnh Thạnh, x Lễ Thạnh, x Phước Thành, x Phò Thiện (9)

đ-  Tổng Ninh Phước 15 xã, thôn : x Mỹ Lộc, x Đại Hữu, x Quang Thạnh, x Hội Phước, x Lương Phước, x Nghiệp Thành, x Thạnh Minh, x Trường Lạc, x Trường Thạnh, x Phú Mỹ, x Thanh Ninh, x Phước Thạnh, x Trung Giang, t Lạc Lợi, t Khánh Thành

e- Tổng Thanh Phước 03 xã :  x Võ Cạnh, x Võ Dõng, x Võ Kiện

.2 -  Huyện Vĩnh Xương 04 tổng, 55 xã, thôn, hộ

a- Tổng Thượng 08 xã, thôn, hộ : x Vĩnh Cát, x Vạn Xương, x Vạn Hội, x Bách Lộc, x Xuân Phú, t Khánh Lộc, h Khánh Bình, h Khánh Xương

b- Tổng Trung 07 xã, thôn : x Thủy Xương, x Phú Hậu, x Cư Thạnh, x  Phước Trạch, x Xuân Sơn, x Bút Sơn, t Đồng Nhơn

c- Tổng Hạ 12 xã, thôn , hộ :  x Tân Lộc, x Lập Định, t Vĩnh Niên, t Điều Lâm, t Mỹ Ca, t Nhược Đỗ, t Hiệp Mỹ, h Khánh Thọ, h (10) Khánh Nại, h Khánh Cam, h Khánh Hiệp, h Khánh Mỹ

d- Tổng Xương Hà 28 xã, thôn, hộ :  x Cửu Lợi, x Phước Hải, x Thái Thông, x Thủy Tú, x Vĩnh Châu, x Phú Vinh, x Xuân Lạc, x Vĩnh Điềm, x Phú Nhơn, x Cù Lao, t Vĩnh Hy, t Bình Ba, t Thạnh Đức, t Thủy Triều, t Đồng Xuân, t Bình Tân, t Phú Nông, t Ngọc Hội, t Đường Đệ, t Minh Huân, t Phương Câu, t Phương Sài, t Vạn Thạnh, t Trường Tây, t Trường Đông, t Trí Nguyên, t Bích Đầm, h Vĩnh Xuân

3- Huyện Quảng Phước 05 tổng, 81 xã, thôn, hộ

a- Tổng Phước Khiêm 12 xã, thôn :  x Phước Đức, x Nội Mỹ, x Phú Văn, x Phước Sơn, x Quang Đông, x Văn Định, x Phú Nghĩa, x Phước Đa, x Vạn Thiện, t Vĩnh Phú, t Ngọc Sơn, t Sơn Lộc                                                     

b- Tổng Phước Thiện 11 xã, thôn :  x Vĩnh Thạnh, x Thạch Định, x Phú Sơn, x Quảng Hương, t Mông Phú, t Bình Thái, t Cung Hòa, t Phú Gia, t Ninh Phú, t Ninh Cư, t Ninh Ích                                                                                                       

c- Tổng Phước Tường 30 xã, thôn : x Quảng Hội, x Tiên Sơn, x Bình Trung, x Phú Cang, x Quảng Tân, x Hiền Lương, x Tuần Lễ, x Trung Dõng, x Xuân Tự, x Mậu Thạnh, x Vinh Huề, x Tân Phước, x  Long Thạnh, x Tiên Nha, x Lộc Thọ, x Mỹ Đồng, x Phước Thủy, x Bình Lộc, x Hải Triều, t Diêm Điền, t Tân Mỹ, t Ninh Thái, t Tân Đức Đông, t Ninh Mã Đông, t Hội Khánh, t Tứ Chánh, t Điệp Sơn, t Ninh Thọ, t Phú Hội Tây, t Ninh Mã Tây

d- Tổng Phước Hà Nội 16  xã, thôn, hộ :  x Bằng Phước, t Chánh Thanh, t Trân Thị, t Hà Thanh, t Lễ Cam, t Đầm Vân, x  Phú Diêm, t Xuân Mỹ, t Mỹ Lệ,  t Hương ? (11), t Năng Sơn, h Ninh Sơn, t Sơn Định, t Hội Điền, t Tiên Du, t Tân Kiều 

đ- Tổng Phước Hà Ngoại 12 thôn, hộ : t Bình Tây, t Ngân Hà, t Đông (12), t Bá Hà, t  Mỹ Giang, t Vĩnh Dật, t Phú Thọ, t Mỹ Lương, t Thạnh Danh, t Thủy Đầm, t Đầm Môn, h Khải Lương

4-  Huyện Tân Định 03 tổng, 74 xã                                                                                    

a- Tổng Thân Thượng 25 xã, thôn, ấp : x Nghi Xuân, x Nhĩ Sự, t Phú Hội, T Phước Lâm, â Tân Tứ, â Tân Quý, x Đồng Hương, x Đại Cát, t Dục Mỹ, t Vân Thạch, t Thuận Lễ, t Gia Kỳ, x Tân Lâm, x Ngũ Mỹ, t Đại Tập, t Tương Lạc, x Tân Lộc, x Trường Lộc, x Tân Phong, x Vạn Hữu, t Đại Mỹ, t Phụ Đằng, t Hòa Thuận, â Tân Trúc, x Mỹ Thành

b- Tổng Hiệp Trung 22 xã, thôn : x Phú Lễ, x Bình Thạnh, x Phú Hòa, x Thạnh Mỹ, x Quang Vinh, t Tuân Thừa, x Điềm Tĩnh, x Mỹ Thạnh, x Thạch Thành, x Phụng Cang, x Phú Đa, t Bình Trị, x Nghi Phụng, x Phước Lý, x Phong Ấp, x Mỹ Hòa, t Vĩnh Phú, t Trường Châu, x Xuân Hòa, x Hương Thạnh, x Phú Lộc, x Phước Mỹ

c- Tổng Ích Hạ 27 xã, thôn, hộ : x Phong Phú, x Vạn Khê, t Vạn Phước, t Mỹ Lợi, t Ngọc Diêm, t Mỹ Thuận, x Hội Phú, x Thuận Hòa, t Mỹ Chánh, t Tân Khê, t Tân Thủy, t Tân Phú, x Thanh Châu, x Mỹ Trạch, t Phú Thứ, t Tân Ngọc, t Tam Ích, t Ninh Đức, x Hậu Phú, x Phú Hữu, t Phú Thạnh, t Cát Lợi, t Lương Sơn, h Tân Kiều, x Phong Thạnh, x Hội Bình, t Hà Liên

Như vậy theo như sách ghi chép thời vua Đồng Khánh tỉnh Khánh Hòa có 02 phủ, 04 huyện, 18 tổng, 246 xã, thôn, ấp, hộ. Trong 246 xã, thôn, ấp, hộ có 127 xã, 104 thôn, 07 ấp, 08 hộ.

Ngoài ra  Đồng Khánh dư địa chí quyển 10- tỉnh Khánh Hòa có một điểm khác với các quyển địa chí thời vua Tự Đức và Duy Tân : Có ghi tên các xã, thôn có người theo đạo Công giáo. Trong tỉnh có tất cả 30 xã thôn có người theo đạo Công giáo (những xã thôn có người Công giáo sống chung với người Lương gọi là “gián tòng tả”): “Gián tòng tả giả tam thập xã thôn, Phước Điền huyện chi Phú Cốc, Phú Lộc, Đại Điền, Phú Cấp, Phú Nẫm,Võ Cạnh, Xuân Phong, Trường Thạnh, Trường Lạc, Phước Thạnh, Lương Phước, Trung Giang; Vĩnh Xương huyện chi Ngọc Hội, Phú Nông, Phú Nhơn, Phú Vinh, Xuân Lạc, Vĩnh Châu; Quảng Phước huyện chi Phước Đa, Văn Định, Ngọc Sơn; Tân Định huyện chi Mỹ Thành, Đại Cát, Mỹ Thạnh, Xuân Hòa, Vĩnh Phước, Hội Phú, Hội Bình, Cát Lợi” (trong 30 xã thôn có người theo đạo thuộc huyện Phước Điền gồm các xã thôn: Phú Cốc, Phú Lộc, Đại Điền, Phú Cấp, Phú Nẫm, Võ Cạnh, Xuân Phong, Trường Thạnh, Trường Lạc, Phước Thạnh, Lương Phước, Trung Giang; thuộc huyện Vĩnh Xương gồm các xã thôn: Ngọc Hội, Phú Nông, Phú Nhơn, Phú Vinh, Xuân Lạc, Vĩnh Châu; thuộc huyện Quảng Phước gồm các xã thôn: Phước Đa, Văn Định, Ngọc Sơn; thuộc huyện Tân Định gồm các xã thôn:Mỹ Thành (sau đổi thành Mỹ Hoán- TG), Đại Cát, Mỹ Thạnh, Xuân Hòa, Vĩnh Phước, Hội Phú, Hội Bình, Cát Lợi). Và duy nhất chỉ có một thôn toàn tòng (xã thôn đều theo đạo Công giáo gọi là “toàn tòng”) : “Toàn tòng duy Phước Điền huyện, Tiên Hương nhất thôn nhi dĩ” (theo đạo hết thảy- Toàn tòng - chỉ có một mình thôn Tiên Hương ,ở huyện Phước Điền mà thôi). Chạy dọc theo Tỉnh lộ 8 hiện nay từ trụ cây số 4 đến trụ cây số 6 là thôn Tiên Hương trước đây. (Địa bạ Gia Long  năm 1811 gọi là thôn Na Cai, thuộc tổng Thượng,huyện Hoa Châu, phủ Diên Khánh, trấn Bình Hòa(13). Dân địa phương gọi là Nhà Gai, các nhà truyền giáo phương Tây ghi là Na Gai. Trước năm 1730 tại vùng đất Nhà Gai (Na Cai; Na Gai) đã có nhà thờ Công Giáo rồi và hiện nay địa điểm đó gọi là “ đất Nhà Thờ”. Theo cuốn “ Lịch sử truyền giáo xứ Đàng Trong (1658-1823), linh mục Launay cho biết là vào ngày 11 tháng 6 năm 1730 linh mục Charles Gouge, trong thư viết cho Linh mục M.X. (một linh mục bạn) nói rằng vào tháng 3 năm 1730 nhân ngày lễ Chúa Thăng Thiên và lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, linh mục đã đến thăm nhà thờ Hà Dừa và Nhà Gai và lưu lại ở đó 3-4 ngày và trong cuốn nhật kí của Linh mục Charles De Flory kể là vào ngày 16 tháng 4 năm 1731 Linh mục có đến thăm nhà thờ Nhà Gai- Nhà thờ do cố Giám mục Tilopolis quyên góp xây dựng(14)). Năm 1963 vùng đất chỉ còn hai hộ sinh sống mà thôi (ở phía đông hộ ông Nguyễn Cường; phía tây hộ ông Trương Nhã) và kế đến là vùng mất an ninh nên không còn hộ dân nào sinh sống nữa, dân chúng chỉ đến canh tác đất đai vào ban ngày mà thôi và địa danh Tiên Hương chỉ còn trong kí ức của những người cao niên mà thôi. Trên vùng đất thôn Tiên Hương hiện nay còn nhiều ngôi mộ cổ Công giáo to lớn bằng hồ ô dước có niên đại trên 200 năm.

Hầu như các địa danh xã, thôn thời vua Đồng Khánh vẫn còn duy trì cho tới ngày hôm nay,chỉ có một số ít địa danh biến mất trên bản đồ hành chánh , ví dụ như thôn Tiên Hương, tổng Thượng Châu; thôn Hồi Xuân ,tổng Phương Châu; xã Trung Giang ,tổng Ninh Phước…hoặc một số xã, thôn được đổi tên, ví dụ xã Bình Lộc, tổng Vĩnh Phước đổi thành Bình Khánh; xã Phước Thành, tổng Vĩnh Phước đổi thành Phước Tuy; xã Phú Mỹ, tổng Ninh Phước đổi thành Phú Khánh; xã Thanh Ninh, tổng Ninh Phước đổi thành An Ninh…

Mặc dầu Đồng Khánh dư địa chí viết về tỉnh Khánh Hòa vẫn còn thiếu sót tên của vài xã thôn (tác giả bài viết chưa phát hiện ra hết những thiếu sót, nhờ quí độc giả bổ sung thêm),nhưng có thể khẳng định đây là quyển Dư địa chí duy nhất dưới triều Nguyễn ghi gần như đầy đủ tên các tổng, xã, thôn, ấp, hộ mà thôi.

Nguyễn Văn Nghệ

Tổ dân phố Phú Lộc Tây 1 – thị trấn Diên Khánh Tỉnh Khánh Hòa 

Chú thích

1-Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí tập 03 (Người dịch Phan Trọng Điềm), Nxb Thuận Hóa, trg 90-91.                                          

2- Văn hóa tùng thư, Đại Nam nhất thống chí quyển 10&11, Tỉnh Phú Yên Khánh Hòa (Người dịch Tu Trai nguyễn Tạo), Nxb Nha Văn hóa- Bộ Văn hóa Giáo dục Việt Nam Cộng Hòa 1964, trg 62-63

3- Kiêm lý là viên Tri phủ vừa làm việc phủ ,vừa coi cả việc huyện , vì ở huyện không có viên Tri huyện

4- Thống hạt là viên Tri phủ được quyền điều khiển và kiểm soát công việc của viên Tri huyện

5- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên đệ lục kỷ phụ biên, Nxb Văn hóa- Văn nghệ, trang 416.

6-  x : xin đọc là xã

7-  t :  xin đọc là thôn

8-  â:  xin đọc là ấp

9- Tổng Vĩnh Phước chép thiếu xã An Định (nay thuộc xã Diên Phước) và xã Phước Lương (nay thuộc xã Diên Thọ).

10-  h : xin đọc là hộ

11- Chữ này tôi không nhận dạng được, nên để trống

12- Trước đây tên xã ,thôn thường ghép hai từ, nhưng thôn Đông chỉ có một từ mà thôi. Thôn Đông sau đổi thành thôn Đông Hải.

13- Nguyễn Đình Đầu, Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn- Khánh Hòa, Nxb TPHCM, 1997, trang 205-206.

14- Adrien Launay, Histoire de la mission de la Cochinchine, Documents historiques, Paris , 1924 , tập 2 , trang 8-9; 10.